Phát triển sản xuất nông nghiệp bảo đảm an ninh lương thực trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam
An ninh lương thực quốc gia luôn là vấn đề quan trọng, thiết yếu của đất nước trong mọi thời kỳ, đặc biệt khi nguồn cung luôn chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, an ninh nguồn nước, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa... Với ý nghĩa đó, việc đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp không chỉ bảo đảm an ninh lương thực cho người dân mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, đóng góp lớn vào nền kinh tế quốc dân. Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, mọi lĩnh vực đều bị tác động nặng nề, nhưng Đảng và Chính phủ Việt Nam với những quan điểm tiếp cận mới, xu thế mới, giá trị mới, xoay quanh ba trụ cột: “nông nghiệp sinh thái”, “nông thôn hiện đại”, “nông dân thông minh” đã đề ra chiến lược và sách lược phát triển nông nghiệp trong bối cảnh mới. Do đó, ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn giữ được vai trò là “trụ đỡ” quan trọng cho nền kinh tế, với việc an ninh lương thực bảo đảm, tốc độ tăng trưởng của ngành đạt 2,85% (ước tính năm 2021) và đóng góp lớn vào mức tăng chung của nền kinh tế quốc dân.
Vai trò của an ninh lương thực trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Thực tiễn quá trình xây dựng và phát triển của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đã chứng minh, việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia góp phần quan trọng ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân. Trong tâm thức của người Việt Nam, câu nói “dân dĩ thực vi tiên” (hiểu theo nghĩa hẹp là “dân lấy cái ăn là trước hết”, hiểu rộng hơn là cần phải bảo đảm các nhu cầu cơ bản cho cuộc sống của người dân) luôn đúng trong mọi thời kỳ lịch sử. Hiện nay, đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhưng nông nghiệp luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm hàng đầu nhằm đáp ứng nguồn lương thực, thực phẩm, đảm bảo điều kiện sống ngày càng tốt hơn của người dân.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương đã chủ trương đẩy mạnh sản xuất, xây dựng và phát triển kinh tế kháng chiến, trong đóchú trọng sản xuất nông nghiệp - nguồn lực quan trọng bảo đảm cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp vĩ mô như bãi bỏ các thứ thuế vô lý trước đó, giảm tô, giảm thuế, tạm cấp ruộng đất bỏ hoang cho nông dân đồng thời kêu gọi thi đua đẩy mạnh tăng gia sản xuất với khẩu hiệu “tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa” rộng khắp trên cả nước như một giải pháp lâu dài khắc phục nạn đói và đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Năm 1975, ngay sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng và Chính phủ Việt Nam bắt tay vào việc khôi phục sản xuất nông nghiệp. Phong trào phát triển sản xuất nông nghiệp giai đoạn này được đẩy mạnh gắn với vai trò quản lý của hợp tác xã và điều phối hệ thống thương nghiệp quốc doanh nên đã hạn chế được nạn đầu cơ, tích trữ và hỗn loạn về giá cả, cơ bản giúp người dân không bị thiếu lương thực, thực phẩm và từng bước ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tiềm ẩn và bùng phát trong những năm 80 của thế kỷ XX một phần lớn là do sản xuất nông nghiệp không đủ tiêu dùng trong nước, hằng năm phải nhập khẩu một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm từ các nước. An ninh lương thực của quốc gia bị đe doạ nghiêm trọng dẫn tới những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội.
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1986), đất nước bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, trong đó nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ trương của Đảng thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn đã khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo của nông dân để phát triển sản xuất nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đưa Việt Nam từ nước thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Đảng và Nhà nước cónhiều chính sách ưu đãi đặc thù hỗ trợ cho ngành lúa gạo của như cơ chế hỗ trợ lãi suất, nâng hạn mức vay vốn ngân hàng cho kinh tế nông nghiệp, tăng cường sản xuất các giống lúa chất lượng để nâng cao giá trị xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị thường thế giới…
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng năm 1996 đã khẳng định đất nước thoát khỏi khủng hoảng, bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sau đó không bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng khu vực những năm 1997 - 1998. Thành công quan trọng một phần là do an ninh lương thực được đảm bảo vững chắc, sản xuất nông nghiệp đã đủ dùng trong nước, có tích lũy trong nội bộ nền kinh tế và hướng xuất khẩu các mặt hàng lương thực, thực phẩm sang nhiều quốc gia với khối lượng lớn, đứng thứ hạng cao trên thế giới. Thành tựu mà nông nghiệp đạt được có thể coi là thần kỳ, góp phần xóa đói giảm nghèo, thay đổi bộ mặt nông thôn... làm cho nông nghiệp, nông thôn Việt Nam “cất cánh”.
Trên đà thắng lợi đó, Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 5-8-2008 của Hội nghị Trung ương 7 khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã nhấn mạnh "Vấn đề an ninh lương thực quốc gia phải nằm trong chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, gắn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Đây là một định hướng hoàn toàn đúng đắn và cấp thiết trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả định hướng này đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân bởi từ quan điểm đến triển khai là một quãng đường dài.
Ngay từ năm 2009, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 53-KL/TW về Đề án An ninh lương thực quốc gia đến năm 2020, khẳng định: “An ninh lương thực là vấn đề trọng đại của đất nước trước mắt cũng như lâu dài… thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn, sản xuất lương thực, thực phẩm góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội và ổn định chính trị của đất nước”(1). Trong những năm gần đây,Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn về bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, góp phần quan trọng ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân, nhất là ở khu vực nông thôn. Năm 2000, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt gần 3,5 triệu tấn, tăng hơn 26 lần so với năm 1986; đến năm 2015, sản lượng lúa gạo đạt 45,2 triệu tấn, tăng 13 lần so với năm 2000. Việt Nam đã vươn lên vị trí nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới, với sản lượng gạo xuất khẩu bình quân 6 - 7 triệu tấn/năm(2). Theo số liệu do Liên hợp quốc công bố ngày 16-10-2010 trên thế giới có khoảng 1 tỉ người thiếu lương thực. Còn theo các báo cáo của FAO, khu vực có số người đói nhiều nhất là châu Á - Thái Bình dương với 578 triệu người. Những con số này đã cho thấy thành công của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Năm 2020, Chính phủ đã tổ chức Hội nghị trực tuyến tổng kết 10 năm thực hiện Đề án An ninh lương thực quốc gia đến đã khẳng định: 12 chỉ tiêu đã đạt và vượt so với mục tiêu đề ra trong đề án, trong đó đáng chú ý diện tích đất lúa cả nước năm 2018 đạt trên 4,159 triệu ha (vượt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết là 3,76 triệu ha); sản lượng lúa năm 2019 đạt 43,4 triệu tấn (vượt mục tiêu đề ra 41- 43 triệu tấn); xuất khẩu gạo năm 2019 đạt 6,34 triệu tấn (vượt mục tiêu đề ra 4 triệu tấn(3). Để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia trong tình hình mới, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, Đảng Cộng sảnViệt Nam đã có Kết luận số 81-KL/TW ngày 29 tháng 7 năm 2020 của Bộ Chính trị về "Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030”, xác định: bảo đảm an ninh lương thực quốc gia là nhiệm vụ thường xuyên quan trọng góp phần bảo đảm sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước, là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước(4).
Nhìn lại thực tiễn phát triển của đất nước trong thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, có thể khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được vai trò của an ninh lương thực đối với sự ổn định và phát triển kinh tế, xã hội. Từ đó, Đảng đã đề ra được những chủ trương phù hợp nhằm khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo của nông dân trong sản xuất nông nghiệp nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Sự lãnh đạo của Đảng là một trong những nhân tố quan trọng đưa nông nghiệp Việt Nam vượt qua những thăng trầm để phát huy những lợi thế của một nước nông nghiệp nhiệt đới.
Phát triển sản xuất nông nghiệp bảo đảm an ninh lương thực trong bối cảnh đại dịch COVID-19
Từ năm 2020, đại dịch COVID-19 đã chịu tác động lớn ở tất cả các ngành, các lĩnh vực sản xuất của các quốc gia trên thế giới, gây thiệt hại không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế. Đối với Việt Nam, dịch bệnh càn quét khiến cho việc sản xuất, kinh doanh của các ngành nghề bị gián đoạn nặng nề. Hàng ngàn nhà máy đóng cửa hoặc cắt giảm sản xuất, ngành du lịch “đóng băng” trong thời gian dài… Trong lĩnh vực nông nghiệp, đại dịch toàn cầu đã làm đứt gãy kết nối thương mại nông sản giữa hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, trong mọi biến cố của nền kinh tế, nông nghiệp càng thể hiện rõ vị thế “trụ đỡ”, bởi vai trò đảm bảo an ninh lương thực do chính quá trình sản xuất nông nghiệp tạo ra.Sản xuất nông nghiệp vẫn được duy trì và phát triển, đem lại an sinh cho xã hội, giúp người nông dân có thể ổn định cuộc sống và tâm lý trong đại dịch COVID-19, đồng thời tạo ra giá trị cốt lõi trong việc đảm bảo an ninh lương thực của quốc gia. “Tam nông” (nông nghiệp, nông thôn, nông dân), vì thế mà luôn khẳng định được vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tế, cũng như trong quá trình phát triển đất nước.Điều đó chứng tỏ, “phi nông bất ổn” luôn là chân lý vững chắc trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kể cả khi nền kinh tế bị gặp phải khó khăn và biến động mạnh mẽ nhất.
Năm 2020 là một năm có nhiều biến động bất thường ở Việt Nam do thiên tai khốc liệt và dịch bệnh, đã gây thiệt hại lớn về tài sản và ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt,dịch bệnh diễn ra ở khắp các tỉnh thành và lên tới cao điểm từ giữa năm 2021 đến đầu năm 2022 đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như hoạt động tiêu thụ, xuất khẩu nông sản.
Trong bối cảnh đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã đề ra chiến lược biến nguy cơthành thời cơ và tiếp tục phát huy những lợi thế sẵn có về các sản phẩm nông sản chủ lực. Ngành nông nghiệp đã tìm ra hướng thích nghi và có nhiều điểm sáng toàn diện. Do đó, nông nghiệp đã đạt được những kết quả tích cực trên lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu, mở ra nhiều kỳ vọng phát triển mới trong bối cảnh đại dịch còn diễn biến phức tạp và khó lường.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp công nghệ cao được đẩy mạnh gắn liền với liên kết doanh nghiệp và phát triển thương mại, dịch vụ nông nghiệp, đã thu hút mạnh mẽ đầu tư của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp lớn. Cơ cấu nội ngành nông nghiệp được cấu trúc lại theo hướng phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh nông sản, nâng cao các sản phẩm chủ lực, đặc biệt là các sản phẩm lương thực, thực phẩm mà Việt Nam có thế mạnh như lúa gạo, cây ăn quả…; bảo vệ môi trường, sinh thái; nâng cao thu nhập cho người dân ở khu vực nông thôn.
Dù gặp rất nhiều khó khăn do làn sóng dịch COVID-19 gây ra, nhưng nhiều chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh của ngành nông nghiệp vẫn đạt và vượt kế hoạch đề ra. Nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Với quyết tâm cao, nỗ lực vươn lên, bằng các giải pháp thích ứng an toàn, linh hoạt, sáng tạo, ngành nông nghiệp đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức từ các “tình huống bất bình thường” của thực tiễn sản xuất kinh doanh nhằm đạt các mục tiêu phát triển ngành.
Nhìn vào bảng thống kê (xem Bảng 1), phân tích số liệu cho thấy: giá trị gia tăng toàn ngành đạt mức từ 2,01% - 3,76%; trong đó riêng nông nghiệp đạt mức từ 2.07% - 3,18%, năm 2019 chỉ đạt 0,61%; ngành lâm nghiệp đạt mức từ 2,82 – 6,01%, ngành thủy sản đạt mức từ 1,85% - 6,46%. Điểm nổi bật là trong 2 năm (năm 2020 và năm 2021), do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 dẫn đến rất nhiều biến động trong nền kinh tế nhưng toàn ngành nông nghiệp luôn giữ được giá trị gia tăng ở mức ổn định, riêng ngành nông nghiệp đạt mức cao nhất (năm 2021 đạt 3,18%) qua 5 năm (2017-2021). Đối với ngành thuỷ sản, vùng sản xuất trọng điểm phía Nam là nơi phải giãn cách xã hội trong thời gian dài, các nhà máy có công suất và hiệu quả sản xuất thấp nhưng các doanh nghiệp đều nhanh chóng thích ứng, vừa chống dịch vừa đẩy mạnh sản xuất tận dụng cơ hội nhu cầu thị trường tăng, giá tốt. Điều này cho thấy, sản xuất nông nghiệp Việt Nam luôn vững vàng trước các biến động của đại dịch và thiên tai.
Nhân tố tạo nên những thành tựu nêu trên phải kể đến nỗ lực tiếp cận hiệu quả hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vào các thị trường lớn, đặc biệt là thị trường châu Âu và những lợi thế khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) chính thức có hiệu lực từ ngày 1-8-2020. Đối với tiêu thụ hàng nông sản trong nước, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân các tỉnh thành hỗ trợ tiêu thụ và lưu thông nông sản ở địa phương, tạo ra một hệ thống gỡ khó thông suốt, củng cố các chuỗi cung ứng nông sản an toàn; kết nối doanh nghiệp, hợp tác xã cung ứng và các đầu mối vận chuyển hàng hoá nông sản. Do đó, nhiều mặt hàng có giá trị tăng cao của Việt Nam như gạo, trái cây, thủy sản… đã đạt mức tăng trưởng khá. Tăng trưởng ấn tượng nhất là lúa gạo, với sản lượng đạt 43,86 triệu tấn (năm 2021) không chỉ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, hỗ trợ các quốc gia khác mà còn vươn lên một tầm cao mới trong xuất khẩu.
Nhìn vào bảng số liệu thống kê (xem Bảng 2) cho thấy, năm 2019 và năm 2020, sản lượng lúa gạo có sự sụt giảm do tác động của thiên tai và dịch bệnh nhưng đến năm 2021, sản lượng tăng 1,1 triệu tấn với tốc độ tăng trưởng đạt 2,57% so với năm 2020, mặc dù diện tích gieo trồng giảm khoảng 39.000ha nhưng năng suất tăng gần 1,9 tạ/ha so với năm 2020. Với sản lượng đạt ở mức cao hàng năm và có xu hướng gia tăng mặc dù diện tích gieo trồng giảm làm cho sản xuất lúa gạo đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước, chế biến, sử dụng làm thức ăn chăn nuôi và xuất khẩu. Sản xuất lúa tiếp tục xu hướng tăng tỷ lệ sử dụng giống lúa chất lượng cao lên trên 77% để nâng cao giá trị “Thương hiệu hạt gạo Việt”. Tỷ trọng gạo chất lượng cao chiếm trên 89% gạo xuất khẩu, đã góp phần nâng giá gạo xuất khẩu bình quân từ 499,3 USD/tấn năm 2020 lên trên 526,9 USD/tấn năm 2021. Đặc biệt, dịch vụ chế biến trong nông nghiệp cũng đạt kết quả khởi sắc. Tính đến năm 2020, Việt Nam đã xây dựng được 68 nhà máy chế biến nông sản, nâng cao giá trị cho các mặt hàng nông sản tiêu thụ trong nước và xuất khẩu(5). Có thể khẳng định rằng, hơn 2 năm (cuối năm 2019 - đầu năm 2022), mặc dù bị ảnh hưởng nhiều của đại dịch Covid-19, hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp gặp nhiều khó khăn nhưng lại là giai đoạn thành công với nhiều điểm sáng của ngành nông nghiệp nước nhà. Bước đi vững vàng từ khó khăn đã cho thấy tầm quan trọng, vai trò sống còn của “trụ đỡ” nông nghiệp đối việc đảm bảo an ninh lương thực bền vững và đối với nền kinh tế tăng trưởng dương.
Có một thực tế là,dù tự hào là cường quốc xuất khẩu gạo trong nhiều năm qua, vấn đề an ninh lương thực luôn được đảm bảo vững chắc trong mọi biến cố của nền kinh tế nhưng Việt Nam cũng là nước nhập khẩu các nguyên liệu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp rất lớn. Nông nghiệp Việt Nam vẫn cơ bản là nền nông nghiệp sản xuất truyền thống, trình độ sản xuất thấp so với các nền nông nghiệp phát triển trên thế giới. Các sản phẩm nông nghiệp phần lớn là sản phẩm thô, gia công là chủ yếu nên giá trị gia tăng nông nghiệp không cao, thương hiệu, chất lượng, giá cả chưa cạnh tranh và chưa vào được phân khúc cao thị trườngthế giới và chưa đạt ở các khâu sau cùng của chuỗi giá trị toàn cầu. Để có thể gia tăng giá trị tăng trưởng trong nông nghiệp nhằm phát huy các lợi thế sẵn có một cách hiệu quả, trong tương lại, Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, gắn với phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và kết nối bền vững với chuỗi giá trị nông sản toàn cầu. Đồng thời, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững là những ưu tiên hàng đầu.
Một số kinh nghiệm
Trong những năm qua, mặc dùsản xuất nông nghiệp Việt Namđang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do thiên tai và đại dịch COVID-19 nhưng vẫn đạt được nhiều thành tựu về phát triển nông nghiệp bền vững, bảo đảm an ninh lương thực và cải thiện đời sống nhân dân. Thành tựu đó là kết quả của các bước đi đúng đắn từ chủ trương, chính sách cho đến quá trình chỉ đạo thực hiện từ cấp Trung ương đến địa phương, sự nỗ lực vào cuộc của các cấp chính quyền, các doanh nghiệp và người dân. Có thể rút ra một số kinh nghiệm cho quá trình này như sau:
Thứ nhất, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các ngành, các cấp hướng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, khẳng định vai trò trụ đỡ của nông nghiệp và vai trò đảm bảo an ninh lương thực bền vững trong mọi biến cố và kịch bản có thể diễn ra; tranh thủ tối đa sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, sự ủng hộ, phối hợp của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân và nông dân trong hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Thứ hai, vượt lên khó khăn thách thức, nắm chắc tình hình, phát hiện điểm nghẽn, biến nguy cơ thành thời cơ để phát triển và bứt phá. Chính sự đứt gãy trong lưu thông hàng hóa do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 là động lực mạnh mẽ để Việt Nam chủ động và linh hoạt kết nối toàn bộ chuỗi giá trị cung ứng từ sản xuất đến phân phối và tiêu dùng trong nước, đem lại giá trị tăng trưởng ổn định trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an ninh thương thực trong mọi tình huống.
Thứ ba, chú trọng chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp để thiết lập cơ sở dữ liệu lớn, ứng dụng kỹ thuật số và khoa học tiên tiến trong nông nghiệp, thương mại và cung ứng dịch vụ trong nông nghiệp, hình thành các trung tâm sáng tạo hệ thống lương thực thực phẩm trong nông nghiệp; đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về sản xuất hàng hóa, lương thực thực phẩm phục vụ công tác thống kê dự báo xu hướng sản xuất, xu hướng thương mại trong bối cảnh dịch bệnh, thiên tai hoặc các xu thế mới trong tiêu dùng lương thực.
Thứ tư, nỗ lực cao nhất trong việc thực hiện mục tiêu kép vừa quyết liệt phòng chống dịch bệnh COVID-19 vừa phục hồi phát triển kinh tế, xã hội, ngành nông nghiệp trở nên đặc biệt quan trọng trong vai trò là trụ đỡ cho nền kinh tế thích ứng linh hoạt trong điều kiện bình thường mới nhằm mục tiêu phát triển bền vững hệ thống lương thực quốc gia, góp phần bảo đảm an ninh lương thực bền vững.
Thứ năm, thường xuyên quan tâm chăm lo đời sống, an sinh của người dân, quán triệt tinh thần “Phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau”, nhất là trước tác động của dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra phức tạp và để lại ảnh hưởng lớn hiện nay. Đảng và Chính phủ cần có những chủ trương, biện pháp an sinh, khuyến khích người nông dân không những gắn bó, trăn trở với ruộng đồng, mặt nước, đồng đồi để họ mà còn làm giàu từ nông nghiệp, xây dựng thành công nông thôn mới, góp phần vào sự phát triển của quốc gia.
Kết luận
Thực tiễn tình hình Việt Nam và thế giới từ năm 2019 đến năm 2022 đã khẳng định “phi nông bất ổn” luôn là chân lý vững chắc. Trong đại dịch COVID-19, nhu cầu về lượng thực của người dân, nhất là những vùng thực hiện giãn cách là rất lớn vì một số nông dân không tham gia sản xuất và cung ứng sản phẩm; nguồn lương thực chất lượng cao có vai trò quan trọng trong đảm bảo sức khoẻ, sự phục hồi thể chất hậu COVID-19. Đảng, Chính phủ và nhân dân đã cố gắng nỗ lực để cung cấp đa dạng nguồn lương lực cho mọi đối tượng.Khi dịch bệnh xảy ra, nhu cầu thực phẩm của một số nước tăng lên, Việt Nam đã tận dụng khá tốt cơ hội đó để đảm bảo mức tăng trưởng và xuất khẩu. Do đó, nông nghiệp Việt Nam đã tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, góp phần đảm bảo an ninh lương thực của một số quốc gia trên thế giới. Sau đại dịch COVID-19, các nước trên thế giới có thể sẽ xem xét lại chiến lược đầu tư cho ngành nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực vững chắc hơn. Tuy nhiên, với nền tảng tốt, nông nghiệp Việt Nam tiếp tục có cơ hội khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế là trở thành nhà sản xuất và cung cấp lương thực thực phẩm, minh bạch, trách nhiệm bền vững./.
---------------------
(1) Kết luận số 53-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 5/8/2009 về Đề án An ninh lương thực quốc gia đến năm 2020.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, tr. 235, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016.
(3) https://baochinhphu.vn/thu-tuong-chu-tri-hoi-nghi-tong-ket-10-nam-de-an-an-ninh-luong-thuc-102269698.htm.
(4) Kết luận số 81-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về "Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030".
(5) Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Báo cáo Tổng kết thực hiện Kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2021 và triển khai Kế hoạch năm 2022.
Những chính sách quan trọng hỗ trợ nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển, sớm trở lại trạng thái bình thường mới  (27/05/2022)
Kết quả các chỉ số cải cách của tỉnh Quảng Ninh thời gian qua, một số định hướng cải tiến cách thức đánh giá trong thời gian tới  (27/05/2022)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm