Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
TCCS - Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ trọng yếu, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi trọng sức khỏe nhân dân, là ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Đảng xác định công bằng, chất lượng, hiệu quả là quan điểm xuyên suốt, định hình chiến lược và hoạt động của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Quan điểm nền tảng về quyền được chăm sóc sức khỏe đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định như một trong những quyền cơ bản của con người. Người chủ trương xây dựng một nền y học Việt Nam mang đậm tính “khoa học, dân tộc và đại chúng”(1), từ đó định hình nguyên tắc không phân biệt đối xử trong tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo đảm mọi công dân Việt Nam đều có quyền thụ hưởng sự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe một cách bình đẳng. Khẳng định trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, Người nhấn mạnh: “Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi”(2).
Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi sức khỏe nhân dân là mối quan tâm thường xuyên và là trách nhiệm của toàn xã hội. Văn kiện Đảng qua các kỳ đại hội, nhất là Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, “Về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” đã thể hiện tư duy chiến lược, không chỉ nhìn nhận bảo vệ, chăm sóc sức khỏe dưới góc độ phúc lợi xã hội, là một động lực tăng trưởng, một yếu tố cấu thành nên sự phát triển bền vững của đất nước. Đây là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, nhằm nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho nhân dân, trong đó, tập trung vào những quan điểm chính sau:
Vấn đề công bằng trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Quan điểm công bằng trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ là mục tiêu nhân đạo mà còn là một nguyên tắc chỉ đạo mang tính chiến lược. Trong bối cảnh một quốc gia đang phát triển với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thay vì sự cào bằng tuyệt đối, Đảng chủ trương xây dựng một hệ thống y tế công bằng xã hội, nghĩa là tạo ra những cơ hội và điều kiện để mọi người dân, không phân biệt địa vị, hoàn cảnh, đều có thể tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu, đạt chuẩn chất lượng tối thiểu. Trọng tâm chiến lược là bảo đảm tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản và chất lượng cho toàn bộ cộng đồng. Đồng thời, sự ưu tiên mang tính nguyên tắc “bảo đảm cung cấp và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là đối với người nghèo, người yếu thế trong xã hội, quan tâm chăm sóc bảo vệ sức khoẻ của nhân dân”(3). Các chính sách hỗ trợ đặc biệt, từ miễn giảm chi phí khám, chữa bệnh đến phát triển mạng lưới y tế tại các vùng khó khăn.
Để hiện thực hóa quan điểm công bằng, Đảng lãnh đạo Nhà nước triển khai nhiều giải pháp đồng bộ và toàn diện. Từ việc củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ y tế, đến việc ban hành các chính sách hỗ trợ tài chính, đẩy mạnh xã hội hóa y tế và tăng cường hợp tác quốc tế. Tất cả đều hướng tới mục tiêu là xây dựng hệ thống y tế Việt Nam vừa tiên tiến, hiện đại, vừa mang đậm tính nhân văn, công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho mọi người dân.
Về chất lượng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đảng ta luôn xác định chất lượng là yếu tố then chốt trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, gắn liền với nguyên tắc công bằng xã hội. Để hiện thực hóa quan điểm này, hai nhân tố nền tảng được đặc biệt chú trọng: con người và cơ sở vật chất. Yếu tố con người được xem là yêu cầu hàng đầu, đòi hỏi đội ngũ cán bộ y tế phải có năng lực chuyên môn sâu rộng và y đức trong sáng. Nghị quyết số 20-NQ/TW đã khẳng định: “Nghề y là một nghề đặc biệt. Nhân lực y tế phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”(4). Cùng với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, việc hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được xác định là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đảng và Nhà nước đã và đang tập trung đầu tư, nâng cấp hệ thống hạ tầng y tế trên phạm vi toàn quốc, trong đó đặc biệt ưu tiên các vùng sâu, vùng xa, khu vực khó khăn. Đồng thời, các cơ sở y tế từng bước được trang bị thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đáp ứng yêu cầu chẩn đoán và điều trị ngày càng cao, góp phần nâng cao hiệu quả khám, chữa bệnh cho nhân dân.
Để không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, Đảng và Nhà nước xác định các định hướng chiến lược bao gồm: Đổi mới toàn diện công tác đào tạo nhân lực y tế; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ cao; hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng và các cơ chế giám sát; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của các cơ sở y tế; mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp thu tri thức và công nghệ tiên tiến.
Hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được thể hiện toàn diện qua các phương diện sau:
Thứ nhất, về quản lý và phân bổ nguồn lực, tăng cường đầu tư và đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại ngân sách nhà nước trong lĩnh vực y tế để có nguồn lực triển khai toàn diện công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là đối với các đối tượng chính sách, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, biên giới, hải đảo.
Thứ hai, trong tổ chức và vận hành hệ thống, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý y tế các cấp, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và điều hành hoạt động của các cơ sở y tế, nhằm giảm thiểu lãng phí thời gian và nguồn lực.
Thứ ba, trong cung ứng dịch vụ, khuyến khích các cơ sở y tế không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào chẩn đoán và điều trị, rút ngắn thời gian điều trị, nâng cao tỷ lệ chữa khỏi bệnh, giảm thiểu biến chứng và chi phí cho người bệnh.
Thứ tư, trong phòng bệnh và nâng cao sức khỏe, quán triệt quan điểm “phòng bệnh hơn chữa bệnh; y tế dự phòng là then chốt”(5), tăng cường công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân, đồng thời triển khai các chương trình phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm hiệu quả.
Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần cải thiện đáng kể sức khỏe, tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Hệ thống bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được củng cố, phát triển theo hướng hiện đại và hội nhập. Thông qua đầu tư của Nhà nước, huy động xã hội hoá và các dự án viện trợ nước ngoài, các bệnh viện tuyến trung ương và tỉnh được đầu tư nâng cấp về cơ sở vật chất, trang thiết bị và ứng dụng các kỹ thuật y học hiện đại, như ghép tạng, phẫu thuật tim hở, mổ nội soi robot, điều trị ung thư bằng xạ trị gia tốc và tế bào gốc. Các đề án lớn như Đề án giảm quá tải bệnh viện và Đề án bệnh viện vệ tinh đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực chuyên môn, từng bước khắc phục tình trạng quá tải và giảm sự chênh lệch chất lượng khám, chữa bệnh giữa các tuyến, các vùng miền. Bên cạnh đó, mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố với mạng lưới hơn 11.000 trạm y tế xã trên toàn quốc. Công tác y tế dự phòng được triển khai hiệu quả, góp phần kiểm soát dịch bệnh, nâng cao ý thức cộng đồng trong phòng, chống bệnh tật, nhất là trong bối cảnh diễn biến khó lường của các dịch bệnh truyền nhiễm mới nổi.
Nguồn nhân lực được phát triển cả về số lượng và chất lượng; khoa học - công nghệ được đẩy mạnh trong nghiên cứu và ứng dụng. Đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo, bồi dưỡng toàn diện về chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng thực hành. Nhiều chương trình tăng cường nhân lực đến vùng sâu, vùng xa đã góp phần quan trọng trong việc đưa bác sĩ đến gần dân hơn, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại cơ sở. Chuyển đổi số trong y tế cũng ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực: 100% số bệnh viện tuyến Trung ương và tỉnh ứng dụng phần mềm quản lý bệnh viện; gần 70% số bệnh viện sử dụng bệnh án điện tử; 65% dân số có hồ sơ sức khỏe cá nhân. Các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, phẫu thuật bằng robot, nền tảng khám, chữa bệnh từ xa được ứng dụng ngày càng sâu rộng, tạo tiền đề để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động khám, chữa bệnh trong thời đại số.
Các chỉ số sức khoẻ được cải thiện. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng từ 72,9 tuổi (năm 2010) lên 73,7 tuổi (năm 2023), đạt 74,7 tuổi vào năm 2024, vượt chỉ tiêu 74,5 tuổi đặt ra cho năm 2025.Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể trong những năm qua: Tỷ suất tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 15,8‰ (năm 2010) xuống còn 11,6‰ (năm 2023)(6). Việt Nam là một trong số ít quốc gia ở khu vực đạt thành tựu nổi bật trong phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm: đã thanh toán bệnh bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh, kiểm soát tốt HIV/AIDS và đang tiến tới loại trừ các bệnh nguy hiểm khác như lao, sốt rét.
Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ, thực tiễn cho thấy việc hiện thực hóa đầy đủ ba trụ cột công bằng, chất lượng, hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Sự chênh lệch giữa các vùng, miền về tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng vẫn còn tồn tại. Tình trạng quá tải cục bộ tại một số bệnh viện tuyến cuối chưa được khắc phục triệt để. Một số nơi còn thiếu nhân lực y tế chuyên sâu, đặc biệt ở tuyến huyện, xã; hệ thống dữ liệu y tế số chưa đồng bộ, gây khó khăn cho công tác quản lý và điều hành. Ngoài ra, các cơ chế, chính sách tài chính và tự chủ bệnh viện vẫn còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến tính hiệu quả và bền vững của hệ thống y tế công.
Một số giải pháp đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong thời gian tới
Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, cùng với những tác động sâu sắc từ quá trình già hóa dân số, đô thị hóa nhanh, biến đổi khí hậu và nguy cơ dịch bệnh phức tạp, yêu cầu đặt ra cho công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng cao. Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09-9-2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân” nêu rõ: “Đổi mới toàn diện với các giải pháp đột phá để hướng đến mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, ý thức bảo vệ sức khỏe và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới”(7). Như vậy, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh ba quan điểm lớn, mang tính nguyên tắc trong chỉ đạo phát triển y tế là: công bằng, chất lượng và hiệu quả. Đây không chỉ là định hướng chính trị, mà còn là thước đo thể hiện rõ tính nhân văn, bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của Nhân dân; xây dựng một hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả, hội nhập quốc tế; hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho mọi người dân”(8). Để thực hiện tốt định hướng trên, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp:
Một là, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về y tế. Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về y tế, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, phù hợp với thực tiễn. Trong đó, cần tập trung tăng cường quản lý chất lượng dịch vụ y tế, bảo vệ quyền lợi của người bệnh, làm rõ trách nhiệm của các bên liên quan và thúc đẩy phát triển y tế tư nhân. Hoàn thiện các quy định về bảo hiểm y tế, hướng tới mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân, bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm y tế, đồng thời tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả quỹ bảo hiểm y tế. Xây dựng và hoàn thiện các chính sách về y tế dự phòng, y tế cơ sở, y tế chuyên sâu, phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh xã hội hóa và ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế...
Hai là, đổi mới cơ chế tài chính y tế. Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho y tế, bảo đảm công bằng, hiệu quả, minh bạch. Tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho y tế, bảo đảm đủ nguồn lực để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Ưu tiên đầu tư cho y tế cơ sở, y tế dự phòng, các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm thu hẹp khoảng cách về tiếp cận và chất lượng dịch vụ y tế giữa các vùng miền. Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập một cách hợp lý, có lộ trình, bảo đảm quyền tự chủ gắn liền với trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch. Xây dựng và thực hiện lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí, công khai, minh bạch, phù hợp với khả năng chi trả của người dân và quỹ bảo hiểm y tế. Hoàn thiện cơ chế thanh toán bảo hiểm y tế, bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế. Đẩy mạnh xã hội hóa y tế, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động y tế cộng đồng, phòng, chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu, hỗ trợ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận dịch vụ y tế.
Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đổi mới căn bản, toàn diện công tác đào tạo nhân lực y tế, từ chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo đến cơ chế tuyển sinh, đánh giá, bảo đảm chất lượng đầu ra đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và hội nhập quốc tế. Tăng cường đào tạo liên tục, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng cho cán bộ y tế, đặc biệt là ở tuyến cơ sở, nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ y tế. Xây dựng và thực hiện các chính sách thu hút, đãi ngộ, tôn vinh, giữ chân cán bộ y tế giỏi, có trình độ chuyên môn cao, có y đức, làm việc ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo. Tăng cường đào tạo nhân lực y tế có trình độ chuyên môn cao, có khả năng làm chủ các kỹ thuật y tế tiên tiến, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển y tế chuyên sâu. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực y tế, trao đổi giảng viên, sinh viên, học viên, tiếp thu kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến của các nước.
Bốn là, phát triển y tế cơ sở và y tế dự phòng. Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, bảo đảm mỗi xã, phường, thị trấn có trạm y tế hoạt động hiệu quả, đủ năng lực cung cấp các dịch vụ y tế ban đầu, quản lý sức khỏe người dân tại cộng đồng. Tăng cường nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc thiết yếu cho y tế cơ sở, bảo đảm đủ điều kiện hoạt động. Nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ của y tế cơ sở, bao gồm cả khám, chữa bệnh thông thường, quản lý sức khỏe cá nhân và gia đình, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, phòng, chống dịch bệnh, truyền thông, giáo dục sức khỏe... Xây dựng và triển khai mô hình bác sĩ gia đình, chăm sóc sức khỏe tại nhà, đặc biệt là cho người cao tuổi, người khuyết tật, người mắc bệnh mạn tính. Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe tại cộng đồng, nâng cao nhận thức, kiến thức và kỹ năng của người dân về tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, phòng chống bệnh tật. Tăng cường công tác y tế dự phòng, chủ động phòng, chống dịch bệnh, kiểm soát các yếu tố nguy cơ gây bệnh, nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Năm là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và hợp tác quốc tế trong chăm sóc sức khỏe. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin y tế quốc gia, bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở y tế, các cấp quản lý, phục vụ công tác quản lý, điều hành, nghiên cứu khoa học và cung cấp thông tin cho người dân. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện, quản lý khám, chữa bệnh, quản lý bảo hiểm y tế, quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử, quản lý dược, vật tư y tế... Phát triển các dịch vụ y tế từ xa (telemedicine), tư vấn sức khỏe trực tuyến, hỗ trợ chẩn đoán và điều trị từ xa, đặc biệt là cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, giúp họ tiếp cận được các dịch vụ y tế có chất lượng. Đồng thời, mở rộng hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế (WHO, WB, ADB, UNICEF...), các tổ chức phi chính phủ... để tranh thủ nguồn lực tài chính, kỹ thuật, kinh nghiệm, công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực y tế. Tham gia tích cực vào các hoạt động y tế toàn cầu, khu vực, các diễn đàn, hội nghị quốc tế về y tế, chia sẻ kinh nghiệm và đóng góp vào các nỗ lực chung trong bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực y tế, trao đổi giảng viên, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh, tiếp thu kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến của các nước có nền y học phát triển./.
----------------------------
(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, t. 9, tr. 344, 518
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 48
(4), (5) Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới”
(6) Báo cáo số 11/BC-BYT, ngày 4-1-2024, của Bộ Y tế về tổng kết công tác y tế năm 2023 và nhiệm vụ, giải pháp năm 2024
(7) Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09-9-2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân”
(8) Thông báo số 176-TB/VPTW, ngày 25-4-2025, của Văn phòng Trung ương Đảng “Về Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với đại diện Đảng ủy Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương về công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân và định hướng công tác thời gian tới”
Sự phát triển quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ an ninh quốc gia và việc vận dụng trong tình hình mới  (11/03/2025)
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự chương trình gặp mặt “Mừng Đảng quang vinh, mừng Xuân Ất Tỵ 2025”  (03/02/2025)
Mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Pháp: Nền tảng góp phần phát triển quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Pháp  (24/12/2024)
Tư duy lý luận của Đảng về xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay  (01/12/2024)
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
- Gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
- Điểm mới về xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức trong nền kinh tế số qua dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm