TCCS - Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam là hai lực lượng có mối quan hệ đoàn kết, gắn bó keo sơn, từ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh hiện nay, hai lực lượng tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy, đội quân chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.

Sự phối hợp giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc thời gian qua

Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang cách mạng, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau”(1). Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, hai lực lượng luôn có mối quan hệ đoàn kết, gắn bó keo sơn, cùng nhau hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Tổng Bí thư Tô Lâm chứng kiến Lễ ký Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao_Ảnh: TTXVN

Cơ sở xuất phát của mối quan hệ tốt đẹp giữa quân đội nhân dân và công an nhân dân là từ mục tiêu phục vụ nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, có mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Đồng thời, mỗi lực lượng có nhiệm vụ và thế mạnh riêng. Thời chiến, quân đội đánh giặc xâm lược từ bên ngoài, thời bình thì huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và lao động, sản xuất giúp đỡ nhân dân. Lực lượng công an đánh giặc ở bên trong, đó là các thế lực phản động, tội phạm và phải thường xuyên, lúc chiến tranh cũng như trong thời bình. Trong quá trình đấu tranh cách mạng, cả hai lực lượng luôn bị các thế lực thù địch chia rẽ, kích động hòng làm nảy sinh mâu thuẫn “suy bì thiệt hơn”, làm tổn hại đến mối quan hệ truyền thống tốt đẹp. Vì vậy, cần có nhận thức chung “chống xâm lược từ bên ngoài và phá hoại cách mạng từ bên trong” là nhiệm vụ của quân đội nhân dân và công an nhân dân nói riêng và của toàn dân nói chung. Quân đội và công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, hiệp đồng chiến đấu giữa quân đội nhân dân và công an nhân dân mang đậm bản chất cách mạng, kế thừa sâu sắc truyền thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc, kết hợp với tinh thần gương mẫu, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của hai lực lượng; là mối quan hệ thuộc về bản chất giữa các thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân - công cụ bạo lực chủ yếu bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, xuất phát từ yêu cầu tất yếu khách quan của mối quan hệ tương hỗ giữa nhiệm vụ quốc phòng và nhiệm vụ an ninh; giữa nhiệm vụ xây dựng và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; giữa chức năng, nhiệm vụ của quân đội nhân dân và chức năng, nhiệm vụ của công an nhân dân. Bởi vậy, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, hiệp đồng chiến đấu giữa quân đội nhân dân và công an nhân dân đã phát triển mạnh mẽ và trở thành nhân tố quan trọng, không chỉ giúp mỗi lực lượng hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, mà còn tạo sức mạnh nội sinh cùng với Đảng, với nhân dân làm nên những chiến công, thành tích xuất sắc trong chiến tranh giải phóng dân tộc.

Ngay sau khi đất nước vừa giành được độc lập, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và Bác Hồ, quân đội nhân dân và công an nhân dân đã phát huy thế mạnh của mình, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ an toàn tuyệt đối sự kiện chính trị - lịch sử trọng đại của đất nước, đó là ngày Quốc khánh 2-9-1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, sự phối hợp, đoàn kết chiến đấu giữa quân đội nhân dân và công an nhân dân càng thêm chặt chẽ, nhất là cùng tham gia phá tan âm mưu của địch cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vào Nam; tiến công truy quét, tiêu diệt các toán thổ phỉ, biệt kích, thám báo trên các vùng Đông Bắc, Tây Bắc của Tổ quốc… Trong các chiến dịch lớn, lực lượng an ninh cùng lực lượng quân đội bảo vệ tuyệt đối an toàn các sở chỉ huy, làm thất bại hoàn toàn các hoạt động gián điệp, các chiêu trò chiến tranh tâm lý, chiêu hồi của địch…

Hòa bình lập lại (năm 1954), cả nước bước vào thời kỳ mới, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, hiệp đồng giữa quân đội nhân dân và công an nhân dân tiếp tục được phát huy và phát triển lên tầm cao mới. Hai lực lượng đã đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, thường xuyên trao đổi thông tin, nắm chắc tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới. Quân đội và công an cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên các mặt trận và làm tròn nhiệm vụ quốc tế. Tiếp đó, đã phối hợp chặt chẽ bảo đảm an ninh, trật tự trên các địa bàn, tiến công triệt phá các tổ chức FULRO, bóc gỡ nhiều băng nhóm tội phạm, nhen nhóm phản động trong nước. Đồng thời, ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động xâm nhập phá hoại từ bên ngoài của các tổ chức phản động lưu vong, bảo vệ Đảng, chính quyền và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Cùng với đó, quân đội nhân dân và công an nhân dân tích cực tham mưu cho Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp triển khai thực hiện công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng theo quy định đạt hiệu quả tích cực. Công tác phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân được đẩy mạnh, nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với đặc điểm địa bàn, dân cư. Kết quả đó đã góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận, phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Việc thực hiện Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg, ngày 2-6-2003, của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 77/2010/NĐ-CP, ngày 12-7-2010, của Chính phủ, nay là Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 5-9-2019, của Chính phủ, về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng được tăng cường ở tất cả các cấp và có hiệu quả thiết thực. Qua đó, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Một số giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam trong bảo đảm quốc phòng, an ninh trong thời kỳ mới  

Trong tình hình hiện nay, thế giới có những diễn biến mới, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng có nhiều thách thức bởi sự cạnh tranh giữa các nước lớn. Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn. Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vẫn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đang đứng trước những khó khăn, thách thức mới. Các nước lớn điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, lực lượng lao động... sẽ tác động mạnh đến sự phát triển của các nước, trong đó có Việt Nam.  

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, trong đó khu vực Đông Nam Á sẽ diễn ra cạnh tranh gay gắt nhất, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp và quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn.

Ở trong nước, sau gần 40 năm đổi mới, thế và lực của đất nước ta đã phát triển lên tầm cao mới. Đời sống của đại đa số người dân được cải thiện, diện mạo kinh tế - xã hội phát triển đáng kể, sức mạnh tổng hợp, uy tín quốc gia trên trường quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao. Kinh tế phát triển gắn với đổi mới kỹ thuật, công nghệ là cơ sở quan trọng để phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới và cao hơn, để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, kỷ cương, bảo đảm an ninh kinh tế, xã hội, an ninh mạng, an ninh con người; chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ xa, từ sớm; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố bên trong có thể gây bạo động, mất an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Bối cảnh, tình hình thế giới và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi quân đội nhân dân và công an nhân dân phải tăng cường, củng cố hơn nữa mối quan hệ phối hợp, hiệp đồng trong thực thi nhiệm vụ, theo đó, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách, pháp luật về công tác phối hợp, hiệp đồng và thường xuyên trao đổi tình hình giữa hai lực lượng.

Đảng, Nhà nước đã ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phối hợp giữa quân đội nhân dân và công an nhân dân trong thời kỳ mới. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nhấn mạnh phải tăng cường quan hệ phối hợp giữa lực lượng công an nhân dân với quân đội nhân dân và các ngành, các địa phương trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luật Quốc phòng năm 2018 xác định: Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội..., có trách nhiệm phối hợp với quân đội nhân dân, dân quân tự vệ trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng (Điều 26). Điều 11 Luật Công an nhân dân năm 2018 quy định: Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với công an nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và xây dựng Công an nhân dân. Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 5-9-2019, của Chính phủ, về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng đã tạo hành lang pháp lý, cơ sở quan trọng để phát triển mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, hiệp đồng chiến đấu giữa quân đội nhân dân và công an nhân dân ngày càng chặt chẽ, có nền nếp, toàn diện, đi vào chiều sâu và hiệu quả hơn trong giai đoạn mới.

Lực lượng quân đội và công an thường xuyên phối hợp trao đổi thông tin, nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo sát, đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra, làm cơ sở để chủ động điều chỉnh, bổ sung quyết tâm, kế hoạch, phương án tác chiến phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc gia ở từng khu vực và trên phạm vi cả nước.

Hai là, tích cực, chủ động phối hợp trong tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước về lĩnh vực quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế.

Quân đội nhân dân và công an nhân dân tiếp tục rà soát hệ thống văn bản pháp luật, chủ động tham mưu, đề xuất hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật để kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tiếp tục phối hợp để thể chế hóa Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng... Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội cần triển khai xây dựng cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia ở biển, đảo, vùng trời, trên không gian mạng, trên vũ trụ. Tiếp tục khẳng định vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để kịp thời phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm trên địa bàn biên giới biển, lực lượng Bộ đội Biên phòng Tiền Giang thường xuyên phối hợp với lực lượng công an, dân quân tự vệ tuần tra kiểm soát, kiểm soát địa bàn_Ảnh: TTXVN

Tham mưu, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật thực hiện lộ trình hội nhập quốc tế. Theo đó, trong xây dựng pháp luật cần thể chế hóa đầy đủ và phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc là thành viên. Tích cực và có trách nhiệm trong việc tham gia xây dựng các điều ước quốc tế. Chủ động đề xuất các điều ước quốc tế từ thực tiễn Việt Nam, như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... để các tổ chức quốc tế giúp đỡ Việt Nam một cách kịp thời và có hiệu quả. Công an nhân dân và quân đội nhân dân cần tăng cường bồi dưỡng, đào tạo cán bộ vừa am hiểu sâu về điều kiện trong nước, vừa có kiến thức sâu về luật pháp quốc tế, qua đó, tham gia làm việc có hiệu quả trong các tổ chức quốc tế.

Ba là, phối hợp trong lĩnh vực thực thi pháp luật và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Quân đội nhân dân và công an nhân dân cần tích cực phối hợp đề xuất các biện pháp giải quyết có hiệu quả những vấn đề phức tạp nảy sinh, như nắm chắc tình hình và những diễn biến mới trên Biển Ðông; bảo đảm an ninh, trật tự khu vực biên giới, biển, đảo và nội địa, nhất là trên các địa bàn chiến lược. Triển khai đồng bộ, thống nhất việc thực thi các văn bản pháp luật về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Phối hợp triển khai các biện pháp nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; chủ động ngăn chặn âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, khủng bố, không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong nước.

Phối hợp chặt chẽ trong việc bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh thông tin - truyền thông, an ninh mạng, an ninh kinh tế, an ninh xã hội... Sẵn sàng và chuẩn bị mọi biện pháp đối phó có hiệu quả với an ninh phi truyền thống; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Bảo vệ tuyệt đối an ninh các mục tiêu, công trình quan trọng, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các sự kiện chính trị, văn hóa, đối ngoại quan trọng của đất nước. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, nhất là tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên biên giới; kiềm chế và hạn chế đến mức thấp nhất các vụ việc nghiêm trọng. Chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp duy trì an toàn, trật tự giao thông, trật tự công cộng, an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định, góp phần xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, phối hợp trong xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc.

Để tạo nền tảng bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ lúc nước chưa nguy”, hệ thống cơ quan quân sự và cơ quan công an cấp tỉnh cần phối hợp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và trực tiếp tổ chức thực hiện mọi công tác quân sự, an ninh, cũng như quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh ở địa phương. Thủ trưởng cơ quan quân sự, công an có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các ngành, đoàn thể nhân dân trong khu vực phòng thủ tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh việc xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững mạnh toàn diện cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận. Xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm đủ sức tự xử lý thắng lợi các tình huống về quốc phòng, an ninh xảy ra trên địa bàn; phòng, chống có hiệu quả âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch, tạo sức mạnh bên trong, góp phần ngăn ngừa và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược. Quân đội nhân dân và công an nhân dân chủ động phối hợp thực hiện tốt chức năng thẩm định các dự án đầu tư kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh. Tham gia đàm phán gia nhập các tổ chức, diễn đàn khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định đầu tư song phương, đa phương có yếu tố quốc phòng, an ninh. Chủ động đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai quyết liệt các phương án, kế hoạch bảo đảm an ninh, trật tự tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, góp phần tạo môi trường xã hội, môi trường đầu tư an toàn, thuận lợi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước./.

-----------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 153