Đầu tư và tài chính giáo dục tại Việt Nam: Thực trạng và những định hướng tái cấu trúc chiến lược trong kỷ nguyên mới (Kỳ I)

TS NGUYỄN DUY THÁI - BÙI ĐỨC NAM
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
05:55, ngày 29-06-2026

Kỳ I: Nhận thức và thực tiễn phát triển

TCCS - Trong tiến trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, là động lực để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Vì vậy, đầu tư và tài chính giáo dục phải được nhận thức như một vấn đề của chiến lược phát triển, là bộ phận cấu thành sức mạnh nội sinh và năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các học sinh tiêu biểu tham dự Chương trình ''Trại hè yêu thương''_Ảnh: TTXVN 

Tư duy chiến lược của Đảng về đầu tư và tài chính giáo dục

Đảng luôn xác định giáo dục là khoản đầu tư cốt lõi cho năng lực tự chủ chiến lược và sức mạnh nội sinh của dân tộc. Sự ưu tiên nguồn lực cho giáo dục là một nguyên tắc nhất quán trong tư duy hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đặt viên gạch đầu tiên cho tư duy quản trị tài chính hiện đại. Đảng xác lập nguyên tắc: Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, bảo đảm tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo ở mức hợp lý. Tinh thần này đã được luật hóa tại Luật Giáo dục năm 2019, trong đó quy định Nhà nước ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách, bảo đảm dành ít nhất 20% tổng chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này (Điều 96)(1). Đây là một cam kết pháp lý và chính trị rất lớn, thể hiện quyết tâm giáo dục là “quốc sách hàng đầu”.

Bước vào kỷ nguyên mới, trước đòi hỏi khắt khe của bối cảnh cạnh tranh toàn cầu dựa trên tri thức, ngày 22-8-2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW “Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”. Nghị quyết chỉ rõ mục tiêu: “Xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao”(2). Tinh thần cốt lõi này tiếp tục được khẳng định và nâng tầm trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng với việc nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm: “Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế”… Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực, ngành, nghề trọng điểm, chiến lược”(3). Nguồn nhân lực chất lượng cao lúc này chính thức được Đảng xác định giữ vị trí “trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước”(4).

Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và các quyết sách mạnh mẽ tại Đại hội XIV của Đảng cho thấy vấn đề đầu tư và tài chính giáo dục đã trở thành vấn đề chiến lược, là quyết sách mang tính sống còn. 

Ở góc độ kinh tế - chính trị và an ninh - chiến lược, việc phân bổ nguồn lực để làm chủ nguồn nhân lực tri thức chính là chìa khóa để chuyển đổi mô hình tăng trưởng và bảo vệ vị thế quốc gia. Nghị quyết số 71-NQ/TW đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ phải xây dựng được một số cơ sở giáo dục đại học, trung tâm nghiên cứu đạt chuẩn tiên tiến trong khu vực và thế giới. Điều này đòi hỏi cơ chế phân bổ nguồn lực phải thoát ly khỏi tư duy cào bằng, chuyển sang đầu tư có trọng điểm và gắn với hiệu quả đầu ra (KPIs). Đại hội XIV của Đảng đề ra nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại theo hướng chuẩn hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt là phát triển nhân lực chất lượng cao trong các ngành nghề trọng điểm, chiến lược.

Nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, hệ thống pháp luật về giáo dục đã dần được hoàn thiện đồng bộ để khơi thông nguồn lực đầu tư, với trọng tâm là Nghị quyết số 248/2025/QH15, ngày 10-12-2025, “Về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”, những quy định mới nhất tại Luật Giáo dục đại học năm 2025 và Luật Giáo dục (sửa đổi năm 2025). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để đẩy mạnh xã hội hóa, thực hiện hiệu quả các dự án hợp tác công - tư (PPP) và vận hành mô hình tự chủ tài chính gắn với trách nhiệm giải trình trong giai đoạn hiện nay.

Nghị quyết số 248/2025/QH15 của Quốc hội có vai trò là văn bản trung tâm, xác lập các cơ chế đặc thù và vượt trội để khơi thông nguồn lực tài chính, cụ thể là: 1- Cơ chế liên kết đào tạo và nghiên cứu dựa trên nhu cầu thị trường (các cơ sở giáo dục được chủ động hợp tác sâu với các tổ chức khoa học, viện nghiên cứu và đặc biệt là các doanh nghiệp để triển khai các chương trình đào tạo gắn liền với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động); 2- Đột phá trong chính sách tín dụng và học bổng cho nguồn nhân lực chất lượng cao (thay vì đầu tư dàn trải, Nhà nước tập trung nguồn lực tài chính vào các “đầu tàu” tăng trưởng thông qua chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ); 3- Cơ chế “đầu tư công - quản trị tư” và ưu đãi PPP trong giáo dục (thực hiện các dự án đầu tư theo phương thức đối tác công - tư với tỷ lệ vốn nhà nước tham gia có thể lên tới 70% tổng mức đầu tư trong những trường hợp cần thiết).

Luật Nhà giáo năm 2025 bảo đảm “nguồn vốn nhân lực” thông qua quy định lương nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp, đi kèm với các phụ cấp ưu đãi nghề lên đến 70 - 100%. Đây là một trong những giải pháp quan trọng giúp giữ chân nhân tài và nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Một số kết quả trong đầu tư và tài chính giáo dục ở Việt Nam

Nhìn lại chặng đường hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW và qua các nhiệm kỳ đại hội của Đảng, công tác tài chính giáo dục đã đạt được những kết quả mang tính nền tảng, tạo dư địa và động lực quan trọng cho giai đoạn nâng tầm chất lượng trong kỷ nguyên mới. 

Cam kết chính trị mạnh mẽ và mức ưu tiên ngân sách cao

Thời gian qua, Việt Nam luôn duy trì mức ưu tiên ngân sách vượt trội cho giáo dục. Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo đạt mức 19 - 20% trong giai đoạn 2018 - 2024. Quy mô chi tiêu này duy trì ở mức 4 - 4,5% GDP(5). Đây là mức phân bổ thuộc nhóm cao nhất khu vực Đông Nam Á, bảo đảm nguồn lực cho mạng lưới trường lớp rộng khắp và quỹ lương cho đội ngũ hơn 1,6 triệu nhà giáo. 

Một đặc điểm nổi bật của ngân sách giáo dục tại Việt Nam là xu hướng tăng trưởng ổn định trong những năm gần đây. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong giai đoạn 2011 - 2020, chi tiêu cho giáo dục và đào tạo duy trì ở mức trung bình từ 17 - 18% tổng chi ngân sách nhà nước, với một số năm đạt gần 19%, tương ứng với khoảng 4,9% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, năm 2022, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo chỉ đạt 275.709 tỷ đồng trong tổng chi ngân sách nhà nước, chiếm khoảng 15,45%(6); năm 2024, con số này là 306.128 tỷ đồng, tăng khoảng 6,78% so với năm 2023, chiếm 20,58%(7)

Thủ đô Hà Nội đóng vai trò tiên phong trong việc thí điểm các mô hình tài chính đột phá theo Luật Thủ đô năm 2024. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách, thành phố đã chủ động khơi thông nguồn lực thông qua hai trụ cột chính: 1- Đột phá đầu tư PPP và quản trị cơ sở vật chất (cụ thể hóa Điều 38 và Điều 39 của Luật Thủ đô, Hà Nội áp dụng mô hình đối tác công - tư với các ưu đãi vượt trội về quỹ đất và thuế; được phép thực hiện dự án PPP trong lĩnh vực giáo dục với tỷ lệ vốn nhà nước tham gia linh hoạt, tạo điều kiện xây dựng các trường chất lượng cao, tầm cỡ quốc tế mà không gây áp lực lên đầu tư công); 2- Tự chủ tài chính gắn với cơ chế định mức đặc thù (dựa trên thẩm quyền quy định tại Điều 22, Hà Nội xác lập các định mức kinh tế - kỹ thuật và định mức chi phí riêng cho hệ thống giáo dục chất lượng cao và đa cấp học, cho phép các trường công lập tự chủ tài chính được chủ động trong việc định giá dịch vụ giáo dục, từ đó nâng cao thu nhập cho đội ngũ nhà giáo và tái đầu tư vào nghiên cứu khoa học)(8).

Ưu tiên đầu tư cho giáo dục còn được bảo đảm bởi hệ thống luật, chính sách nhằm bảo đảm sự thông suốt, ưu đãi, điển hình như Nghị định số 97/2023/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 31-12-2023, của Chính phủ về “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2021/NĐ-CP, ngày 27-8-2021, của Chính phủ, quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo”; Nghị quyết số 35/NQ-CP, ngày 4-6-2019, của Chính phủ, về “Tăng cường huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2019 - 2025”, qua đó đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội, khuyến khích các mô hình hợp tác công - tư (PPP) và tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 24/2021/NĐ-CP, ngày 15-5-2021, của Chính phủ, “Quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập”, qua đó tạo hành lang pháp lý cho các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập trong việc chủ động quản lý, sử dụng các nguồn thu hợp pháp để tái đầu tư cơ sở vật chất…

Kết quả phổ cập và công bằng xã hội

Dòng vốn ngân sách nhà nước đã thực hiện vai trò kiến tạo an sinh xã hội thông qua việc thực hiện phổ cập giáo dục cơ bản. Những nỗ lực này không chỉ nâng cao dân trí mà còn là nền tảng quan trọng để bảo đảm ổn định xã hội và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.

Chỉ số tiếp cận giáo dục ấn tượng: Việt Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên phạm vi cả nước. Chỉ số tiếp cận giáo dục của nước ta hiện đạt ngưỡng các nước phát triển: tỷ lệ trẻ đi học đúng độ tuổi bậc tiểu học đạt 99,7% và tỷ lệ hoàn thành chương trình đạt 99,2%(9).

Kiên cố hóa hạ tầng vùng khó khăn: Mạng lưới trường học đã được đầu tư kiên cố hóa và lan tỏa rộng khắp đến các “vùng lõm” kinh tế, bảo đảm mặt bằng dân trí quốc gia. Nhà nước cũng ưu tiên bố trí nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia để tập trung kiên cố hóa trường lớp tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hải đảo, điển hình là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Nhờ sự tập trung nguồn lực từ ngân sách và nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ, tính đến hết năm 2023, tỷ lệ phòng học được kiên cố hóa tại các vùng sâu, vùng xa đã đạt trên 86,6%(10). Các tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai, Hà Giang là những địa phương tiêu biểu trong việc xóa bỏ các phòng học tạm, tranh tre nứa lá, tạo lập môi trường học tập an toàn và bền vững cho học sinh dân tộc thiểu số. 

Chính sách an sinh và giữ chân đội ngũ cán bộ, giáo viên: Để bảo đảm sự công bằng, Chính phủ kiên định thực hiện các chính sách phụ cấp đặc thù theo Nghị định số 76/2019/NĐ-CP, ngày 8-10-2019, của Chính phủ, “Về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” nhằm hỗ trợ và "giữ chân" đội ngũ nhà giáo bám bản tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Rút ngắn khoảng cách số: Trong kỷ nguyên mới, công bằng xã hội còn được thể hiện qua việc đầu tư hạ tầng internet và xây dựng kho học liệu số dùng chung miễn phí. Những giải pháp này giúp học sinh ở mọi vùng, miền có thể tiếp cận tri thức nhân loại một cách bình đẳng và rút ngắn khoảng cách số. Chương trình “Sóng và máy tính cho em” là minh chứng điển hình cho việc huy động sức mạnh tổng hợp giữa ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội hóa. Đến cuối năm 2023, chương trình đã huy động và trao tặng hơn 92.000 máy tính cho học sinh nghèo, đồng thời hoàn thành phủ sóng internet di động đến 100% các điểm “lõm” sóng trên toàn quốc, tạo nền tảng bình đẳng cho học sinh mọi vùng miền trong việc tiếp cận học liệu số và trí tuệ nhân tạo(11)

Khơi thông nguồn lực qua tự chủ giáo dục đại học   

Việc hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý: Trong năm 2025, 2026, đặc biệt là sự đồng bộ giữa các đạo luật chuyên ngành đã và đang tạo ra một “cú hích” chiến lược, chuyển đổi căn bản phương thức vận hành từ cơ chế cấp phát sang tự chủ định chế toàn diện. Đây không chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật quản trị mà là sự hiện thực hóa tư duy đột phá về kinh tế giáo dục.

Vận hành theo tư duy chiến lược mới: Theo định hướng tại Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, giáo dục và đào tạo tiếp tục được xác định là đột phá chiến lược với yêu cầu cấp thiết về việc “đổi mới căn bản cơ chế, chính sách tài chính và đầu tư cho giáo dục, đào tạo”(12). Việc đẩy mạnh tự chủ đại học chính là lời giải để tối ưu hóa nguồn lực công, đồng thời tạo ra không gian đủ rộng để các cơ sở giáo dục chủ động tham gia vào thị trường dịch vụ giáo dục, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.

Đột phá trong quản trị tài chính và tài sản: Với các quy định mới tại Luật Giáo dục đại học năm 2025, quyền tự chủ không còn dừng lại ở khung lý thuyết mà đã đi sâu vào thực chất thông qua việc tự chủ quản lý tài sản và khai thác nguồn lực tài chính ngoài ngân sách. Việc cho phép các nhà trường chủ động xác lập định mức kinh tế - kỹ thuật và giá dịch vụ giáo dục đã tạo điều kiện để hình thành các quỹ đầu tư phát triển, thu hút dòng vốn từ khu vực tư nhân và các tập đoàn kinh tế.

Đa dạng hóa mô hình đầu tư: Trên nền tảng Luật Giáo dục năm 2025, hành lang pháp lý về xã hội hóa đã được mở rộng, cho phép linh hoạt hóa các hình thức sở hữu và mô hình hợp tác. Điều này giúp các cơ sở giáo dục đại học thoát khỏi sự phụ thuộc đơn nhất vào học phí, thay vào đó là cấu trúc nguồn thu đa dạng từ: hiến tặng, hợp tác công - tư trong xây dựng hạ tầng kỹ thuật và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Học sinh trong tiết học kỹ năng công dân số tại Trường tiểu học Phước Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh_Ảnh: hcm.edu.vn

Số hóa và hiện đại hóa hạ tầng quản trị

Chuyển đổi số được xác định là khâu đột phá chiến lược để đổi mới phương thức quản trị giáo dục. Xây dựng chiến lược dữ liệu phục vụ cho chuyển đổi số và phát triển nền tảng giáo dục quốc gia ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát; bố trí đủ nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ để đẩy nhanh chuyển đổi số, phổ cập và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục, đào tạo ở tất cả các cấp học trên phạm vi cả nước. Phát triển hệ thống thông tin giáo dục và nhân lực quốc gia, kết nối liên thông với hệ thống thông tin thị trường lao động, việc làm và tích hợp thông tin khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của các cơ sở giáo dục.

Dòng vốn đầu tư từ ngân sách và nguồn lực xã hội hóa đã kiến tạo cơ sở dữ liệu dùng chung toàn ngành. Hệ thống này hiện đã thu thập thông tin của 100% số trường học, số hóa định danh cho hơn 24 triệu hồ sơ học sinh và 1,6 triệu giáo viên, cán bộ quản lý(13). Kết quả này đã hiện thực hóa chủ trương “chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế” trong giáo dục(14), không chỉ tối ưu hóa chi phí hành chính mà còn thu hẹp đáng kể khoảng cách tiếp cận học liệu số.

Sớm khơi thông những điểm nghẽn

Bên cạnh những kết quả trên, hệ thống tài chính giáo dục hiện hành vẫn tồn tại một số điểm nghẽn mang tính cơ cấu, cần tháo gỡ kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực

Cơ cấu chi mất cân đối: Điểm nghẽn lớn nhất trong bức tranh tài chính giáo dục hiện nay là sự mất cân đối mang tính cơ cấu. Hệ thống phải dành phần lớn nguồn lực để “duy trì” trạng thái hoạt động cơ bản, thể hiện qua việc chi thường xuyên (chủ yếu là quỹ lương và vận hành) luôn chiếm tỷ lệ lớn từ 80 - 85% tổng ngân sách giáo dục. Ngược lại, chi đầu tư phát triển hệ thống mới đạt mức 15 - 20%(15). Cấu trúc tài chính thiên về “tiêu dùng” thay vì “kiến tạo” này dẫn đến hệ lụy tất yếu: nguồn lực dành cho đổi mới sáng tạo chưa thực sự đáp ứng nhu cầu thực tế. Cụ thể, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam hiện chỉ khoảng mức 0,5% GDP, một khoảng cách quá lớn chiếu theo ngưỡng trung bình khoảng 2,5% của các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế(16). Sự thiếu hụt nền tảng đầu tư này không chỉ chưa khuyến khích động lực đổi mới, thậm chí trở thành rào cản trực tiếp đối với lộ trình xây dựng các đại học nghiên cứu tiên tiến, làm chậm tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW.

Phân bổ dàn trải, thiếu trọng điểm: Cơ chế cấp phát ngân sách hiện hành chủ yếu vẫn dựa trên các định mức đầu vào (quy mô sinh viên, chỉ tiêu biên chế) thay vì gắn với hiệu quả hoạt động và chất lượng đầu ra. Cơ chế mang tính cào bằng này đã làm phân tán nguồn lực và triệt tiêu động lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục đại học. Hệ quả tất yếu của việc đầu tư dàn trải là sự “pha loãng” tài chính. Mặc dù có khoảng 244 cơ sở giáo dục đại học, Việt Nam vẫn đang thiếu hụt nghiêm trọng các trung tâm xuất sắc (centers of excellence).

Nghịch lý “hiệu quả” trong đầu ra: Dù chi ngân sách ở mức 5% GDP, hiệu quả thu về vẫn tồn tại những mâu thuẫn lớn. Theo đó, dù nguồn lực đầu tư liên tục được duy trì ở mức cao (tiệm cận 5% GDP khi tính cả nguồn huy động xã hội hóa), hệ thống giáo dục đại học và khoa học, công nghệ vẫn đang bộc lộ nghịch lý “hiệu quả” giữa số lượng và chất lượng. Về năng lực công bố quốc tế, sản lượng công bố khoa học của Việt Nam tăng trưởng ấn tượng (vượt mốc 20.000 bài/năm), nhưng chỉ số ảnh hưởng (impact factor) và tỷ lệ trích dẫn trung bình vẫn còn khiêm tốn. Thực tế này cho thấy khoảng cách lớn về chất lượng và độ lan tỏa học thuật nếu so sánh với các quốc gia dẫn đầu khu vực như Singapore hay Hàn Quốc. Về định vị thương hiệu học thuật, Việt Nam vẫn vắng bóng hoàn toàn trong nhóm 300 đại học xuất sắc nhất toàn cầu. Theo Bảng xếp hạng đại học thế giới QS năm 2024, số lượng đại học trong nước góp mặt trong top 500 còn khá khiêm tốn(17).

Về hiệu quả nguồn nhân lực: Đây là thước đo cuối cùng của hệ thống giáo dục. Năm 2023, năng suất lao động toàn nền kinh tế chỉ đạt 199,3 triệu đồng/lao động(18). Theo đánh giá, mức năng suất này vẫn nằm trong nhóm trung bình thấp của khu vực ASEAN, cho thấy giáo dục và đào tạo chưa thực sự tạo ra “cú hích” đột phá để nâng cao chất lượng vốn nhân lực quốc gia.

Có thể khẳng định, Việt Nam đã duy trì mức ưu tiên ngân sách tương đối cao cho giáo dục; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; từng bước mở rộng tự chủ đại học; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy. Những thành tựu này là nền tảng quan trọng để bảo đảm ổn định xã hội và phát triển nguồn nhân lực cơ bản. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế cần khắc phục, như cơ cấu chi còn nặng về chi thường xuyên, tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo còn hạn chế; phân bổ nguồn lực còn dàn trải, chưa có các trung tâm đại học - nghiên cứu có sức cạnh tranh khu vực; hiệu quả đầu tư chưa tương xứng với mức chi ngân sách, thể hiện qua năng suất lao động và thứ hạng đại học; chênh lệch vùng, miền; cơ chế xã hội hóa chưa tạo ra các quỹ đầu tư chiến lược quy mô lớn. 

Thực tế trên cho thấy, vấn đề của tài chính giáo dục Việt Nam hiện nay không nằm ở quy mô chi, mà ở cơ chế phân bổ và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Điều này đặt ra yêu cầu cần có những giải pháp thích hợp để giải quyết những tồn tại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới./.

(Còn nữa)

---------------------

(1) Luật Giáo dục, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 84
(2) Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22-8-2025, của Bộ Chính “Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-71-nqtw-ngay-2282025-cua-bo-chinh-tri
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. I, tr. 100, 101
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 252
(5) Tổng cục Thống kê: Niên giám Thống kê 2023, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2024, tr. 182
(6) Báo cáo số 515/BC-CP, ngày 14-10-2022, của Chính phủ “Về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục năm 2022”
(7) Báo cáo số 1290/BC-BGDĐT, của Bộ Giáo dục và Đào tạo “Về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục năm 2024”
(8) Luật Thủ đô, Cổng thông tin điện tử Chính phủhttps://chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=211197&classid=1&orggroupid=1
(9) Tổng cục Thống kê: Niên giám Thống kê 2023, Sđd, tr.  692
(10) Thanh Nga: “Hướng tới mục tiêu kiên cố hóa 100% trường học vào năm 2030: Những con số ấn tượng”, Trang điện tử Tạp chí Giáo dục, ngày 5-11-2024, https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/88967/212/huong-toi-muc-tieu-kien-co-hoa-100-truong-hoc-vao-nam-2030-nhung-con-so-an-tuong/
(11) Xem: Minh Thu: “Chương trình “Sóng và máy tính cho em”: Đã có hơn 92.000 máy tính đến tay học sinh”, Báo Đại biểu nhân dân, ngày 8-9-2023, https://daibieunhandan.vn/chuong-trinh-song-va-may-tinh-cho-em-da-co-hon-92-000-may-tinh-den-tay-hoc-sinh-10318827.html
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 102
(13) “Nâng cao năng lực khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu ngành giáo dục”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 3-12-2024, https://nhandan.vn/nang-cao-nang-luc-khai-thac-he-thong-co-so-du-lieu-nganh-giao-duc-post848288.html
(14Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 100
(15) Tổng cục Thống kê: Niên giám Thống kê 2023, Sđd, tr. 185
(16) Ngân hàng Thế giới: Dữ liệu chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (% của GDP)2023, Trang chủ World Bankhttps://data.worldbank.org/indicator/GB.XPD.RSDV.GD.ZS
(17) Quacquarelli Symonds: QS World University Rankings 2024https://www.topuniversities.com/world-university-rankings
(18) Tổng cục Thống kê: Niên giám Thống kê 2023, Sđd, tr. 145