Xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại, tạo động lực tăng trưởng vùng trong bối cảnh mới

TS NGUYỄN MẠNH DŨNG - TS TRỊNH MINH THÁI
Trường Đại học Thủ Dầu Một - Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
15:36, ngày 30-07-2026

TCCS - Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 10-02-2022, của Bộ Chính trị, “Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định nhiệm vụ xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kết nối giao thương kinh tế giữa Việt Nam, các nước ASEAN và vùng Tây Nam Trung Quốc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số mạnh mẽ và tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực, Lào Cai cần chuyển từ mô hình cửa khẩu thiên về thông quan, trung chuyển sang hệ sinh thái kinh tế biên mậu tích hợp, có năng lực tổ chức, cung ứng dịch vụ hiện đại, tạo giá trị tại chỗ và lan tỏa phát triển.

Lào Cai là cửa ngõ giao thương quốc tế quan trọng, giữ vai trò kết nối kinh tế giữa Việt Nam với thị trường Tây Nam Trung Quốc và khu vực ASEAN_Ảnh: daibieunhandan.vn

Cơ sở chính trị - thực tiễn và yêu cầu mới đối với việc xây dựng Lào Cai thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại

Lào Cai có vị trí địa kinh tế, địa chính trị đặc biệt trên hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là cửa ngõ kết nối Việt Nam và các nước ASEAN với tỉnh Vân Nam và vùng Tây Nam Trung Quốc. Việc hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, ngày 12-6-2025, của Quốc hội, “Về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh” đã hình thành tỉnh Lào Cai mới có diện tích 13.256,92km², dân số gần 1,78 triệu người và đường biên giới dài hơn 182km(1). Không gian phát triển mới làm gia tăng quy mô thị trường, nguồn hàng, lao động, công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; đồng thời tạo điều kiện tổ chức lại trục liên kết từ cửa khẩu qua các trung tâm đô thị, công nghiệp và vùng nguyên liệu dọc hành lang sông Hồng. Đây là lợi thế mới cần được chuyển hóa thành năng lực kết nối và điều phối kinh tế vùng.

Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 10-2-2022, của Bộ Chính trị, “Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và Quyết định số 1620/QĐ-TTg, ngày 20-12-2024, của Thủ tướng Chính phủ, “Ban hành Kế hoạch triển khai xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kết nối giao thương kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN với vùng Tây Nam Trung Quốc” đã đặt kinh tế cửa khẩu Lào Cai trong tổng thể phát triển vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, phát huy vai trò của hành lang kinh tế, cực tăng trưởng, cửa khẩu quốc tế và kết nối liên vùng. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 tiếp tục xác định xây dựng tỉnh trở thành cực tăng trưởng và trung tâm kết nối giao thương là một định hướng lớn. Vì vậy, phát triển kinh tế biên mậu không phải là nhiệm vụ riêng của khu vực cửa khẩu, mà là một trụ cột trong tổ chức không gian phát triển của toàn tỉnh và của vùng

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình phát triển. Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực tạo lập không gian thương mại rộng lớn giữa ASEAN và các đối tác, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand. Cơ hội mở rộng thị trường gắn với yêu cầu ngày càng cao về quy tắc xuất xứ, kiểm dịch, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ môi trường và trách nhiệm của chuỗi cung ứng. Đối với Lào Cai, phát huy vai trò cửa ngõ không chỉ là tăng số lượng hàng hóa qua biên giới, mà còn phải nâng cao năng lực tuân thủ, cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển sang thương mại chính ngạch và tổ chức các chuỗi cung ứng ổn định, có hợp đồng, tiêu chuẩn và khả năng kiểm soát rủi ro(2).

Chuyển đổi số và phát triển cửa khẩu thông minh là khâu đột phá để xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng của phát triển. Đối với kinh tế biên mậu Lào Cai, yêu cầu này được cụ thể hóa ở việc liên thông dữ liệu giữa hải quan, biên phòng, kiểm dịch, thuế, quản lý cửa khẩu, vận tải và doanh nghiệp; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn và mạng 5G trong phân luồng, giám sát, cảnh báo rủi ro và điều tiết phương tiện. Quyết định số 453/QĐ-TTg, ngày 18-3-2026, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt Đề án xây dựng cửa khẩu thông minh tại lối thông quan cầu đường bộ Kim Thành và lối thông quan Bản Vược” đã tạo cơ sở chính sách quan trọng để chuyển từ số hóa từng khâu sang đổi mới toàn diện mô hình quản trị cửa khẩu.

Cùng với đó, Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả hội nhập” nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế trên cơ sở tăng cường năng lực kết nối, phối hợp và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Đối với Lào Cai, hội nhập cần được thể hiện ở năng lực phối hợp với tỉnh Vân Nam trong quản lý cửa khẩu, chia sẻ thông tin, điều tiết hàng hóa, xử lý vướng mắc về kiểm dịch và tiêu chuẩn kỹ thuật, thúc đẩy thương mại điện tử và logistics xuyên biên giới. Tuy nhiên, mở rộng hợp tác phải luôn gắn với quản lý chặt chẽ biên giới, phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm xuyên quốc gia, bảo đảm an ninh dữ liệu, an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường. Phát triển kinh tế biên mậu chỉ bền vững khi lợi ích kinh tế gắn với củng cố “thế trận lòng dân”, nâng cao đời sống nhân dân vùng biên và xây dựng đường biên hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác, phát triển.

Như vậy, xây dựng Lào Cai thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại là yêu cầu khách quan xuất phát từ chủ trương của Đảng, Nhà nước, lợi thế địa kinh tế và không gian phát triển mới của tỉnh. Trọng tâm của quá trình này là tổ chức đồng bộ sáu cấu phần: Thể chế và điều phối; hạ tầng giao thông - logistics; quản trị số; dịch vụ và chuỗi giá trị; doanh nghiệp và nguồn nhân lực; hợp tác xuyên biên giới gắn với quốc phòng, an ninh. Khi các cấu phần này vận hành như một chỉnh thể, Lào Cai mới có thể chuyển lợi thế cửa ngõ thành năng lực cạnh tranh và sức lan tỏa phát triển thực chất.

Thực trạng trong phát triển kinh tế biên mậu tỉnh Lào Cai

Thời gian qua, kinh tế biên mậu Lào Cai đã đạt một số kết quả quan trọng, tạo tiền đề cho việc nâng cấp mô hình phát triển. Các kết quả nổi bật thể hiện ở sự phục hồi của hoạt động xuất nhập khẩu, từng bước hoàn thiện hạ tầng cửa khẩu, cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ số và mở rộng hợp tác với tỉnh Vân Nam. 

Thứ nhất, quy mô thương mại qua cửa khẩu có xu hướng phục hồi và mở rộng. Từ mức 210 triệu USD năm 2001, tổng giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu Lào Cai tăng lên 723 triệu USD năm 2007 và đạt 3,8 tỷ USD năm 2019, mức cao nhất trước đại dịch COVID-19. Năm 2024, tổng giá trị xuất nhập khẩu qua địa bàn đạt 3,625 tỷ USD, tăng 68% so với năm 2023(3). Trong gần 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu Lào Cai đạt khoảng 1,87 tỷ USD, tăng khoảng 35% so với cùng kỳ(4). Kết quả này cho thấy sức phục hồi của hoạt động cửa khẩu, đồng thời khẳng định vai trò của Lào Cai trong xuất khẩu nông sản, thủy sản và một số sản phẩm chế biến; nhập khẩu máy móc, thiết bị, phân bón, vật tư và nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước.

Thứ hai, hạ tầng cửa khẩu và kết nối giao thông từng bước được đầu tư, nâng cấp. Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai có quy mô gần 16.000ha, gồm các khu chức năng thương mại, dịch vụ, công nghiệp và logistics. Hệ thống cửa khẩu, lối thông quan đường bộ và đường sắt, cùng tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai, hệ thống kho bãi tại khu vực Kim Thành và các khu công nghiệp trên địa bàn đã nâng cao khả năng tiếp nhận, lưu giữ và vận chuyển hàng hóa(5). Việc điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai đến năm 2045 tạo cơ sở để tổ chức lại không gian cửa khẩu theo hướng tích hợp hơn. Dù mức độ kết nối đa phương thức còn hạn chế, những đầu tư này đã hình thành bộ khung hạ tầng ban đầu cho phát triển logistics và dịch vụ biên mậu.

Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành, tỉnh Lào Cai là đầu mối giao thương và thông quan nông sản, trái cây tươi lớn nhất giữa Việt Nam và thị trường Trung Quốc_Ảnh: baolaocai.vn

Thứ ba, cải cách hành chính và chuyển đổi số tại cửa khẩu có chuyển biến rõ nét. Nền tảng “Cửa khẩu số” tại lối thông quan Kim Thành được thí điểm từ tháng 8-2023 và vận hành chính thức từ tháng 5-2025, số hóa nhiều khâu trong quy trình kiểm tra, thông báo và xác nhận kết quả giải quyết thủ tục của các lực lượng chức năng(6). Việc ứng dụng camera nhận diện biển số, barie tự động, dữ liệu điện tử, điện toán đám mây và các công nghệ hỗ trợ đã góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm thao tác thủ công và rút ngắn thời gian xử lý. Theo Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai, lưu lượng phương tiện vận chuyển hàng hóa tăng từ khoảng 300 lượt xe/ngày năm 2023 lên khoảng 450 lượt xe/ngày năm 2024 và gần 500 lượt xe/ngày trong 9 tháng năm 2025; thời gian làm thủ tục tại barie số 1 giảm từ 4 - 6 phút xuống dưới 2 phút. Các kết quả này cho thấy chuyển đổi số đã bắt đầu tạo ra thay đổi có thể đo lường trong vận hành cửa khẩu(7).

Thứ tư, đề án về cửa khẩu thông minh tạo bước chuyển từ số hóa thủ tục sang hiện đại hóa mô hình vận chuyển và quản trị. Theo Quyết định số 453/QĐ-TTg, ngày 18-3-2026, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt Đề án xây dựng cửa khẩu thông minh tại lối thông quan cầu đường bộ Kim Thành và lối thông quan Bản Vược”, mô hình được triển khai tại lối thông quan cầu đường bộ Kim Thành và lối thông quan Bản Vược, ứng dụng phương tiện giao thông thông minh tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, mạng 5G và hệ thống định vị vệ tinh. Đến năm 2030, Đề án đặt mục tiêu nâng năng lực vận chuyển hàng hóa qua hai lối thông quan lên gấp hai lần, giảm 20% - 30% chi phí logistics đối với doanh nghiệp sử dụng phương tiện tự động hóa và đưa tổng giá trị xuất nhập khẩu qua hai lối thông quan đạt khoảng 9 tỷ USD(8). Việc xác lập các chỉ tiêu cụ thể là cơ sở quan trọng để chuyển mục tiêu “cửa khẩu thông minh” thành chương trình hành động có thể giám sát, đánh giá.

Thứ năm, hợp tác kinh tế biên giới với tỉnh Vân Nam tiếp tục được duy trì và mở rộng. Hai bên thường xuyên tổ chức hội đàm, trao đổi đoàn, phối hợp điều tiết thông quan, kết nối doanh nghiệp, xúc tiến thương mại và nghiên cứu Khu hợp tác kinh tế qua biên giới. Hội chợ thương mại quốc tế Việt Nam - Trung Quốc (Lào Cai) được tổ chức định kỳ, tạo kênh quảng bá hàng hóa, tìm kiếm đối tác và trao đổi thông tin thị trường(9). Các cơ chế hợp tác này góp phần xử lý kịp thời một số vấn đề phát sinh về thời gian mở cửa, kiểm dịch, phân luồng phương tiện và nhu cầu thị trường; đồng thời tạo nền tảng chính trị - đối ngoại để triển khai các mô hình hợp tác mới trong logistics, thương mại điện tử và chuỗi cung ứng xuyên biên giới.

Thứ sáu, việc hình thành tỉnh Lào Cai mới mở ra khả năng tổ chức nguồn hàng và không gian hậu cần ở quy mô lớn hơn. Khu vực Yên Bái trước đây có lợi thế về nông, lâm, khoáng sản, công nghiệp chế biến, du lịch và vị trí trên trục cao tốc Nội Bài - Lào Cai; khu vực Lào Cai trước đây có lợi thế cửa khẩu, công nghiệp, logistics và hợp tác biên giới. Sự bổ trợ này tạo điều kiện hình thành chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất, trung tâm phân phối đến cửa khẩu. Nếu được tích hợp trong quy hoạch tỉnh và kế hoạch đầu tư công, không gian phát triển mới có thể giúp giảm tình trạng cửa khẩu thiếu nguồn hàng ổn định, đồng thời mở rộng tác động lan tỏa của kinh tế biên mậu vào khu vực nội tỉnh.

Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế biên mậu Lào Cai vẫn tồn tại một số điểm nghẽn mang tính cấu trúc. Các hạn chế này không chỉ làm tăng chi phí giao dịch và giảm sức hấp dẫn của cửa khẩu, mà còn cản trở quá trình chuyển đổi từ mô hình thiên về thông quan, trung chuyển sang mô hình tích hợp, thông minh, bền vững và có giá trị gia tăng cao.

Thứ nhất, kết nối logistics đa phương thức còn yếu. Vận chuyển hàng hóa qua địa bàn vẫn phụ thuộc lớn vào đường bộ, trong khi đường sắt hiện hữu có hạn chế về khổ đường, tốc độ, năng lực khai thác và kết nối kỹ thuật với phía Trung Quốc. Hệ thống cảng cạn, kho ngoại quan, kho lạnh, trung tâm phân phối và dịch vụ vận tải đa phương thức chưa phát triển tương xứng với quy mô và yêu cầu của dòng hàng. Việc kết nối giữa cửa khẩu với vùng sản xuất, khu công nghiệp, trung tâm logistics và cảng biển Hải Phòng còn có khâu chưa thông suốt, làm tăng chi phí sang tải, lưu kho và thời gian vận chuyển; từ đó làm giảm lợi thế cạnh tranh của hành lang qua Lào Cai.

Thứ hai, cơ cấu dịch vụ biên mậu còn nghiêng về các khâu có giá trị gia tăng thấp. Nhiều doanh nghiệp chủ yếu thực hiện đại lý, khai báo hải quan, bốc xếp, vận chuyển và dịch vụ hỗ trợ đơn giản. Các dịch vụ tài chính thương mại, bảo hiểm quốc tế, tư vấn tiêu chuẩn, kiểm định chất lượng, logistics lạnh, quản trị chuỗi cung ứng và hoàn tất đơn hàng thương mại điện tử xuyên biên giới còn hạn chế. Do đó, quy mô hàng hóa tăng chưa đồng nghĩa với giá trị kinh tế để lại trên địa bàn tăng tương ứng. Khoảng cách giữa “kim ngạch đi qua” và “giá trị được tạo ra, được giữ lại” vẫn là hạn chế căn bản của mô hình hiện nay.

Thứ ba, tính ổn định và khả năng chống chịu của hoạt động biên mậu chưa cao. Hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc, một số nhóm hàng nông sản và một số lối thông quan chủ yếu. Những thay đổi về kiểm dịch, tiêu chuẩn bao bì, nhãn mác, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc hoặc thời gian mở cửa có thể gây ùn ứ cục bộ, tăng chi phí và làm giảm chất lượng hàng hóa. Trong khi đó, khả năng dự báo thị trường, cảnh báo sớm và điều tiết nguồn hàng theo năng lực tiếp nhận của cửa khẩu chưa thật sự hiệu quả. Điều này cho thấy, việc chuyển sang thương mại chính ngạch phải đi cùng với đa dạng hóa thị trường, hàng hóa và phương thức vận tải.

Thứ tư, thể chế điều phối, quy hoạch tích hợp và chia sẻ dữ liệu chưa theo kịp không gian phát triển mới. Sau hợp nhất tỉnh, yêu cầu đặt ra là kết nối quy hoạch khu kinh tế cửa khẩu với quy hoạch các vùng nguyên liệu, khu công nghiệp, đô thị, dịch vụ và hạ tầng của toàn tỉnh; đồng thời phân định rõ vai trò của từng khu vực trong chuỗi sản xuất - logistics - xuất khẩu. Tuy nhiên, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, địa phương, lực lượng cửa khẩu và doanh nghiệp còn có mặt phân tán; dữ liệu chuyên ngành chưa được chuẩn hóa và liên thông đầy đủ; việc trao đổi dữ liệu với phía Trung Quốc còn phụ thuộc vào thỏa thuận, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu bảo mật. 

Thứ năm, thu hút đầu tư vào chế biến sâu, logistics chuyên nghiệp và sản xuất sau cửa khẩu còn hạn chế. Số dự án có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng và liên kết với doanh nghiệp địa phương chưa tương xứng với tiềm năng. Hạ tầng kho lạnh, kiểm định, phân loại, đóng gói và chế biến nông, lâm, thủy sản chưa đáp ứng yêu cầu tạo giá trị tại chỗ. Năng lực tài chính, quản trị, công nghệ và tiếp cận thông tin thị trường của phần lớn doanh nghiệp địa phương còn hạn chế, khiến khu vực doanh nghiệp chưa phát huy đầy đủ vai trò chủ thể của hệ sinh thái biên mậu.

Thứ sáu, chất lượng nguồn nhân lực và mức độ lan tỏa xã hội của kinh tế biên mậu chưa đáp ứng yêu cầu mới. Lào Cai còn thiếu nhân lực chuyên sâu về logistics quốc tế, thương mại điện tử xuyên biên giới, tiếng Trung thương mại, pháp luật quốc tế, kiểm dịch, tiêu chuẩn kỹ thuật, an ninh mạng và quản trị dữ liệu. Liên kết giữa cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý và doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Đồng thời, lợi ích từ hoạt động cửa khẩu chưa lan tỏa đồng đều đến cộng đồng vùng biên thông qua việc làm chất lượng, dịch vụ xã hội, sinh kế bền vững và bảo vệ môi trường. Những điểm nghẽn này cho thấy nhiệm vụ trung tâm không phải là gia tăng đơn thuần quy mô thông quan, mà là nâng cấp toàn diện chất lượng phát triển.

Định hướng và giải pháp trọng tâm xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại

Phát triển kinh tế biên mậu Lào Cai cần quán triệt bốn quan điểm chủ yếu. Một là, đặt nhiệm vụ xây dựng trung tâm kinh tế biên mậu trong tổng thể chiến lược phát triển vùng, hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Hai là, chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa vào lưu lượng hàng hóa sang mô hình dựa vào năng suất logistics, dịch vụ giá trị gia tăng, công nghệ số và năng lực tạo giá trị tại chỗ. Ba là, khai thác hiệu quả không gian phát triển mới của tỉnh sau hợp nhất, lấy trục cửa khẩu - hành lang sông Hồng - vùng sản xuất và công nghiệp làm cấu trúc liên kết chủ đạo, bảo đảm phát triển hài hòa giữa khu vực biên giới và khu vực nội tỉnh. Bốn là, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới, an ninh dữ liệu, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa và nâng cao đời sống nhân dân; lấy hiệu quả, bền vững và khả năng lan tỏa làm tiêu chuẩn đánh giá.

Mục tiêu đến năm 2030 là xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại: kết nối logistics đa phương thức; quản trị cửa khẩu dựa trên dữ liệu; hệ thống dịch vụ hỗ trợ thương mại chuyên nghiệp; mạng lưới chế biến, phân phối và thương mại điện tử xuyên biên giới; cơ chế hợp tác ổn định với tỉnh Vân Nam. Đối với lối thông quan cầu đường bộ Kim Thành và lối thông quan Bản Vược, thực hiện các chỉ tiêu của Quyết định số 453/QĐ-TTg, nâng cao năng lực vận chuyển hàng hóa lên gấp hai lần, giảm 20 - 30% chi phí logistics đối với doanh nghiệp sử dụng phương tiện giao thông thông minh tự động hóa và đưa tổng giá trị xuất nhập khẩu qua hai lối thông quan đạt khoảng 9 tỷ USD. Đồng thời, nâng tỷ lệ thủ tục được xử lý trên nền tảng số, tăng tỷ trọng dịch vụ và hàng hóa qua chế biến, giảm thời gian lưu bãi, nâng mức độ hài lòng của doanh nghiệp và bảo đảm an ninh, an toàn, môi trường tại cửa khẩu.

Tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kết nối giao thương và logistics xuyên biên giới có năng lực cạnh tranh trong khu vực; là đầu mối tổ chức dòng hàng giữa Việt Nam, các nước ASEAN và vùng Tây Nam Trung Quốc; có không gian đô thị cửa khẩu - logistics thông minh, hệ thống dịch vụ hiện đại và chuỗi giá trị gắn với vùng sản xuất trong nước. Trung tâm này không chỉ đóng góp vào tăng trưởng của tỉnh, mà còn thực hiện vai trò kết nối vùng trung du và miền núi Bắc Bộ với vùng đồng bằng sông Hồng, cảng biển phía Bắc và thị trường Trung Quốc; đồng thời góp phần củng cố quốc phòng, an ninh và quan hệ láng giềng hữu nghị.

Định hướng phát triển trung tâm kinh tế biên mậu tỉnh Lào Cai trong thời gian tới cần được triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực trọng tâm, gắn với yêu cầu hiện đại hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy vai trò động lực tăng trưởng của vùng.

Cán bộ Chi cục Hải quan ga đường sắt quốc tế Lào Cai giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu_Ảnh: thoibaovietnam.vn

Thứ nhất, cần hình thành cấu trúc hạ tầng logistics đa phương thức, lấy tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, cao tốc Nội Bài - Lào Cai, hệ thống đường kết nối cửa khẩu, cảng cạn, kho lạnh và trung tâm phân phối làm các trụ cột. Hạ tầng vật chất phải được phát triển đồng bộ với hạ tầng số và tiêu chuẩn vận hành, bảo đảm kết nối hiệu quả giữa cửa khẩu, vùng nguyên liệu, khu công nghiệp, trung tâm đô thị và cảng biển.

Thứ hai, tổ chức lại chuỗi giá trị theo hướng tăng giá trị tại chỗ. Trọng tâm là phát triển phân loại, kiểm định, đóng gói, bảo quản lạnh, sơ chế, chế biến sâu, phân phối và hoàn tất đơn hàng; đồng thời liên kết nguồn hàng của tỉnh Lào Cai mới với các địa phương trong vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và các trung tâm sản xuất trong cả nước. Mỗi ngành hàng chủ lực cần có chuỗi liên kết, tiêu chuẩn, hợp đồng và phương án thị trường cụ thể.

Thứ ba, lấy cửa khẩu thông minh và hệ sinh thái dữ liệu biên mậu làm nền tảng đổi mới quản trị.Số hóa phải được triển khai toàn trình, từ khai báo, đặt lịch, phân luồng, kiểm tra, giao nhận đến thanh toán, truy xuất nguồn gốc và giám sát rủi ro. Dữ liệu phải được chuẩn hóa, liên thông, phân quyền và bảo vệ an toàn; đồng thời phục vụ dự báo, cảnh báo sớm, điều tiết nguồn hàng và hoạch định chính sách.

Thứ tư, mở rộng liên kết vùng và hợp tác xuyên biên giới theo hướng thực chất, ổn định, cùng có lợi. Hợp tác với tỉnh Vân Nam cần tập trung vào kết nối hạ tầng, phối hợp thời gian làm việc, chia sẻ thông tin, tiêu chuẩn kỹ thuật, logistics và thương mại điện tử; liên kết trong nước tập trung vào tổ chức nguồn hàng, đầu tư hạ tầng và dịch vụ. Toàn bộ quá trình phải gắn với tăng trưởng xanh, giảm phát thải, quản lý tài nguyên, bảo đảm an ninh phi truyền thống và xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện.

Để hiện thực hóa mục tiêu đề ra, cần triển khai hệ thống giải pháp đồng bộ nhưng có thứ tự ưu tiên, lộ trình và phân công trách nhiệm rõ ràng. Những nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của tỉnh phải được chủ động tổ chức thực hiện; những vấn đề liên quan đến cơ chế đặc thù, đầu tư hạ tầng quốc gia và thỏa thuận với phía Trung Quốc cần được tổng hợp, kiến nghị Trung ương và triển khai theo cơ chế phối hợp liên ngành, liên quốc gia. Trọng tâm trước mắt là hoàn thiện quy hoạch và thể chế điều phối, triển khai Đề án cửa khẩu thông minh đúng tiến độ, nâng cấp hạ tầng logistics, tổ chức nguồn hàng và phát triển doanh nghiệp, nhân lực.

Một là, hoàn thiện thể chế, cơ chế điều phối và quy hoạch không gian phát triển.

Trước hết, cần rà soát, cập nhật Quy hoạch tỉnh Lào Cai sau hợp nhất và đồng bộ với Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai. Quy hoạch cần xác định rõ vai trò của từng không gian: Kim Thành là trung tâm thông quan, logistics, thương mại điện tử và dịch vụ biên mậu; Bản Vược là không gian phát triển cửa khẩu thông minh, kho bãi, công nghiệp - logistics và phân phối; các khu vực biên giới khác gắn với thương mại địa phương, nông nghiệp đặc sản và du lịch; khu vực nội tỉnh là vùng nguồn hàng, chế biến, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ hậu cần. Việc phân vùng phải đi kèm danh mục dự án ưu tiên, nguồn lực, tiến độ và cơ chế phối hợp, khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, thiếu kết nối.

Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc theo lộ trình thận trọng, phù hợp với pháp luật mỗi nước và bảo đảm vững chắc chủ quyền, an ninh quốc gia. Nội dung hợp tác cần tập trung vào tạo thuận lợi thương mại, logistics, kiểm định, thương mại điện tử, sản xuất phục vụ xuất khẩu và dịch vụ hỗ trợ; đồng thời quy định rõ phạm vi, mô hình quản lý, cơ chế tài chính, lao động, dữ liệu, kiểm soát rủi ro và xử lý tranh chấp. Không chạy theo việc hình thành khu hợp tác bằng mọi giá, mà phải đặt hiệu quả kinh tế, tính khả thi pháp lý và yêu cầu quốc phòng, an ninh lên hàng đầu.

Đổi mới chính sách thu hút đầu tư theo hướng có điều kiện và lựa chọn nhà đầu tư chiến lược. Ưu tiên các dự án cảng cạn, trung tâm logistics, kho lạnh, kiểm định, chế biến nông, lâm, thủy sản, thương mại điện tử xuyên biên giới, công nghệ số và dịch vụ tài chính thương mại. Ưu đãi cần gắn với tiêu chí về năng lực công nghệ, hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường, đào tạo lao động, chuyển giao kỹ năng, sử dụng nhà cung ứng địa phương và đóng góp vào chuỗi giá trị. Đồng thời, thực hiện công khai danh mục dự án, quỹ đất, tiêu chuẩn lựa chọn nhà đầu tư và tiến độ xử lý thủ tục để nâng cao tính minh bạch, hạn chế dự án chậm triển khai.

Hai là, tạo đột phá về hạ tầng giao thông và logistics đa phương thức.

Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để đẩy nhanh triển khai tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng khổ tiêu chuẩn 1.435mm và nghiên cứu phương án kết nối kỹ thuật, vận hành hiệu quả với hệ thống đường sắt phía Trung Quốc. Cùng với đó, tiếp tục nâng cấp cao tốc Nội Bài - Lào Cai, các tuyến kết nối dọc biên giới, đường vào cửa khẩu, đường nối khu công nghiệp, vùng nguyên liệu và trung tâm logistics. Đối với Cảng hàng không Sa Pa, cần đặt trong tổng thể kết nối du lịch, dịch vụ và vận chuyển hàng hóa có giá trị cao, bảo đảm hiệu quả đầu tư và phù hợp với nhu cầu thị trường.

Hình thành cụm logistics Kim Thành - Bản Vược với các chức năng cảng cạn, kho ngoại quan, kho lạnh, kiểm định, phân loại, đóng gói, phân phối, vận tải đa phương thức và hoàn tất đơn hàng thương mại điện tử. Phát triển hạ tầng phải đi đôi với nâng cao năng lực vận hành: xây dựng tiêu chuẩn dịch vụ, cơ chế chia sẻ hạ tầng, hệ thống đặt chỗ và điều độ phương tiện, công khai giá dịch vụ, thu hút doanh nghiệp logistics đầu tàu và kết nối trực tiếp với cảng biển Hải Phòng, các trung tâm sản xuất, phân phối trong nước. Khi hạ tầng được khai thác với công suất và chất lượng cao, đầu tư mới chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh.

Ba là, triển khai đồng bộ cửa khẩu thông minh và hệ sinh thái dữ liệu biên mậu.

Tại lối thông quan Kim Thành, giai đoạn từ quý II-2026 đến hết quý I-2027, cần tập trung lựa chọn nhà đầu tư, xây dựng hạ tầng, lắp đặt thiết bị, hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin và cơ sở pháp lý; từ quý II-2027 triển khai vận hành, đánh giá và mở rộng. Tại lối thông quan Bản Vược, hoàn thành các điều kiện mở lối thông quan, hạ tầng, công nghệ và pháp lý đến hết quý IV-2028; từ quý I-2029 tổ chức vận hành. Trong quá trình thực hiện, cần xây dựng phương án dự phòng kỹ thuật, quy trình vận hành song song giữa phương thức thông minh và phương thức truyền thống, bảo đảm hoạt động thông quan không bị gián đoạn.

Xây dựng nền tảng dữ liệu số thống nhất, kết nối các cơ quan quản lý và cung cấp một đầu mối tương tác cho doanh nghiệp. Nền tảng cần tích hợp khai báo, đặt lịch, theo dõi hồ sơ, điều độ phương tiện, tra cứu quy định kiểm dịch, tiêu chuẩn kỹ thuật, cảnh báo ùn tắc, truy xuất nguồn gốc và phản ánh kiến nghị. Dữ liệu phải được phân loại, chuẩn hóa, phân quyền và lưu vết; xác định rõ trách nhiệm cập nhật, khai thác, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu. Đồng thời, tăng cường an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu thương mại, xây dựng trung tâm giám sát và phương án ứng cứu sự cố, tránh để chuyển đổi số tạo ra rủi ro an ninh mới.

Phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới theo hướng thí điểm có kiểm soát. Nghiên cứu hình thành khu chức năng tại Kim Thành phục vụ kho ngoại quan, chuyển phát nhanh, hoàn tất đơn hàng, thanh toán, kiểm tra chất lượng và xử lý hàng hoàn. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa hải quan, thuế, quản lý thị trường, ngân hàng, doanh nghiệp nền tảng và đơn vị logistics; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sàn thương mại điện tử, chuẩn hóa dữ liệu sản phẩm, nhãn hiệu, bao bì và truy xuất nguồn gốc. Việc mở rộng phải đi cùng kiểm soát hàng giả, gian lận xuất xứ, bảo vệ người tiêu dùng và bảo đảm nghĩa vụ thuế.

Bốn là, tổ chức lại nguồn hàng, nâng cấp chuỗi giá trị và phát triển sản xuất tại chỗ.

Xây dựng chương trình phát triển nông sản xuất khẩu chính ngạch gắn với từng ngành hàng và từng thị trường. Phối hợp với các địa phương nguồn hàng để quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm dịch, dư lượng, bao bì, nhãn mác, bảo quản và truy xuất nguồn gốc; thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin về mùa vụ, năng lực cửa khẩu và nhu cầu thị trường. Hình thành trung tâm kiểm định, kiểm dịch và tư vấn tiêu chuẩn kỹ thuật tại khu vực cửa khẩu, giúp doanh nghiệp kiểm tra, hoàn thiện hồ sơ trước khi đưa hàng vào khu vực thông quan. Chuyển từ xử lý ùn tắc bị động sang điều tiết nguồn hàng chủ động, dựa trên dữ liệu và hợp đồng thị trường.

Phát triển các cơ sở phân loại, đóng gói, kho lạnh, sơ chế và chế biến sâu gắn với vùng nguyên liệu của tỉnh Lào Cai mới và các địa phương lân cận. Ưu tiên nông, lâm, thủy sản, dược liệu, sản phẩm đặc sản và một số sản phẩm công nghiệp có nhu cầu thị trường ổn định. Khuyến khích hình thành liên kết dài hạn giữa doanh nghiệp xuất khẩu, hợp tác xã, nông dân, doanh nghiệp logistics và nhà nhập khẩu; áp dụng tiêu chuẩn chất lượng thống nhất, cơ chế chia sẻ rủi ro và truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, phát triển công nghiệp hỗ trợ, sửa chữa phương tiện, bao bì, vật tư và dịch vụ kỹ thuật để tăng tỷ lệ giá trị được tạo ra trên địa bàn.

Năm là, phát triển doanh nghiệp, nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp biên mậu theo chuỗi, bảo đảm tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu quả hỗ trợ. Doanh nghiệp cần được tư vấn về tiêu chuẩn thị trường Trung Quốc, quy tắc xuất xứ, hợp đồng quốc tế, bảo hiểm, thanh toán, sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử và quản trị rủi ro. Khuyến khích doanh nghiệp logistics lớn liên kết, chuyển giao quy trình cho doanh nghiệp địa phương; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, tham gia mạng lưới nhà cung ứng và xây dựng thương hiệu. Đồng thời, tăng cường đối thoại định kỳ, công khai thời gian xử lý thủ tục, giá dịch vụ và kết quả giải quyết kiến nghị để cải thiện môi trường kinh doanh.

Xây dựng chương trình đào tạo nhân lực chuyên sâu về logistics quốc tế, quản trị chuỗi cung ứng, thương mại điện tử xuyên biên giới, tiếng Trung thương mại, pháp luật thương mại, kiểm dịch, tiêu chuẩn kỹ thuật, trí tuệ nhân tạo và an ninh dữ liệu. Kết nối các cơ sở đào tạo trên địa bàn với trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và đối tác phía Vân Nam để xây dựng chương trình theo vị trí việc làm, tăng thời lượng thực hành và đào tạo tại doanh nghiệp. Có chính sách thu hút chuyên gia, nhà quản trị logistics, nhân sự công nghệ và chuyên gia thị trường; đồng thời đào tạo, chuyển đổi nghề cho người dân vùng biên để họ tham gia trực tiếp và hưởng lợi bền vững từ quá trình phát triển.

Sáu là, nâng cao hiệu quả ngoại giao kinh tế, cơ chế điều phối và giám sát thực hiện.

Làm sâu sắc hợp tác với tỉnh Vân Nam thông qua cơ chế hội đàm định kỳ, đường dây trao đổi thông tin và nhóm công tác chuyên ngành về cửa khẩu thông minh, kiểm dịch, logistics, thương mại điện tử và xử lý ùn tắc. Chủ động đề xuất kéo dài thời gian làm việc trong mùa cao điểm, phối hợp dự báo lưu lượng, công bố sớm thay đổi chính sách và nghiên cứu công nhận lẫn nhau đối với một số kết quả kiểm tra, tiêu chuẩn hoặc chứng từ khi đủ điều kiện pháp lý. Ngoại giao kinh tế cần hướng vào kết quả cụ thể: mở thị trường cho ngành hàng, kết nối nhà đầu tư, giải quyết điểm nghẽn kỹ thuật và bảo đảm hoạt động cửa khẩu thông suốt, an toàn.

Thiết lập cơ chế điều phối thống nhất cấp tỉnh đối với chương trình phát triển trung tâm kinh tế biên mậu, gắn trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương và người đứng đầu. Xây dựng bộ chỉ tiêu giám sát gồm: thời gian thông quan toàn trình, thời gian lưu bãi, chi phí logistics, tỷ lệ thủ tục xử lý số, năng lực vận chuyển, tỷ lệ hàng hóa qua chế biến, số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ giá trị gia tăng, việc làm và thu nhập của người dân vùng biên, mức độ hài lòng của doanh nghiệp, chỉ tiêu môi trường và an ninh. Công bố kết quả định kỳ, kịp thời điều chỉnh dự án chậm tiến độ hoặc hiệu quả thấp. Giai đoạn 2026 - 2027 ưu tiên thể chế, dữ liệu và Kim Thành; giai đoạn 2028 - 2030 tập trung Bản Vược, logistics và chuỗi giá trị; sau năm 2030 mở rộng vai trò điều phối khu vực.

Xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển tỉnh Lào Cai mới, vùng trung du và miền núi Bắc Bộ và tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước. Với lộ trình rõ ràng, phân công trách nhiệm cụ thể, giám sát bằng chỉ tiêu định lượng và sự phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương, địa phương, doanh nghiệp và phía Trung Quốc, Lào Cai sẽ từng bước trở thành trung tâm kết nối giao thương hiện đại, tạo sức lan tỏa cho phát triển vùng, đồng thời góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển./.

----------------------------

(1) Xem: “Thông tin khái quát về tỉnh Lào Cai”, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Lào Cai, ngày 24-9-2025, https://laocai.gov.vn/gioi-thieu/thong-tin-khai-quat-ve-tinh-lao-cai-1310447
(2) Xem: “Hiệp định RCEP: Thúc đẩy năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, tạo điều kiện cho các nước thành viên hướng tới phát triển bền vững”, Bộ Công Thương, ngày 12-11-2024, https://moit.gov.vn/tin-tuc/thi-truong-nuoc-ngoai/hiep-dinh-rcep-thuc-day-nang-luc-canh-tranh-tren-thi-truong-quoc-te-tao-dieu-kien-cho-cac-nuoc-thanh-vien-huong-toi-phat.html
(3) Xem: “Kinh tế cửa khẩu - khẳng định vị thế Lào Cai”, Báo Lào Cai điện tử, ngày 2-2-2025, https://moit.gov.vn/tin-tuc/thi-truong-nuoc-ngoai/hiep-dinh-rcep-thuc-day-nang-luc-canh-tranh-tren-thi-truong-quoc-te-tao-dieu-kien-cho-cac-nuoc-thanh-vien-huong-toi-phat.html
(4) Xem: “Điểm tin về Lào Cai ngày 20-6-2026”, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Lào Cai, ngày 20-6-2026, https://laocai.gov.vn/diem-bao/diem-tin-ve-lao-cai-ngay-20-6-2026-1596234
(5) Xem: “Ủy ban nhân dân tỉnh công bố điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai đến năm 2045”, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Lào Cai, ngày 26-9-2025, https://www.laocai.gov.vn/tin-thoi-su/ubnd-tinh-cong-bo-dieu-chinh-quy-hoach-chung-xay-dung-khu-kinh-te-cua-khau-lao-cai-den-nam-2045-1542579
(6) Xem: “Chuyển đổi số tại Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Lào Cai: Bước tiến đột phá trong năm 2025”, Cải cách hành chính tỉnh Lào Cai, ngày 25-12-2025, https://cchc.laocai.gov.vn/tin-tuc-su-kien/chuyen-doi-so-tai-khu-kinh-te-cua-khau-tinh-lao-cai-buoc-tien-dot-pha-trong-nam-2025-1558493
(7) Xem: “Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai đạt Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam năm 2025”, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Lào Cai, ngày 8-10-2025, https://bqlkkt.laocai.gov.vn/chuyen-doi-so-khu-kinh-te/ban-quan-ly-khu-kinh-te-tinh-lao-cai-dat-giai-thuong-chuyen-doi-so-viet-nam-nam-2025-1545360
(8) Quyết định số 453/QĐ-TTg, ngày 18-3-2026, Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt Đề án xây dựng cửa khẩu thông minh tại lối thông quan cầu đường bộ Kim Thành và lối thông quan Bản Vược thuộc cửa khẩu quốc tế Lào Cai”
(9) Xem: “Khai mạc Hội chợ Thương mại quốc tế Việt - Trung (Lào Cai) lần thứ 25, năm 2025”, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Lào Cai, ngày 20-11-2025, https://www.laocai.gov.vn/tin-trong-tinh/hoi-cho-thuong-mai-quoc-te-viet-trung-lao-cai-lan-thu-25-se-dien-ra-tu-ngay-11-11-2025-den-ngay--1467285