TCCS - Xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam thật sự trong sạch, vững mạnh, tinh nhuệ là yêu cầu cốt lõi trong tình hình mới. Hiện nay, tổ chức bộ máy lực lượng công an được kiện toàn theo phương châm “Bộ tinh, tỉnh toàn diện, xã vững mạnh, bám cơ sở", trong đó hạt nhân là công an cấp xã. Việc chính quy hóa đội ngũ điều tra viên tại địa bàn cơ sở chính là minh chứng cho tư duy đổi mới: đưa công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về sát dân, gần dân. Đây là mắt xích quan trọng nhằm tối ưu hóa hiệu quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội từ gốc rễ.

1. Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập, xây dựng, tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, là lực lượng vũ trang nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, mang tính nhân dân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Xuất phát từ công tác công an và nhiệm vụ đặc thù, ngay từ khi lực lượng Công an nhân dân Việt Nam ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục, rèn luyện và xây dựng lực lượng công an cách mạng. Sinh thời, Người luôn nhắc nhở về việc “công an của ta là công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc”(1) trong bảo đảm an ninh, trật tự và bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Người luôn khẳng định vai trò to lớn, quyết định của nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Người nhấn mạnh: “Nước lấy dân làm gốc; Gốc có vững, cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(2), “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(3). Về mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa công an với nhân dân, Người chỉ rõ: “Làm công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì Công an mới hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình…”(4). Nhân dân là cội nguồn sức mạnh của công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, Bác căn dặn rằng: “Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong”(5), “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”(6).

Cán bộ, chiến sĩ công an cơ sở hướng dẫn người dân làm thủ tục cấp thẻ căn cước công dân_Ảnh: baobacninhtv.vn

Để tập hợp, huy động sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tinh thần hướng về nhân dân, hướng về cơ sở, trọng dân, kính dân, sát dân, chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho nhân dân, Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(7), “Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi”(8).

Xuất phát từ đặc điểm công tác, chiến đấu của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn công an phải vì dân, dựa vào nhân dân và luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, Người chỉ rõ: “Xây dựng bộ máy Công an nhân dân. Tức là công an phải có tinh thần phục vụ nhân dân, là bạn dân”(9). Yêu cầu gắn bó mật thiết với nhân dân, hướng về cơ sở, trọng dân, gần dân, sát dân được Người nhấn mạnh đối với lực lượng công an nhân dân theo hướng “Phải gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời nhân dân thì tài tình mấy cũng không làm gì được”(10), “Phải củng cố thật tốt công an khu phố... Đó là những cơ sở của Công an”(11). Muốn vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng lực lượng Công an nhân dân tinh gọn, thiết thực, coi trọng tính hiệu quả, tiết kiệm và nhắc nhở “cách tổ chức công an phải giản đơn, thiết thực, tránh cái tệ quá hình thức, giấy má…”(12).

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời kỳ mới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh là những nhiệm vụ cách mạng trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó lực lượng công an nhân dân đóng vai trò nòng cốt. Cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025) và Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-3-2022, của Bộ Chính trị khóa XIII, về “Đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”, việc bố trí điều tra viên tại công an cấp xã được triển khai bắt đầu từ tháng 8-2023(13). Bộ Công an ban hành, cụ thể hóa các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công an cấp xã, bảo đảm thực hiện tốt phương châm “bốn tại chỗ”(14) ở địa bàn cơ sở, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; kịp thời tiếp nhận, giải quyết vụ việc ngay từ đầu, từ cơ sở, xây dựng công an cấp xã thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Triển khai các quy định trên, đến nay, công an cấp xã trong phạm vi cả nước đã được tăng cường, bổ sung đội ngũ điều tra viên nhằm nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của điều tra viên bố trí ở công an cấp xã trong tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, kịp thời phát hiện, giải quyết nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật; nhận diện, xử lý mâu thuẫn, xung đột... từ khi manh nha tại địa bàn cơ sở.

2. Từ ngày 1-7-2025, cả nước đã triển khai phương án sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã. Thực hiện các quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương, sau khi sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, hiện nay, cả nước có tổng số 3.321 đơn vị hành chính cấp xã (2.621 xã, 687 phường và 13 đặc khu)(15). Hiện nay, thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của điều tra viên thuộc cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh, thành phố (gọi tắt là cấp tỉnh) bố trí ở công an cấp xã được thực hiện theo quy định tại Luật số 99/2025/QH15, ngày 27-6-2025, của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và một số văn bản quy phạm pháp luật khác, như Thông tư liên tịch số 04/TTLT/BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 27-6-2025, của Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, quy định về phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự; Hướng dẫn số 33/HD-BCA-V03, ngày 28-6-2025, của Bộ Công an, hướng dẫn về việc thực hiện bố trí, thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của điều tra viên, cán bộ điều tra ở công an cấp xã; việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của công an cấp xã… Theo đó, việc bố trí điều tra viên ở công an cấp xã được thực hiện thông qua việc bổ nhiệm chức danh (hoặc bố trí) điều tra viên trung cấp, điều tra viên cao cấp thuộc cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh đối với trưởng công an cấp xã; phó trưởng công an cấp xã được phân công phụ trách công tác phòng, chống tội phạm; bổ nhiệm chức danh (hoặc bố trí) điều tra viên thuộc cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh đối với một số (hoặc toàn bộ) cán bộ thuộc tổ cảnh sát phòng, chống tội phạm hoặc cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm và phòng, chống tội phạm ở công an cấp xã. Đội ngũ điều tra viên bố trí ở công an cấp xã sẽ do văn phòng cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh quản lý và số lượng điều tra viên bố trí ở công an cấp xã do Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương, địa bàn(16).

Đối với điều tra viên trung cấp, điều tra viên cao cấp là trưởng công an cấp xã khi được thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh phân công, ủy quyền tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã sẽ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều 37, các điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 36 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025), trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt(17). Quy định này thể hiện vai trò của điều tra viên là trưởng công an cấp xã hoặc phó trưởng công an cấp xã (nếu được phân công) có sự thay đổi theo hướng mở rộng thẩm quyền rõ ràng so với trước, bảo đảm tính khoa học, chặt chẽ, gắn với trách nhiệm và đáp ứng yêu cầu tinh gọn tổ chức bộ máy, phù hợp với thực tiễn tình hình bảo vệ an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh mới. Như vậy, cơ quan cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân được tổ chức ở hai cấp (cấp bộ, cấp tỉnh). Điều này cho thấy, đội ngũ điều tra viên bố trí ở công an cấp xã là bộ phận trực tiếp thuộc cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh trong triển khai, thực hiện công tác phòng ngừa, điều tra, xử lý kịp thời tội phạm ngay từ cơ sở, nơi tội phạm phát sinh đầu tiên, tạo điều kiện cho công an cấp xã gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn, phản ứng nhanh hơn với các vụ việc, vụ án về tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã tận dụng tốt hơn nguồn lực tại chỗ.

Trưởng công an cấp xã (hoặc phó trưởng công an cấp xã) thực hiện thẩm quyền tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự theo cơ chế phân công, ủy quyền của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh và không được vượt quá nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi được phân công, ủy quyền(18). Việc phân công, ủy quyền được thực hiện dưới hình thức văn bản quyết định phân công, quyết định ủy quyền với những nội dung phân công, ủy quyền rất cụ thể, nêu rõ thời hạn phân công, ủy quyền và được sao gửi đến Viện Kiểm sát nhân dân khu vực để thực hiện thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm của công an cấp xã; việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của điều tra viên là trưởng công an cấp xã hoặc phó trưởng công an cấp xã theo quy định tại Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025) trong công tác điều tra hình sự(19).

Cán bộ Công an xã Thạnh Mỹ (thành phố Đà Nẵng) tuyên truyền, vận động người dân về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước_Ảnh: cand.vn

3. Tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các quy định mới về nhiệm vụ, quyền hạn của điều tra viên bố trí ở công an cấp xã góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ngay từ cơ sở, bảo đảm gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn theo phương châm “xã vững mạnh, bám cơ sở”, thời gian tới cần tập trung một số nội dung sau:

 Một là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức cơ quan điều tra hình sự, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, toàn diện, có hiệu lực pháp lý cao, có tính ổn định lâu dài đối với việc triển khai thực hiện các quy định mới về trách nhiệm của công an cấp xã trong việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm; về nhiệm vụ, quyền hạn của điều tra viên, cán bộ điều tra thuộc cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh bố trí ở công an cấp xã. Thường xuyên sơ kết, rút kinh nghiệm việc triển khai thực hiện công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, điều tra vụ án hình sự tại địa bàn cơ sở nói chung và việc thực hiện công tác này của công an cấp xã nói riêng. Việc tổ chức sơ kết, rút kinh nghiệm đối với công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, điều tra vụ án hình sự phải gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm từ cơ sở, bảo đảm gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn, tập trung đánh giá kết quả đạt được, kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc để có phương án khắc phục. Thông qua việc sơ kết này giúp công an cấp xã nói chung và các cán bộ trực tiếp tiến hành công tác này sẽ có những điều chỉnh hợp lý và rút ra kinh nghiệm cho bản thân để thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả hơn.

Hai là, tiếp tục xây dựng, triển khai ở công an các địa phương quy chế về công tác chỉ đạo, phối hợp, thông tin báo cáo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh, các đơn vị điều tra thuộc công an cấp tỉnh đối với công an cấp xã, điều tra viên, cán bộ điều tra bố trí ở công an cấp xã. Nội dung quy chế cần làm rõ yêu cầu bảo đảm tính kịp thời, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ cơ chế giám sát, không để xảy ra tình trạng chậm chễ trong giải quyết tố giác về tội phạm do nhân dân cung cấp; không để xảy ra sai phạm, không để phát sinh tình huống phức tạp. Tiếp tục rà soát, bổ sung sắp xếp, bổ nhiệm đội ngũ điều tra viên, cán bộ điều tra thuộc cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh bố trí ở công an cấp xã, bảo đảm đội ngũ điều tra viên có đủ trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu công tác giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Không bổ nhiệm (hoặc bố trí) điều tra viên ở công an cấp xã đối với cán bộ không đủ năng lực theo vị trí công tác.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả và vai trò của văn phòng cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh trong quản lý hoạt động điều tra hình sự (gồm các điều tra viên của các đơn vị thuộc cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh có nhiều kinh nghiệm về pháp luật, nghiệp vụ) kiêm nhiệm thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn, trao đổi, tư vấn, giải đáp, tháo gỡ khó khăn trong quá trình điều tra, giải quyết các vụ án, vụ việc cho đội ngũ điều tra viên bố trí ở công an cấp xã. Phát huy hiệu quả công tác phối hợp, kiểm sát theo quy định pháp luật tố tụng hình sự đối với việc tiếp nhận, phân loại, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm và hoạt động điều tra vụ án hình sự của điều tra viên, cán bộ điều tra bố trí ở công an cấp xã.

Ba là, tiếp tục phát huy vai trò của các học viện, trường Công an nhân dân trong đào tạo, cập nhật kiến thức mới về pháp luật, nghiệp vụ; tăng cường công tác bồi dưỡng, hướng dẫn nâng cao trình độ, năng lực cho điều tra viên, cán bộ điều tra bố trí ở công an cấp xã đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Các học viện, trường công an nhân dân tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nhất là bồi dưỡng ngắn hạn cho đội ngũ điều tra viên, cán bộ điều tra, tạo nguồn cán bộ chất lượng cao cho cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh khi ưu tiên bố trí tại công an cấp xã theo quy định hiện hành.

Bốn là, tăng cường chuyển đổi số góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự nói chung và đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói riêng. Tiếp tục triển khai Kế hoạch của Bộ Công an về chuyển đổi trạng thái, phương thức quản lý, quản trị an ninh trật tự theo hướng hiện đại, minh bạch, hiệu quả, thân thiện, nhân văn, vì nhân dân phục vụ, đột phá chiến lược chuyển đổi số trong công an nhân dân, chủ động khai thác các thành tựu khoa học, công nghệ để phát hiện, ngăn chặn, điều tra, khám phá tội phạm từ sớm, hạn chế tối đa hậu quả gây ra. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, hệ thống hạ tầng viễn thông, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, mạng máy tính, mạng internet,… giúp công an cấp xã thực hiện có hiệu quả hơn công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật và vận động quần chúng tham gia công tác bảo đảm an ninh, trật tự; kịp thời thu thập các thông tin, tài liệu để phục vụ xây dựng các chương trình, kế hoạch bảo đảm an ninh, trật tự nói chung, xây dựng Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc nói riêng, qua đó chủ động phát hiện, ngăn chặn, xử lý tội phạm trong mọi điều kiện, mọi tình huống.

Năm là, ưu tiên đầu tư nguồn lực cơ sở vật chất đối với công an cấp xã, nhất là bảo đảm diện tích làm việc, phương tiện, trang thiết bị phục vụ hoạt động tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, điều tra điều tra vụ án hình sự theo quy định. Chú trọng công tác trực ban, tiếp công dân, tạo điều kiện phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân kịp thời ngăn chặn, phát hiện sớm, tố giác các vi phạm pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa bàn cấp xã, bảo đảm gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân./.

-------------------------------

(1) Xem “Tư cách người công an cách mệnh”, in trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 498
(2) Xem “6 điều không nên và 6 điều nên làm, Bài thơ cổ động, ngày 5-4-1948”, in trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 502
(3) Xem “Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa 2 Trường Đại học nhân dân Việt Nam, ngày 8-12-1956”, in trong: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 453
(4) Xem “Nói chuyện tại lớp chỉnh huấn khóa II của Bộ Công an, ngày 16-5-1959”, in trong: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 221
(5) Xem “Tư cách người công an cách mệnh”, in trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 498
(6) Xem “Bài nói tại Trường Công an trung cấp khóa 2, năm 1951”, in trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 270
(7) Xem “Dân vận, ngày 15-10-1949”, in trong: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 232
(8) Xem “Thư gửi Ủy ban nhân dân tỉnh và huyện ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn”, in trong: Hồ Chí Minh:  Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 460
(9) Xem Thư gửi Hội nghị công an toàn quốc, ngày 15-1-1950”, in trong: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, trang 312
(10) Xem “Bài nói chuyện tại Hội nghị công an toàn quốc lần thứ 10, tháng 1-1956”, in trong: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 259
(11) Xem “Bài nói tại Hội nghị cán bộ ngành công an, ngày 29-4-1963”, in trong: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 72
(12) Xem “Thư gửi Hội nghị công an toàn quốc, ngày 15-1-1950”, in trong: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 312
(13) Theo Hướng dẫn số 15/HD-BCA-V03 ngày 29-8-2023, của Bộ Công an, về việc thực hiện bố trí điều tra viên ở công an cấp xã và tiếp đó là bố trí điều tra viên, cán bộ điều tra ở công an cấp xã; việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của công an cấp xã theo Hướng dẫn số 10/HD-BCA-V03, ngày 10-4-2024; Hướng dẫn số 11/HD-BCA-V03, ngày 27-2-2025 của Bộ Công an…
(14) Đó là: chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện, vật tư tại chỗ; hậu cần tại chỗ
(15) Luật số 72/2025/QH15, ngày 16-6-2025 của Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương
(16) Hướng dẫn số 33/BCA-V03, ngày 28-6-2025, của Bộ Công an, về việc thực hiện bố trí, thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của điều tra viên, cán bộ điều tra ở công an cấp xã; việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của công an cấp xã
(17) Thông tư liên tịch số 04/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 27-6-2025, của Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về quy định phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
(18) Luật số 99/2025/QH15, ngày 27-6-2025, của Quốc hội, sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự
(19) Luật số 82/2025/QH15, ngày 24-6-2025, của Quốc hội, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân