TCCS - Người cao tuổi ngày càng giữ vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển bền vững của quốc gia. Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, việc xây dựng và hoàn thiện chính sách phát huy vai trò của người cao tuổi càng trở nên cần thiết, qua đó tranh thủ và tận dụng nguồn nhân lực giàu tri thức, dồi dào kinh nghiệm để đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Một số vấn đề về già hóa dân số

Già hóa dân số trở thành xu thế mang tính toàn cầu khi quy mô và tỷ lệ người cao tuổi tại hầu hết quốc gia đều gia tăng theo mức độ khác nhau. Trên phạm vi thế giới, già hóa được xem như một dấu hiệu của tiến bộ xã hội và kinh tế, phản ánh việc cải thiện sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và mở rộng nội hàm phát triển con người. Trong những năm tới, quá trình già hóa dân số sẽ trở thành yếu tố có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong ngắn hạn, già hóa dân số ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu lực lượng lao động, từ đó tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội. Về dài hạn, già hóa dân số tạo ra những tác động đa chiều trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế đến an sinh xã hội và văn hóa, hệ giá trị quốc gia.

Hoạt động đồng diễn múa quạt dưỡng sinh người cao tuổi mang đến sân chơi sinh hoạt, giao lưu bổ ích và tinh thần sống chủ động của người cao tuổi Việt Nam_Ảnh: hanoimoi.vn

Trong cấu trúc gia đình, người cao tuổi đóng vai trò nền tảng thông qua việc trao truyền kinh nghiệm sống, truyền đạt kiến thức cho con cháu, tham gia gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa của gia đình, dòng họ và cộng đồng. Vai trò đó góp phần quan trọng vào việc gìn giữ các giá trị truyền thống, là “cầu nối” liên thế hệ, trao truyền tri thức, kinh nghiệm sống, ứng xử cho các thế hệ sau, tạo nền tảng phát triển liên tục, bền vững của xã hội. Ở góc độ kinh tế - xã hội, người cao tuổi không chỉ là đối tượng được chăm sóc mà còn là nguồn lực cần được khai thác và phát huy. Với sức khỏe được cải thiện, tuổi thọ kéo dài hơn, khả năng tham gia vào các hoạt động sản xuất, khoa học - kỹ thuật, người cao tuổi có thể đóng góp một cách tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Trên phương diện văn hóa, việc khuyến khích người cao tuổi tham gia vào các hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục - thể thao và giải trí sẽ giúp nâng cao chất lượng sống của người cao tuổi, giữ gìn nền nếp, gia phong và các giá trị đạo đức truyền thống của gia đình, dân tộc.

Quyết định số 383/QĐ-TTg, ngày 21-2-2025, của Thủ tướng Chính phủ, về Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định: “Người cao tuổi là nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc. Phát huy tối đa tiềm năng, vai trò, kinh nghiệm, tri thức của người cao tuổi trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, việc làm, kinh tế, chính trị của đất nước phù hợp với nguyện vọng, nhu cầu, khả năng của người cao tuổi là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”(1). Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có quá trình già hóa dân số diễn ra với tốc độ nhanh. Theo Kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ tại thời điểm ngày 1-4-2024, “cả nước có khoảng 14,2 triệu người cao tuổi, chiếm trên 14% dân số. Trong đó, khoảng 2,6 triệu người từ 80 tuổi (chiếm 15,9% tổng số người cao tuổi); 9,05 triệu người cao tuổi là nữ (chiếm 57,8%)”(2).

Thống kê năm 2024 cho thấy, “số lượng người già từ 60 tuổi trở lên là 14,2 triệu người, tăng 2,8 triệu người so với năm 2019 và tăng 4,7 triệu người so với năm 2014. Dự báo đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ xấp xỉ 18 triệu người, tăng gần 4 triệu người so với năm 2024”(3). Sự chuyển dịch nhân khẩu học này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống an sinh xã hội, bảo đảm thu nhập - yếu tố giữ vai trò quyết định đối với chất lượng sống của người cao tuổi.

Hiện nay, đa số người cao tuổi cư trú tại khu vực nông thôn và không có nguồn thu nhập ổn định. Chỉ khoảng 40% số người cao tuổi được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp ưu đãi; trong khi 60% số người cao tuổi còn lại phụ thuộc vào sự hỗ trợ của gia đình hoặc phải tự tìm kiếm sinh kế; khoảng 6 triệu người cao tuổi không có thu nhập thường xuyên. Luật pháp quy định cụ thể quyền người cao tuổi được tham gia vào các hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục thể thao, giải trí, du lịch và quyền được nghỉ ngơi của đối tượng này, tuy nhiên, việc hiện thực hóa quyền của người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số nhanh đặt ra nhiều thách thức. Mặc dù pháp luật quy định về quyền tiếp cận chăm sóc y tế, tham gia xã hội và phát huy trí tuệ và kinh nghiệm của người cao tuổi, song thực tế cho thấy, nhiều người cao tuổi - đặc biệt tại vùng nông thôn hoặc vùng khó khăn - vẫn chưa được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ này. Do đó, trong nghiên cứu về chính sách người cao tuổi tại Việt Nam, cần xem xét những nội dung sau: (1) Hiệu quả triển khai các quy định pháp luật từ khung pháp lý đến thực tiễn tại địa phương; (2) Yếu tố điều kiện để người cao tuổi phát huy vai trò của mình bao gồm sức khỏe, kỹ năng, môi trường xã hội; (3) Mô hình khai thác và tận dụng vai trò người cao tuổi trong phát triển kinh tế -  xã hội - văn hóa. Điều này đòi hỏi cách tiếp cận chính sách mang tính tổng thể nhằm thúc đẩy quá trình “già hóa chủ động” và khỏe mạnh. Việc “xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách về người cao tuổi theo hướng toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hộiPhát huy tiềm năng, vai trò, kinh nghiệm, tri thức của người cao tuổi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước”(4) là cần thiết. Đồng thời cần sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, ngành, nâng cao nhận thức và khuyến khích mỗi cá nhân chuẩn bị sớm cho tuổi già để ứng phó hiệu quả với xu hướng già hóa dân số nhanh hiện nay.

Thực hiện chính sách cho người cao tuổi ở Việt Nam thời gian qua

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến vị trí, vai trò của người cao tuổi trong đời sống chính trị - xã hội nhằm động viên, khích lệ, củng cố niềm tin của đội ngũ cán bộ, hội viên, toàn thể người cao tuổi trên khắp cả nước. Chủ trương, quan điểm của Đảng được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, hình thành khuôn khổ chính sách tương đối toàn diện nhằm phát huy hiệu quả vai trò của người cao tuổi, coi người cao tuổi là nguồn lực quan trọng, tham gia tích cực vào công tác xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12 chỉ rõ, người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên, qua đó khẳng định vai trò của người cao tuổi trong hệ thống chính sách quốc gia, tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm chăm sóc tốt, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người cao tuổi. Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân và gia đình trong việc chăm sóc người cao tuổi, đồng thời thiết lập các chính sách hỗ trợ về tài chính, y tế và văn hóa. Các bộ, ngành chức năng đã xây dựng hướng dẫn cụ thể nhằm triển khai hiệu quả các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, như: Bộ Giao thông Vận tải ban hành Công văn số 7849/BGTVT-VT, ngày 22-11-2011, về việc giảm giá vé cho người cao tuổi khi tham gia giao thông công cộng; Bộ Y tế có Công văn số 1727/BYT-KCB và 1728/BYT-KCB, ngày 30-3-2016, về việc thực hiện chăm sóc sức khỏe và khám sức khỏe định kỳ người cao tuổi.

Hiến pháp 2013 lần đầu tiên đề cập đầy đủ thuật ngữ “người cao tuổi” tại khoản 2 Điều 59 và khoản 3 Điều 3, khẳng định mục tiêu phát triển hệ thống an sinh xã hội, bảo đảm bình đẳng và công bằng cho mọi thành viên. Trên cơ sở này, các chính sách dành cho người cao tuổi đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật, tạo khuôn khổ chính sách toàn diện dành cho người cao tuổi tại Việt Nam(5). Điều 37 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(6); đồng thời chỉ rõ, Nhà nước, gia đình, cộng đồng có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ và phát huy vai trò của người cao tuổi trong đời sống xã hội, làm cơ sở pháp lý cao nhất thể hiện cam kết bảo đảm quyền lợi cho người cao tuổi.

Chương trình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030 (Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 13-10-2020 của Thủ tướng Chính phủ) và Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2021 - 2030 (Quyết định số 2156/QĐ-TTg ngày 21-12-2021) đặt mục tiêu bảo đảm ít nhất 70% số NCT được khám sức khỏe định kỳ và chăm sóc tại nhà. Chương trình còn hướng tới phát triển các dịch vụ y tế lão khoa và tăng cường năng lực cho đội ngũ y tế. Đây là căn cứ quan trọng nhằm mở rộng phạm vi bảo trợ cho người cao tuổi. Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) đã bổ sung chương III về trợ cấp hưu trí xã hội, theo đó, công dân Việt Nam từ đủ 75 tuổi trở lên mà không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng (trừ trường hợp khác theo quy định của Chính phủ) hoặc đối tượng là công dân Việt Nam từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và đáp ứng đủ điều kiện quy định thì được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 158/2025/NĐ-CP, ngày 25-6-2025, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Một trong những điểm nhấn của chính sách phát huy vai trò người cao tuổi là việc triển khai thực hiện các Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau. Chương trình bao gồm nhiều hoạt động khám, chăm sóc sức khỏe định kỳ, truyền thông phòng, chống bệnh tật và các lớp tập luyện thể dục dưỡng sinh tại cộng đồng giúp nâng cao thể trạng, duy trì sức khỏe cho người cao tuổi, góp phần kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh. “Tính đến thời điểm hiện tại, 100% tỉnh, thành phố trên cả nước đã thành lập ít nhất một câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau, vượt 5% chỉ tiêu đề ra. Tổng số câu lạc bộ thành lập mới đạt hơn 6.000, gấp đôi so với kế hoạch ban đầu. Số lượng thành viên tham gia đạt khoảng 330.000 người, trong đó người cao tuổi chiếm trên 231.000, vượt hơn 230% chỉ tiêu nhiệm vụ giao… Hầu hết các câu lạc bộ đều xây dựng được quỹ tăng thu nhập và quỹ hoạt động ổn định, tạo nền tảng tài chính vững chắc cho các hoạt động chung”(7). Mô hình trên thu hút sự quan tâm trong nước, được ghi nhận qua giải thưởng quốc tế “Sáng kiến vì một châu Á già hóa khỏe mạnh”, minh chứng cho hiệu quả thực tiễn, có giá trị tham khảo trong hoạch định chính sách cho người cao tuổi.

Mặc dù việc thực hiện chính sách cho người cao tuổi tại Việt Nam đạt được kết quả tích cực, song trên thực tế vẫn còn nhiều thách thức:

Trước hết là tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ. Nhiều người cao tuổi cư trú tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hoặc thuộc nhóm nghèo và cận nghèo vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế chuyên biệt, chăm sóc dài hạn, hỗ trợ xã hội và lao động phù hợp sức khỏe. Nghiên cứu cho thấy, khoảng 27% người cao tuổi ở Việt Nam có lương hưu hoặc nguồn thu nhập ổn định; còn khoảng 73% sống không có hoặc gần như không có nguồn thu nhập ổn định.

Thứ hai, hạn chế về cơ sở vật chất và nguồn lực. Các hoạt động khám sức khỏe định kỳ, truyền thông phòng, chống bệnh tật và tập luyện thể dục dưỡng sinh tại cộng đồng đã giúp người cao tuổi nâng cao thể trạng, duy trì sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Tuy nhiên, hệ thống chăm sóc đối với người cao tuổi, như cơ sở chăm sóc dài hạn, dịch vụ y tế chuyên ngành lão khoa, hoặc các câu lạc bộ hỗ trợ liên thế hệ vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng khi dân số già nhanh.

Thứ ba, thiếu hụt nguồn lực tài chính và thách thức về bền vững tài chính. Trên thực tế, đời sống của nhiều người cao tuổi vẫn còn nhiều khó khăn: theo số liệu, tỷ lệ người nghèo trong nhóm này là 23,5%, đặc biệt là ở vùng nông thôn; phần lớn người cao tuổi chỉ nhận trợ cấp xã hội ở mức 360.000 đồng, 540.000 đồng hoặc 720.000 đồng mỗi tháng - thấp hơn nhiều so với chuẩn nghèo khu vực nông thôn trong khi mức trợ cấp tối đa hiện nay chỉ là 1.080.000 đồng/tháng. Việt Nam đang trong giai đoạn già hóa dân số nhanh, trong khi mức thu nhập bình quân chưa cao và hệ thống an sinh xã hội chưa hoàn thiện thì việc mở rộng các chính sách trợ giúp người cao tuổi đòi hỏi nguồn ngân sách lớn, đặt ra vấn đề cân đối ngân sách và phân bổ nguồn lực ưu tiên.

Thứ tư, các cơ chế, chính sách bảo đảm người cao tuổi tiếp tục cống hiến, khẳng định giá trị vẫn chưa hoàn thiện. “Chưa thu hút được người cao tuổi tham gia hỗ trợ địa phương, sáng kiến của người cao tuổi chưa được coi trọng, tiếp thu, chưa có chiến lược dài hơi mang tầm quản trị quốc gia về thu hút, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn nhân lực - người cao tuổi ở nước ta… Tất cả hạn chế này tạo nên sự lãng phí lớn nhân lực của xã hội”(8). Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ “già trước khi giàu”, khi tốc độ già hóa dân số tiếp tục tăng nhanh trong khi tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người mới ở mức trung bình thấp (khoảng 2.000 USD), các chính sách an sinh xã hội, lồng ghép vấn đề chính sách này vào trong các chương trình kinh tế, chính sách y tế… dành cho người cao tuổi chưa thực sự hoàn chỉnh(9). Trước bối cảnh đó, đòi hỏi cần quan tâm, hoàn thiện chính sách nhằm phát huy hiệu quả vai trò người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số nhanh hiện nay.

Hoàn thiện chính sách phát huy vai trò người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số nhanh

Để phát huy vai trò người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số nhanh chóng, cần tích cực triển khai thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, cần chủ động rà soát và đánh giá kết quả thực hiện các chính sách, pháp luật về người cao tuổi, như Quyết định số 383/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ, ngày 21-2-2025, “phê duyệt Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2025, tầm nhìn đến 2045”; Quyết định số 379/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ, ngày 20-2-2025, phê duyệt Đề án “Người cao tuổi tham gia thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm”. Trên cơ sở này, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Người cao tuổi 2009 và đề xuất các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi. Đồng thời, nghiên cứu và hoàn thiện các chính sách khuyến khích, thu hút lao động cao tuổi tham gia thị trường lao động thông qua tín dụng, ưu đãi thuế, đào tạo nghề, chuyển đổi nghề và các chính sách trợ giúp phù hợp khác.

Một yếu tố then chốt để bảo đảm quyền lợi của người cao tuổi là xây dựng hệ thống pháp luật chặt chẽ, toàn diện và khả thi. Tiếp tục đẩy mạnh việc rà soát, bổ sung và sửa đổi các quy định liên quan đến chăm sóc người cao tuổi, bao gồm các lĩnh vực y tế, bảo hiểm xã hội và phúc lợi xã hội sao cho phù hợp với xu hướng già hóa dân số và đặc thù nhóm người cao tuổi tại Việt Nam. Việc thiết kế những văn bản pháp luật này cần bảo đảm tính đồng bộ, tương thích, tránh chồng chéo hoặc mâu thuẫn lẫn nhau, đáp ứng tối đa nhu cầu thực tế của người cao tuổi.

Cần xây dựng và áp dụng các cơ chế giám sát chặt chẽ, từ việc công khai thông tin, tới việc lập chỉ số đo lường và báo cáo thực hiện nhằm bảo đảm chính sách hỗ trợ người cao tuổi được triển khai đúng mục tiêu, không lãng phí nguồn lực, không bỏ sót quyền lợi của người cao tuổi. Mặc dù nhiều chương trình cho người cao tuổi đã được triển khai song vẫn có sự khác biệt lớn giữa quy định và thực tế triển khai. Do đó, việc minh bạch thông tin và cơ chế phân bổ nguồn lực sẽ giúp hạn chế trùng chéo, sử dụng kém hiệu quả, góp phần củng cố niềm tin của người cao tuổi vào hệ thống chính sách.

Xây dựng và hoàn thiện các chính sách cụ thể về chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi_Ảnh: dantri.com.vn

Hai là, xây dựng khung pháp lý toàn diện về chăm sóc dài hạn người cao tuổi là nhiệm vụ chiến lược trong bối cảnh già hóa dân số nhanh, trong đó, có thể tích hợp cùng Luật Dân số, đồng thời gắn chặt với Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, dân số và phát triển để bảo đảm tính liên ngành, thống nhất từ chính sách đến thực tiễn. Khung pháp lý phải xác định rõ trách nhiệm, nguồn lực và cơ chế phối hợp liên ngành để bảo đảm tính bền vững và bao phủ toàn dân.

Việc phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc dựa vào cộng đồng, trong đó chăm sóc tại nhà (home-based care) đóng vai trò quan trọng. Mô hình chăm sóc dựa vào cộng đồng giúp đưa dịch vụ y tế, hỗ trợ xã hội và chăm sóc sinh hoạt đến nơi cư trú của người cao tuổi, giảm tải cho hệ thống bệnh viện, huy động hiệu quả nguồn lực tại chỗ, bao gồm gia đình, tình nguyện viên, tổ chức xã hội và chính quyền địa phương. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với điều kiện Việt Nam, nơi phần lớn người cao tuổi mong muốn được sống và sinh hoạt tại cộng đồng, duy trì các mối quan hệ xã hội thay vì chuyển vào cơ sở chăm sóc tập trung. Một minh chứng điển hình cho hiệu quả của phương thức chăm sóc dựa vào cộng đồng là sự phát triển mạnh mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau. Mô hình này không chỉ tạo ra mạng lưới hỗ trợ lẫn nhau giữa người cao tuổi và các nhóm dân cư khác, mà còn thúc đẩy tinh thần đoàn kết cộng đồng, tăng cường hỗ trợ đồng đẳng, nâng cao sức khỏe thể chất - tinh thần và khuyến khích người cao tuổi chủ động tham gia các hoạt động xã hội. Việc nhân rộng mô hình trên phạm vi toàn quốc cho thấy đây là một cấu phần quan trọng trong tiến trình “già hóa chủ động” cần tiếp tục thúc đẩy trong giai đoạn tới.

Ba là, xây dựng hệ thống an sinh xã hội theo tiếp cận vòng đời là hướng đi chiến lược nhằm bảo đảm sự quan tâm liên tục cho mọi đối tượng, từ thanh thiếu niên, người lao động đến người nghỉ hưu. Việc mở rộng bao phủ trợ giúp xã hội kết hợp với khuyến khích tham gia bảo hiểm, tích lũy tiết kiệm, đầu tư vào phòng ngừa y tế và nâng cao kỹ năng số là các thành tố then chốt để bảo đảm tính bền vững, công bằng và hiệu quả của hệ thống.

Bốn là, khuyến khích sự tham gia của người cao tuổi vào các lĩnh vực đời sống nhằm duy trì tự chủ tài chính, gia tăng giá trị xã hội của người cao tuổi, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trao truyền các giá trị truyền thống, vốn sống và kinh nghiệm quý giá của người cao tuổi cho xã hội. Cần xây dựng cơ chế, tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục tham gia các hoạt động lao động phù hợp với năng lực, sức khỏe, dưới nhiều hình thức, như lao động bán thời gian, tư vấn dự án, cố vấn cộng đồng, người hướng dẫn hoặc nhà giáo dục không chính thức.

Năm là, hoàn thiện trợ cấp hưu trí xã hội và trợ giúp xã hội theo hướng phổ cập theo độ tuổi. Xem xét mở rộng đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ độ tuổi hiện hành xuống thấp hơn, tăng mức bao phủ và công bằng trong tiếp cận chính sách. Điều chỉnh mức trợ cấp xã hội theo chu kỳ (mỗi 3 - 5 năm) tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội và chỉ số chi phí sinh hoạt. Khuyến khích người cao tuổi phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và vai trò trong gia đình - dòng họ - cộng đồng xã hội. Cần xây dựng cơ chế ghi nhận và phát huy vai trò của người cao tuổi có uy tín trong xây dựng làng văn hóa, bảo tồn bản sắc dân tộc, xóa bỏ hủ tục và củng cố tinh thần cộng đồng. Bố trí vị trí phù hợp cho người cao tuổi trong các tổ chức xã hội, hội người cao tuổi, các câu lạc bộ liên thế hệ. Tạo môi trường thuận lợi để họ tham gia tuyên truyền, vận động và hỗ trợ cộng đồng, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Kết hợp chính sách hỗ trợ truyền thông, xuất bản về “Gương sáng người cao tuổi” nhằm nhân rộng mô hình tốt và tôn vinh đóng góp tiêu biểu. “Phát triển các chương trình và mở nhiều cơ hội việc làm hơn cho người lớn tuổi. Chính phủ được coi là đóng một vai trò quan trọng trong việc biến tầm nhìn tăng việc làm của người cao tuổi thành hiện thực”(10).

Bên cạnh các cơ chế, chính sách của Nhà nước, sự tham gia và vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tổ chức, người sử dụng lao động và bản thân người cao tuổi để phát huy vai trò của mình trong xã hội đóng vai trò quan trọng để người cao tuổi thực sự trở thành nguồn lực đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước./.

--------------------------

(1) Xem: Quyết định số 383/QĐ-TTg, ngày 21-2-2025, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/02/383-qd-ttg.signed.pdf
(2) Liên Châu: Thách thức lớn khi mức sinh giảm, già hóa dân số nhanh, Báo Thanh niên, ngày 11-11-2025, https://thanhnien.vn/thach-thuc-lon-khi-muc-sinh-giam-gia-hoa-dan-so-nhanh-185251110211937419.htm
(3) Cục Thống kê, Bộ Tài chính: Xu hướng già hóa dân số nhanh ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp, https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/xu-huong-gia-hoa-dan-so-nhanh-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap/
(4) Xem: Quyết định số 383/QĐ-TTg, ngày 21-2-2025, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/02/383-qd-ttg.signed.pdf
(5) Nghị định số 13/2010/NĐ-CP, ngày 27-2-2010 có sửa đổi, bổ sung một số điều về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số 06/2011/NĐ-CP, ngày 14-1-2011, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người cao tuổi; Thông tư 21/2011/TT-BTC, ngày 18-2-2011 của Bộ Tài chính quy định quản lý và sử dụng kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú, chúc thọ, mừng thọ và biểu dương, khen thưởng người cao tuổi; Thông tư 35/2011/TT-BYT, ngày 15-10-2011, của Bộ Y tế, hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; Thông tư 14/2013/TT-BYT; xây dựng và hướng dẫn địa phương triển khai mô hình “Tư vấn và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi”
(6) Hiến pháp 2013, https://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-van-ban-goc.aspx?ItemID=32801
(7) Phan Văn Hùng: Nhân rộng mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau: Hướng đi bền vững trong chăm sóc, bảo vệ và phát huy vai trò người cao tuổi Việt Nam, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 6-6-2025, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1098102/nhan-rong-mo-hinh-cau-lac-bo-lien-the-he-tu-giup-nhau--huong-di-ben-vung-trong-cham-soc%2C-bao-ve-va-phat-huy-vai-tro-nguoi-cao-tuoi-viet-nam.aspx
(8), (9) Bùi Nghĩa: Thực hiện chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay - Vấn đề và kiến nghị, Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một, số 2(41)-2019
(10) Trần Thị Thúy Ngọc: Già hóa dân số và tình trạng tham gia làm việc của người cao tuổi Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Đà Nẵng, Vol.19, No 8-2021