Bảo đảm quyền con người ở Việt Nam từ góc độ thể chế - Tiếp cận mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia

Nguyễn Thị Khánh Loan
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
04:44, ngày 20-07-2026

TCCS - Bảo đảm quyền con người là nội dung quan trọng trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Trong bối cảnh tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu, tham khảo mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia (NHRI) theo các chuẩn mực chung của Liên hợp quốc, trên cơ sở phù hợp với điều kiện chính trị - pháp lý và thực tiễn Việt Nam, có ý nghĩa thiết thực cả về phương diện lý luận và thực tiễn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu toàn quốc_Ảnh: TTXVN

Quyền con người vừa là giá trị phổ quát của nhân loại, vừa mang tính lịch sử, giai cấp và gắn liền với điều kiện chính trị - kinh tế - văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định mục tiêu giải phóng con người, coi con người là trung tâm của chiến lược phát triển và là chủ thể của công cuộc đổi mới. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm: tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người gắn chặt với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, lợi ích của nhân dân và sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước(1). “Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều phải xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu"(2) và "Con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển"(3). Quan điểm này thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng về quyền con người, đặt việc bảo đảm và phát huy quyền con người trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển đất nước nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đây là sự khẳng định nhất quán quan điểm của Đảng về vai trò trung tâm của con người trong toàn bộ quá trình phát triển đất nước, đồng thời là cơ sở chính trị quan trọng để tiếp tục hoàn thiện các thiết chế bảo đảm quyền con người trong giai đoạn mới.

Trong những năm qua, việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện quyền con người ở Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng, thể hiện tập trung ở Hiến pháp năm 2013, trong đó hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của Việt Nam vào các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, trước yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia và chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, vấn đề hoàn thiện thể chế bảo đảm quyền con người đặt ra ngày càng rõ nét. Trong bối cảnh đó, mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia (NHRI) - một thiết chế được Liên hợp quốc khuyến nghị nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở cấp quốc gia - ngày càng được giới nghiên cứu và hoạch định chính sách quan tâm. Từ góc độ thể chế, việc nghiên cứu, tiếp cận mô hình này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần làm rõ những phương án hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam theo hướng chủ động, phù hợp và hiệu quả.

Bảo đảm quyền con người từ góc độ thể chế

Thể chế là tổng thể các quy tắc, chuẩn mực pháp lý và phi pháp lý, cùng với các thiết chế tổ chức và cơ chế vận hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong lĩnh vực quyền con người, thể chế giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi quyền con người chỉ có thể được bảo đảm đầy đủ khi được ghi nhận bằng pháp luật và được thực thi thông qua các thiết chế có thẩm quyền, trách nhiệm rõ ràng. Bảo đảm quyền con người từ góc độ thể chế đòi hỏi sự thống nhất giữa ba yếu tố cơ bản: Hệ thống pháp luật bảo đảm tính đầy đủ, đồng bộ và khả thi; các thiết chế tổ chức thực thi, giám sát và bảo vệ quyền con người hoạt động hiệu lực, hiệu quả; các điều kiện bảo đảm về nguồn lực, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân. Trong đó, các thiết chế chuyên trách hoặc bán chuyên trách về quyền con người có vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa quy định pháp luật và thực tiễn đời sống xã hội.

Quan điểm của Đảng về quyền con người được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội của Đảng và nhiều nghị quyết quan trọng. Đảng ta khẳng định rõ: Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; gắn quyền con người với nghĩa vụ công dân, với lợi ích của cộng đồng và quốc gia - dân tộc mới(4). Hiến pháp năm 2013 đã tạo bước phát triển mang tính đột phá khi lần đầu tiên quy định một chương riêng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời hiến định trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền này.

Trên cơ sở Hiến pháp, hệ thống pháp luật chuyên ngành tiếp tục được rà soát, sửa đổi, bổ sung theo hướng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, như Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR), Công ước về quyền trẻ em (CRC)…(5). Việt Nam đồng thời tích cực tham gia cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR), đối thoại nhân quyền và thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ báo cáo quốc gia.

Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, thực tiễn bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới đối với việc hoàn thiện thể chế. Trước hết, yêu cầu tăng cường tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh hệ thống pháp luật không ngừng được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Một số quy định pháp luật liên quan đến quyền con người vẫn còn chồng chéo, thiếu tính liên thông hoặc chưa được cụ thể hóa đầy đủ, dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện và bảo đảm quyền trên thực tế(6). Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực thi và giám sát việc thực hiện quyền con người ngày càng được đặt ra rõ nét, tuy nhiên, việc giám sát thực thi quyền con người chủ yếu được lồng ghép trong chức năng chung của các cơ quan nhà nước, chưa có một cơ chế chuyên trách, độc lập tương đối để theo dõi, đánh giá một cách toàn diện và thường xuyên.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, bảo đảm quyền con người không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ các quyền cơ bản mà còn phải tạo điều kiện để người dân được tiếp cận bình đẳng với tri thức, công nghệ, các dịch vụ công hiện đại và những thành quả của phát triển. Đây cũng là yêu cầu tất yếu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của người dân về quyền con người được nâng cao, số lượng các phản ánh, kiến nghị liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có xu hướng gia tăng, với nội dung ngày càng đa dạng. Điều này đòi hỏi thể chế bảo đảm quyền con người không chỉ chú trọng hoàn thiện pháp luật, mà còn phải tăng cường các cơ chế tiếp nhận, xử lý, giám sát và phản hồi một cách minh bạch, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm.

Đặc biệt, quá trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng đang đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo đảm quyền con người. Các vấn đề như bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư trên không gian mạng, quyền tiếp cận thông tin số, quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh dịch chuyển lao động và toàn cầu hóa… ngày càng trở nên cấp thiết. Việc bảo đảm quyền con người trong kỷ nguyên số đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng và hoàn thiện những thiết chế phù hợp, có khả năng thích ứng linh hoạt với các biến đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội(7).

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc các mô hình thể chế bảo đảm quyền con người tiên tiến trên thế giới, trong đó có mô hình NHRI có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Đây không chỉ là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam theo hướng hiện đại, hiệu quả, mà còn góp phần khẳng định cam kết nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Kinh nghiệm quốc tế và một số gợi mở cho Việt Nam

Cơ quan nhân quyền quốc gia là thiết chế do nhà nước thành lập, có nhiệm vụ thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở cấp quốc gia, hoạt động trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là các Nguyên tắc Paris do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1993. Các nguyên tắc này nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tính độc lập tương đối của NHRI, thẩm quyền rộng, nguồn lực đầy đủ, cơ cấu tổ chức đa dạng và phương thức hoạt động hiệu quả.

Một NHRI phù hợp với Nguyên tắc Paris thường hội tụ các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, được thành lập trên cơ sở hiến định hoặc luật định, qua đó bảo đảm vị trí pháp lý và tính ổn định trong hệ thống thể chế quốc gia. Thứ hai, có tính độc lập về tổ chức, nhân sự và tài chính, nhằm bảo đảm khả năng hoạt động khách quan, không chịu sự can thiệp tùy tiện. Thứ ba, có thẩm quyền rộng trong việc tư vấn, kiến nghị xây dựng và hoàn thiện pháp luật, giám sát việc thực hiện quyền con người, giáo dục - phổ biến kiến thức và hợp tác quốc tế. Thứ tư, bảo đảm tính đa dạng, đại diện trong thành phần, phản ánh các nhóm xã hội khác nhau. Thứ năm, duy trì mối quan hệ phối hợp hiệu quả với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và các cơ chế nhân quyền quốc tế. Mức độ đáp ứng các tiêu chí này quyết định hiệu quả hoạt động và uy tín của NHRI, đồng thời là căn cứ để Liên hợp quốc đánh giá, công nhận tư cách hoạt động của các cơ quan này trong hệ thống nhân quyền quốc tế.

Hiện nay, hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia phù hợp với Nguyên tắc Paris. Nhiều NHRI không chỉ thực hiện chức năng giám sát truyền thống mà còn tham gia tư vấn chính sách về trí tuệ nhân tạo (AI), biến đổi khí hậu, quyền số và các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Xu hướng phát triển của NHRI hiện nay không chỉ tập trung vào bảo vệ các quyền dân sự, chính trị truyền thống mà ngày càng chú trọng các quyền phát triển, quyền tiếp cận công nghệ, quyền trong môi trường số và quyền được hưởng thành quả của đổi mới sáng tạo. Sự thành công của NHRI phụ thuộc trước hết vào mức độ phù hợp với bối cảnh quốc gia, sự ủng hộ chính trị và khuôn khổ pháp lý rõ ràng, hơn là việc sao chép hình thức tổ chức. Do đó, các mô hình NHRI trên thế giới chỉ mang tính giá trị tham khảo, giúp các quốc gia lựa chọn phương án tiếp cận phù hợp với điều kiện lịch sử, chính trị và yêu cầu phát triển của mình, tránh tư duy áp đặt hoặc máy móc.

Từ góc độ thể chế, việc nghiên cứu mô hình NHRI ở Việt Nam xuất phát từ yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và tăng cường năng lực quốc gia trong việc tham gia, thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người. Trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, mà còn phải củng cố các thiết chế hỗ trợ thực thi, giám sát và thúc đẩy việc thực hiện quyền con người trên thực tế.

Mặc dù hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng được hoàn thiện, song khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện vẫn là thách thức chung của nhiều quốc gia đang phát triển. Trong bối cảnh đó, NHRI - với vai trò là thiết chế tư vấn, hỗ trợ và kết nối - có thể góp phần tăng cường đối thoại chính sách, cung cấp ý kiến khách quan và khoa học cho các cơ quan nhà nước trong quá trình xây dựng, sửa đổi và tổ chức thực hiện pháp luật liên quan đến quyền con người.

Mặt khác, trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam ngày càng tham gia tích cực vào các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc, đặc biệt là cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) và các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người. Việc nghiên cứu mô hình NHRI vì vậy còn nhằm tăng cường năng lực thể chế quốc gia trong việc thực hiện các nghĩa vụ báo cáo, theo dõi khuyến nghị và thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc tế, trên tinh thần chủ động, minh bạch và phù hợp với điều kiện chính trị - pháp lý của Việt Nam.

Bảo đảm quyền con người là điều kiện để phát huy sức mạnh sáng tạo của mỗi người dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia_Ảnh: baoquocte.vn

Trong nhiệm kỳ 2023 - 2025, Việt Nam tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế quan trọng, tham gia tích cực vào các cơ chế của Liên hợp quốc, ASEAN và các diễn đàn đa phương về quyền con người. Các chu kỳ rà soát định kỳ phổ quát (UPR) ngày càng yêu cầu các quốc gia nâng cao năng lực theo dõi, đánh giá và thực hiện các khuyến nghị nhân quyền. Điều đó đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện các thiết chế quốc gia nhằm hỗ trợ việc tổng hợp thông tin, đánh giá tác động chính sách và tăng cường đối thoại giữa nhà nước với người dân cũng như cộng đồng quốc tế về các vấn đề quyền con người.

Tuy nhiên, việc tiếp cận mô hình NHRI ở Việt Nam cần quan tâm vấn đề tính tương thích với hệ thống chính trị và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước. Trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo toàn diện, Nhà nước tổ chức và thực thi quyền lực thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, việc thiết kế một thiết chế mới liên quan đến quyền con người đòi hỏi phải được xem xét hết sức thận trọng, tránh làm phát sinh những cách hiểu hoặc cơ chế vận hành không phù hợp với nguyên tắc hiến định. Bên cạnh đó là nguy cơ chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ với các cơ quan hiện có. Trên thực tế, nhiều cơ quan trong hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước ở Việt Nam đã và đang thực hiện các chức năng liên quan đến bảo vệ quyền con người và quyền công dân, như Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội trong hoạt động lập pháp, giám sát; Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước trong quản lý, tổ chức thực thi pháp luật; tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tư pháp; cùng với vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nếu không được xác định rõ vị trí pháp lý và phạm vi thẩm quyền, NHRI rất dễ rơi vào tình trạng trùng lặp chức năng hoặc hình thức, làm giảm hiệu quả chung của hệ thống thể chế. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, việc thiết kế một thiết chế mới đòi hỏi phải cân nhắc kỹ lưỡng về tính khả thi, tránh tình trạng hình thành một cơ quan mang tính biểu trưng, thiếu nguồn lực và hiệu quả hoạt động.

Những băn khoăn và thách thức nêu trên cho thấy, việc tiếp cận mô hình NHRI ở Việt Nam cần được đặt trong tổng thể quá trình hoàn thiện thể chế bảo đảm quyền con người, gắn với tổng kết thực tiễn trong nước và đánh giá tác động thể chế một cách toàn diện, khoa học.

Thứ nhất, việc nghiên cứu mô hình NHRI phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định định hướng chính trị, mục tiêu và phương thức bảo đảm quyền con người trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mọi mô hình thể chế liên quan đến quyền con người đều phải được đặt trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, phù hợp với nguyên tắc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước đã được hiến định, đồng thời phản ánh nhất quán quan điểm của Đảng về quyền con người gắn với quyền dân tộc, độc lập, chủ quyền và ổn định chính trị - xã hội.

Thứ hai, tiếp cận mô hình NHRI cần tránh tư duy sao chép, áp dụng máy móc các mô hình ngoại sinh, không làm phát sinh những cơ chế theo các khuôn mẫu xa lạ với hệ thống chính trị Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam tích cực hội nhập quốc tế và thực hiện các cam kết từ các công ước nhân quyền đã tham gia, NHRI - nếu được nghiên cứu và tiếp cận - cần được xác định là thiết chế bổ trợ, hỗ trợ nhà nước trong việc tư vấn chính sách, thúc đẩy thực thi, theo dõi và đánh giá việc bảo đảm quyền con người, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia; không phải là một cơ quan theo nghĩa đứng ngoài hay làm suy giảm vai trò thống nhất của quyền lực nhà nước.

Thứ ba, việc nghiên cứu NHRI cần gắn với yêu cầu phát huy hiệu quả của các thiết chế hiện có trong hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước, như Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Quan điểm xuyên suốt là hoàn thiện, bổ sung và tăng cường cơ chế phối hợp, giám sát và phản biện xã hội, trên cơ sở phân công - phối hợp - kiểm soát quyền lực nhà nước, thay vì hình thành một cơ quan mới làm gia tăng sự phân tán nguồn lực hoặc chồng chéo chức năng.

Thứ tư, việc nghiên cứu hoàn thiện các thiết chế bảo đảm quyền con người cần quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng về xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, lấy người dân làm trung tâm, chủ thể của quá trình phát triển. Trong kỷ nguyên phát triển mới, quyền con người không chỉ được tiếp cận dưới góc độ bảo vệ các quyền cơ bản mà còn gắn với việc tạo lập cơ hội phát triển toàn diện cho mỗi người dân, bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục chất lượng cao, dịch vụ y tế hiện đại, môi trường sống an toàn, công nghệ số, tri thức và thành quả của đổi mới sáng tạo. Đây là cách tiếp cận phù hợp với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Thứ năm, việc nghiên cứu các mô hình thể chế bảo đảm quyền con người cần được đặt trong tổng thể tầm nhìn phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển, do vậy, mọi thiết chế, chính sách và cơ chế bảo đảm quyền con người phải hướng tới phát huy tối đa năng lực sáng tạo, quyền làm chủ và khát vọng cống hiến của mỗi người dân vì sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Việc nghiên cứu mô hình NHRI ở Việt Nam cần được đặt trong tổng thể chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, coi đây là một phương án thể chế mang tính tham khảo, được tiếp cận có điều kiện, thận trọng và theo lộ trình phù hợp; gắn với tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động thể chế một cách khoa học, toàn diện, qua đó vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về quyền con người, vừa bảo đảm vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc và sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước.

Từ tiếp cận mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia, có thể đề xuất một số định hướng quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Một là, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quyền con người. Hoàn thiện thể chế bảo đảm quyền con người trước hết đòi hỏi tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi và phù hợp với Hiến pháp năm 2013 cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Trọng tâm là tăng cường các cơ chế bảo vệ quyền con người trong toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, bảo đảm quyền con người được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Cùng với đó, cần chú trọng hoàn thiện pháp luật trong các lĩnh vực mới nảy sinh từ quá trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số, ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, qua đó kịp thời nhận diện, phòng ngừa và xử lý những nguy cơ xâm hại quyền con người trong bối cảnh mới.

Hai là, nâng cao hiệu quả các thiết chế hiện có. Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người cần được đặt trên nền tảng phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các thiết chế đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, như Quốc hội, Chính phủ, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp, phân công và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước; tăng cường hiệu lực, hiệu quả giám sát, phản biện xã hội; đồng thời chú trọng nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị và trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác liên quan đến quyền con người. Đây là điều kiện then chốt để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được thực thi thực chất, không hình thức.

Ba là, nghiên cứu lộ trình và mô hình phù hợp. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn trong nước và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, việc nghiên cứu tiếp cận mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia cần được thực hiện theo lộ trình thận trọng, từng bước, gắn chặt với yêu cầu và điều kiện cụ thể của Việt Nam(8).

Trọng tâm của quá trình nghiên cứu là làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và mối quan hệ của thiết chế này (nếu được xem xét) với các cơ quan hiện có trong hệ thống chính trị; bảo đảm không làm phát sinh cơ chế quyền lực xa lạ, không gây chồng chéo chức năng, đồng thời hướng tới hiệu quả thực chất, tránh hình thức. Cách tiếp cận này phù hợp với quan điểm coi NHRI là một phương án thể chế mang tính tham khảo, lựa chọn có điều kiện trong tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định rõ yêu cầu, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của sự phát triển; lấy mức độ hài lòng và hạnh phúc của nhân dân làm thước đo quan trọng của hiệu quả quản trị quốc gia. Bảo đảm quyền con người không chỉ là yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà còn là điều kiện để phát huy sức mạnh sáng tạo của mỗi người dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc nghiên cứu mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia vì vậy cần được đặt trong tổng thể chiến lược xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm mọi chính sách phát triển đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân. Đây cũng là con đường để tiếp tục hoàn thiện thể chế bảo đảm quyền con người phù hợp với điều kiện Việt Nam, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững./.

-----------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 47 - 48
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 28
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 215 - 216
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 169
(5) Xem: United Nations: International Covenant on Civil and Political Rights (Tạm dịch: Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị), 1966; United Nations: International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (Tạm dịch: Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa), 1966
(6) Xem: Nguyễn Đăng Dung: Nhà nước pháp quyền và quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr. 112 - 118
(7) United Nations Human Rights Council: The Right to Privacy in the Digital Age (Tạm dịch: Quyền riêng tư trong kỷ nguyên số), A/HRC/RES/48/4, 2021
(8) United Nations General Assembly, Principles relating to the Status of National Institutions (The Paris Principles) (Tạm dịch: Các nguyên tắc liên quan đến quy chế của các cơ quan quốc gia (Các Nguyên tắc Paris), A/RES/48/134, 1993