TCCS - Giải phóng mặt bằng và sau giải phóng mặt bằng là một trong những vấn đề phức tạp, thậm chí nóng bỏng, bởi nó không chỉ liên quan đến phát triển kinh tế mà còn liên quan đến ổn định chính trị, giữ vững an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, Hà Nội đã và đang thực hiện rất nhiều dự án. Tính đến 31-12-2008, Thành phố thực thi 1.005 dự án, với quy mô thu hồi 13.500 ha đất, liên quan tới 186.000 tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Sáu tháng đầu năm 2009, thực hiện giải phóng 884 dự án, với thu hồi 11.900 ha đất, liên quan đến 185.700 hộ dân, tái định cư trên 18.000 hộ. Cụ thể là, trên địa bàn 14 quận, huyện thuộc Hà Nội (cũ) có 345 dự án, thu hồi 2.059,56 ha đất, liên quan đến gần 56.000 hộ dân. Trên địa bàn thuộc 14 huyện, thành phố thuộc Hà Tây (cũ) có hơn 300 dự án, cần thu hồi gần 9.000 ha đất, liên quan đến hơn 50.000 hộ dân, dự kiến phải tái định cư cho khoảng 1.000 hộ, v.v..

Những năm qua, các dự án thuộc 9 cụm công trình trọng điểm, các khu đô thị mới, các dự án phục vụ SEA Games 22, Hội nghị APEC 14,... cơ bản hoàn thành, đáp ứng yêu cầu đầu tư. Hàng loạt các đô thị mới được xây dựng, nhiều dự án phức tạp, tồn đọng kéo dài đã được giải quyết dứt điểm. Nhờ giải phóng mặt bằng mà Hà Nội đã có môi trường đầu tư hấp dẫn, triển khai được nhiều dự án lớn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tạo sự biến đổi cơ bản diện mạo Thủ đô, đồng thời cơ cấu lại đô thị cũng như cấu trúc dân cư.

Tuy nhiên, việc giải phóng mặt bằng phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô vẫn đang đối mặt với không ít các vấn đề nan giải, khó khăn, bức xúc trong khi các chủ trương, chính sách lại chưa đồng bộ, chưa thật sự phù hợp và nếu không giải quyết kịp thời, kiên quyết, dứt điểm sẽ gây những thiệt hại không đáng có về kinh tế, mà còn gây tiềm ẩn nguy cơ về mất ổn định trật tự xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân.

Có thể khái quát những vấn đề nổi cộm trong quá trình giải phóng mặt bằng và sau giải phóng mặt bằng ở Hà Nội như sau:

Một là, việc xác định các trường hợp đất thuộc diện được bồi thường, hỗ trợ hay không đối với những trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất chưa được quy định cụ thể, khiến cho các địa phương lúng túng và tùy tiện trong áp dụng trên thực tế. Chính sách giá đền bù giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập, cần phải nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện. Giá đất để tính bồi thường được tính theo Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, ngày 27-1-2006, của Chính phủ; các địa phương áp dụng giá do ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Theo đánh giá, giá đó mới chỉ bằng 60 - 70% giá đất thực tế trên thị trường. Trong khi đó, địa tô chênh lệch phần lớn Nhà nước và người dân không được hưởng. Đây là một trong những vấn đề gây nhiều bức xúc nhất trong công tác giải phóng mặt bằng và sau giải phóng mặt bằng không chỉ ở Hà Nội.

Hai là, việc dạy nghề và các chính sách hỗ trợ các hộ dân chuyển đổi nghề nghiệp, phát triển kinh tế, ổn định đời sống gặp nhiều khó khăn trong tổ chức thực hiện, song hành với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất. Vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho người dân sau khi thu hồi đất còn nhiều bất cập.

Ba là, còn nhiều vướng mắc đối với việc bố trí tái định cư cho các hộ có đất thu hồi. Nhiều khu tái định cư không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ. Vấn đề chất lượng nhà tái định cư, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong các khu tái định cư, khu đô thị mới chưa đồng bộ... Chưa có sự kết nối hạ tầng các khu tái định cư, các khu đô thị mới với các vùng dân cư chung quanh. Các yếu tố liên quan đến đời sống tinh thần của người dân tái định cư như phong tục, đời sống, tập quán, mối quan hệ gia đình, họ hàng, làng xã truyền thống còn chưa được tính đến một cách triệt để trong xây dựng khu tái định cư, khu đô thị mới.

Bốn là, các dự án chậm thực hiện hoặc dự án không thực hiện được dẫn đến tình trạng nhiều đất đai bị bỏ hoang, lãng phí sau khi giải phóng mặt bằng. Do thiếu quy hoạch tổng thể, phê duyệt và cấp giấy phép tràn lan trước ngày Thủ đô mở rộng khiến cho mất cân đối về phân bổ các đồ án quy hoạch, các dự án đầu tư một cách trầm trọng. Kết quả rà soát sơ bộ 772/1.005 đồ án, dự án đầu tư sử dụng 76.695 ha đất tại Hà Nội cho thấy, sau hợp nhất có một số lượng lớn dự án chưa phù hợp, quy mô và mục đích sử dụng đất bất hợp lý; quá nhiều dự án bất động sản có kết cấu hạ tầng giao thông chưa đồng bộ; quy trình, thủ tục phê duyệt, thẩm định dự án chưa chặt chẽ v.v.. Đó là chưa kể không ít chủ đầu tư không đủ năng lực hoặc chỉ có mục đích “ôm đất” khiến cho nhiều dự án được phê duyệt, giao đất hằng năm trời mà vẫn “án binh bất động”.

Xuất phát vì mục tiêu, định hướng phát triển chung, quy hoạch của Thủ đô, nhiều người dân và gia đình của họ phải hy sinh lợi ích của cá nhân, gia đình mình, chấp nhận sự đảo lộn trong làm ăn, sinh sống vì sự phát triển chung của Thủ đô, của đất nước, nhưng việc đổi mới chính sách phù hợp để giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và cá nhân, giữa lợi ích công cộng và lợi ích riêng tư, đáp ứng yêu cầu chính đáng của người dân v.v.. lại chưa được chú ý thỏa đáng.

Để giải quyết thực trạng trên và bảo đảm yêu cầu, hiệu quả công tác giải phóng mặt bằng và sau giải phóng mặt bằng, các cấp, các ngành Hà Nội đang tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, việc này trở thành một trong những nhiệm vụ cấp bách trong chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô. Cụ thể là, chiếm vị trí xứng đáng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, trong chiến lược phát triển vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng và vùng trọng điểm đồng bằng Bắc Bộ nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhưng vẫn lưu giữ, tôn vinh những nét văn hóa tinh hoa của Thủ đô ngàn năm văn hiến.

Thứ hai, chú ý xử lý vấn đề trên cơ sở thực hiện hài hòa các lợi ích; chú trọng lợi ích người dân, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích Nhà nước, đáp ứng lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp, bảo đảm cho người dân có đất bị thu hồi có cuộc sống ổn định, được hưởng lợi từ chính việc bàn giao mặt bằng như đường giao thông và công trình phục vụ công cộng (nhà trẻ, trường học, mẫu giáo, siêu thị, công viên, nhà văn hóa...). Không ngừng chú ý công năng sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và lợi nhuận lâu dài từ đất, đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô nhanh, bền vững theo hướng bảo đảm hài hòa cả kinh tế, xã hội, môi trường. Nhưng phát triển nhanh, bền vững không được phá vỡ quy hoạch chung, gắn kết các vành đai xanh, các hồ nước, công viên, giữa hiện đại và cổ kính, giữa cũ và mới. Quy hoạch chung phải được thực hiện trong từng dự án, đề án cụ thể trên các mặt: sử dụng đất, xây dựng các khu công nghiệp, khu tái định cư, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng v.v..

Thứ ba, bảo đảm công khai, dân chủ, minh bạch, đúng pháp luật. Phải tuân thủ đúng quy định của Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai một cách thống nhất; đúng thẩm quyền, chức năng quản lý của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước; bảo đảm tính kế thừa, ít bị xáo trộn, dễ làm, hạn chế tối đa việc phải tra cứu, áp dụng nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình thực hiện dự án. Yêu cầu đặt ra là, người dân phải được cung cấp đầy đủ các thông tin về nội dung liên quan đến các chính sách giải phóng mặt bằng như: giá cả đền bù, chính sách hỗ trợ việc làm, phương án giải quyết, trách nhiệm của chủ đầu tư v.v.. Công khai về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân, công khai trong Đảng, chính quyền và trong nhân dân qua các cuộc họp tổ dân phố, qua báo chí và tiếp nhận, giải thích trước qua dư luận xã hội.

Thứ tư, bảo đảm tính đồng bộ, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống chính trị ở cơ sở trên sự phân tích cụ thể hiệu quả, tính lịch sử, văn hóa từng địa phương, từng dự án. Tính đồng bộ khi giải quyết vấn đề sau giải phóng mặt bằng phải chú ý tới tất cả các khía cạnh: rà soát các chính sách, sửa đổi, hoàn thiện cơ chế về giá cả đền bù, công tác tái định cư, chăm lo đời sống, công ăn việc làm cho người dân, bảo vệ môi trường và liên quan đến công việc của nhiều cấp, nhiều ngành. Vì vậy, tùy từng vấn đề, từng dự án mà các sở, ban ngành của thành phố, các phòng, ban ở quận, huyện, thị trấn, phường xã với chức năng nhiệm vụ của mình, cần tích cực, chủ động hoàn thành công việc được phân công, phụ trách. Sử dụng sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, từ cung cấp thông tin đến giải thích, hướng dẫn, tạo sự đồng thuận. Phân công trách nhiệm cụ thể, rõ người, rõ việc, có thời gian, lộ trình, bước đi thích hợp; đôn đốc kiểm tra, giám sát cả về chuyên môn lẫn trách nhiệm đối với công việc của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ, khen thưởng và xử phạt rõ ràng.

Thứ năm, tiếp tục triển khai chính sách hỗ trợ ổn định đời sống, đào tạo, chuyển đổi nghề, lao động việc làm cho người dân bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao với mục tiêu: Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm cho mọi người dân trong vùng bị thu hồi đất có điều kiện ổn định cuộc sống, được học nghề, chuyển đổi nghề để có việc làm ổn định; mọi lao động nông nghiệp trong các hộ gia đình khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp được giao được hỗ trợ đời sống, phổ cập giáo dục, học nghề, chuyển nghề để có thu nhập ổn định và tốt hơn trước khi bị thu hồi đất, theo Quyết định số 2526/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố, ngày 1-7-2008 về việc phê duyệt Đề án “Một số giải pháp hỗ trợ ổn định đời sống, học tập, dạy nghề và việc làm cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp” .

Để thực hiện mục tiêu trên, Thành phố đã thành lập Quỹ hỗ trợ đời sống, phổ cập giáo dục, học nghề và việc làm cho các hộ dân bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp được giao với nội dung: chi hỗ trợ học tập; trợ cấp khó khăn; chi hỗ trợ học nghề; xây dựng ban hành quy chế ưu tiên đấu thầu kinh doanh các dịch vụ tại các khu đô thị, khu công nghiệp mới hình thành; xã hội hóa các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị và khu công nghiệp khi xây dựng trên đất nông nghiệp chuyển đổi; đổi mới cơ chế đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở nông thôn tại các khu thu hồi nhiều đất nông nghiệp; đầu tư xây dựng các khu đô thị tái định cư (bảo đảm về quy mô diện tích phải trên 50 ha trở lên; bảo đảm đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; có trung tâm thương mại, các công trình phục vụ sinh hoạt cộng đồng...).