Điều tiết tác động của du lịch đối với chợ phiên vùng cao Lào Cai theo hướng bền vững
TCCS - Trong cấu trúc văn hoá của tỉnh Lào Cai, chợ phiên Bắc Hà, các phiên chợ thuộc khu vực Si Ma Cai, trong đó có Sín Chéng, Cán Cấu và một số chợ khác được nhận diện rộng rãi trong hoạt động du lịch, có giá trị văn hóa gắn với mua bán, giao lưu cộng đồng và khả năng phát triển du lịch địa phương(1). Tuy nhiên, khi chợ phiên trở thành điểm đến, yêu cầu quản lý không chỉ dừng ở khai thác lợi thế để thu hút khách, mà còn phải nhận diện, đo lường và điều tiết những tác động của du lịch. Đây là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch theo hướng bền vững, bảo tồn bản sắc văn hóa và duy trì lợi thế lâu dài của chợ phiên vùng cao.
Từ khai thác điểm đến tới quản lý tác động du lịch
Văn hóa được Đảng xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là mục tiêu và động lực phát triển bền vững của đất nước. Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã xác định nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng quan trọng của phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát triển văn hóa Việt Nam”, tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới, đặt văn hóa trong quan hệ trực tiếp với sức mạnh nội sinh, năng lực phát triển và khát vọng vươn lên của dân tộc. Trong lĩnh vực du lịch, Luật Du lịch năm 2017, Quyết định số 147/QĐ-TTg, ngày 22-1-2020, của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030” và Nghị quyết số 82/NQ-CP, ngày 18-5-2023, của Chính phủ “Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững” đều đặt ra yêu cầu phát triển du lịch theo hướng bền vững, chất lượng, hiệu quả, có trách nhiệm và phát huy giá trị tài nguyên văn hóa.
Đối với các địa bàn vùng cao, yêu cầu phát triển du lịch bền vững cần được đặt trong mối quan hệ cụ thể với đời sống văn hóa, sinh kế và quyền tham gia của cộng đồng. Chợ phiên vùng cao Lào Cai là một trường hợp tiêu biểu. Chợ phiên là nơi trao đổi hàng hóa, đồng thời là nơi người dân mang sản vật từ bản xuống chợ, gặp gỡ người quen, duy trì quan hệ họ hàng, làng bản, bạn hàng, trao đổi thông tin mùa vụ, chọn giống vật nuôi, mua bán nông sản, dược liệu, thưởng thức ẩm thực, mặc trang phục truyền thống, sử dụng tiếng nói của cộng đồng và thực hành nhiều tri thức, kỹ năng được tích lũy trong đời sống. Luật Di sản văn hóa năm 2024 tiếp tục khẳng định yêu cầu bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong đời sống đương đại(2). Từ góc nhìn nguồn lực phát triển, di sản văn hóa chỉ phát huy được giá trị khi gắn với chủ thể, môi trường thực hành và các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể(3).
Chợ phiên vùng cao hình thành từ nhu cầu giao thương của cư dân miền núi, nhưng sức hấp dẫn của chợ không nằm riêng ở chức năng kinh tế. Với địa bàn cư trú phân tán, đường đi từ bản xuống trung tâm xã hoặc thị trấn thường gắn với nhịp tuần, phiên chợ tạo ra một điểm hẹn xã hội. Người dân đi chợ để bán nông sản, mua vật dụng, đổi lấy thực phẩm, thuốc men, giống cây, giống vật nuôi. Họ cũng đi chợ để gặp người thân, hỏi thăm tin tức, ăn bát thắng cố, uống chén rượu ngô, xem trâu, chọn váy áo, nghe tiếng khèn, trao đổi chuyện cưới hỏi, chuyện mùa vụ, chuyện bản mường.
Các hoạt động ấy đã tạo nên không gian văn hóa tổng hợp cho chợ phiên và trở thành lợi thế du lịch. Khách du lịch tìm đến chợ phiên vì muốn quan sát không khí chợ, nhìn cách người dân bày hàng, nếm món ăn, nghe âm thanh, cảm nhận mùi vị, chụp ảnh trang phục, tìm hiểu sản vật, nghe giới thiệu về thổ cẩm, dược liệu, chợ trâu, nhạc cụ và tuyến đường đi chợ. Chợ phiên tạo ra một trải nghiệm giàu cảm giác, trong đó con người, cảnh quan, hàng hóa, ẩm thực, âm thanh, ngôn ngữ và ký ức địa phương cùng tham gia tạo nên giá trị. Đây là ưu thế mà nhiều sản phẩm du lịch nhân tạo khó có được.
Du lịch có thể làm tăng thị trường tiêu thụ nông sản, ẩm thực, thổ cẩm, dược liệu, sản phẩm thủ công và dịch vụ địa phương. Hạ tầng giao thông, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, dịch vụ ăn uống, lưu trú, hướng dẫn, truyền thông điểm đến có điều kiện được cải thiện. Người dân có thêm cơ hội việc làm, địa phương có thêm chất liệu xây dựng thương hiệu du lịch, văn hóa vùng cao được nhận diện rộng hơn. Các cơ hội này cần được khuyến khích trong định hướng phát triển của Lào Cai.
Tuy nhiên, khai thác điểm đến không thể thay thế quản lý tác động. Một phiên chợ có thể đông khách hơn, nhiều hình ảnh truyền thông hơn, nhiều dịch vụ hơn, nhưng nếu người dân địa phương mất dần vị trí trong chợ, sản phẩm địa phương bị thay thế bởi hàng hóa ngoại lai, thực hành văn hóa bị làm mỏng, lợi ích tập trung ở khâu trung gian, thì du lịch chưa tạo nền tảng phát triển bền vững. Chợ phiên cần được nhìn nhận như một không gian văn hóa đang vận hành trước khi được tổ chức như một điểm tham quan.
Quản lý tác động của du lịch phải đi trước hoặc đi cùng quá trình mở rộng sản phẩm. Trọng tâm của công tác quản lý là nhận diện và đánh giá những biến đổi do hoạt động du lịch tác động đến chức năng của chợ phiên, các nhóm chủ thể tham gia, không gian văn hóa, cơ cấu hàng hóa, cũng như quyền chủ thể trong việc gìn giữ, thực hành và truyền tải các giá trị văn hóa của cộng đồng địa phương. Đồng thời, cần xem xét mức độ phân bổ lợi ích từ hoạt động du lịch đối với các chủ thể trực tiếp duy trì và phát huy giá trị của chợ phiên. Cách tiếp cận này góp phần định hướng công tác quản lý du lịch đi vào bản chất vận hành của chợ phiên trong đời sống cộng đồng, thay vì chỉ tập trung vào các chỉ tiêu về trật tự, vệ sinh môi trường hay số lượng khách du lịch.
Nhận diện và điều tiết các nhóm tác động của du lịch đối với chợ phiên vùng cao
Thứ nhất, tác động đến chức năng của chợ phiên. Trong đời sống cộng đồng, chợ phiên thực hiện đồng thời nhiều chức năng: mua bán, gặp gỡ, trao đổi thông tin, duy trì quan hệ xã hội, thực hành tri thức và củng cố bản sắc. Khi du lịch phát triển, chức năng tham quan, mua quà, chụp ảnh, trải nghiệm ẩm thực và tiêu dùng dịch vụ tăng lên. Vấn đề nảy sinh khi chức năng du lịch lấn át chức năng cộng đồng, làm cho chợ được tổ chức chủ yếu theo nhu cầu của khách, trong khi nhu cầu sử dụng chợ của người dân bị đẩy xuống vị trí thứ yếu.
Thứ hai, tác động tổ chức lại không gian và nhịp thời gian của chợ. Quản lý điểm đến cần bãi đỗ xe, phân luồng giao thông, khu vệ sinh, khu dịch vụ, điểm dừng chân, biển chỉ dẫn, khu bán hàng an toàn, phòng cháy chữa cháy và kiểm soát vệ sinh thực phẩm. Những yêu cầu này chính đáng. Nhưng không gian chợ phiên vốn vận hành bằng sự linh hoạt của cộng đồng. Người dân có chỗ quen, tuyến đi quen, quán ăn quen, điểm gặp gỡ quen, khu trao đổi vật nuôi, khu sản vật, khu ẩm thực và những khoảng trống cho thương lượng xã hội. Khi vị trí bán hàng, tuyến di chuyển và điểm gặp gỡ bị thay đổi đột ngột, quan hệ bạn hàng, khách quen, trao đổi thông tin và hỗ trợ sinh kế cũng bị tác động. Đây không chỉ là vấn đề bố trí mặt bằng, mà còn là vấn đề bảo vệ trật tự xã hội của phiên chợ.
Thứ ba, tác động đến hàng hóa và thực hành văn hóa. Cần phân biệt thương mại gắn với sinh kế cộng đồng và thương mại làm đứt liên hệ giữa sản phẩm với người thực hành. Ẩm thực chợ có thể trở thành sản phẩm du lịch, nhưng nếu món ăn được điều chỉnh quá mức theo khẩu vị khách, tri thức chế biến và bối cảnh ăn uống cộng đồng có nguy cơ mai một. Thổ cẩm có thể tăng cơ hội tiêu thụ, nhưng nếu sản xuất hàng loạt thay thế sản phẩm của người làm nghề, hoa văn và kỹ năng thủ công chỉ còn như mẫu trang trí. Dược liệu có thể mở rộng thị trường, nhưng nếu thiếu tri thức sử dụng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và giá trị văn hóa.
Thứ tư, tác động đến hình ảnh, câu chuyện về chợ phiên. Trang phục, tiếng khèn, khu chợ trâu, nồi thắng cố, chén rượu ngô, nụ cười người bán hàng, cảnh mặc cả đều có sức hấp dẫn đối với du khách.Khi các yếu tố văn hóa bị tách khỏi bối cảnh đời sống cộng đồng và được tổ chức chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách, chợ phiên có nguy cơ chuyển từ không gian sinh hoạt văn hóa - xã hội của cộng đồng thành không gian phục vụ hoạt động du lịch.
Cùng với hình ảnh là câu chuyện về chợ phiên. Khi chợ phiên trở thành sản phẩm du lịch, câu chuyện về chợ thường được kể qua hướng dẫn viên, doanh nghiệp, ấn phẩm quảng bá, video ngắn, cácphương tiện truyền thông xã hội và nền tảng số. Các kênh này giúp hình ảnh chợ lan tỏa rộng hơn đến đông đảo công chúng, nhưng nếu người thực hành ít được tham gia vào cách kể, chợ phiên dễ bị mô tả bằng các khuôn mẫu quen thuộc như “độc đáo”, “nguyên sơ”, “đậm bản sắc”, “nhiều màu sắc”.
Thứ năm, tác động phân bổ lợi ích giữa các chủ thể. Doanh nghiệp lữ hành, dịch vụ vận chuyển, cơ sở lưu trú, nhà hàng, truyền thông điểm đến có thể hưởng lợi nhiều hơn người bán hàng nhỏ, người nấu ăn, người làm nghề thủ công, người bán nông sản, người bán cây thuốc, người nuôi trâu, người làm nhạc cụ hoặc người mang hàng từ bản xuống chợ. Khi chi phí vận chuyển, thuê chỗ, cạnh tranh giá và yêu cầu phục vụ khách tăng lên, một số nhóm yếu thế có thể chịu nhiều áp lực hơn lợi ích nhận được. Nếu thiếu cơ chế tái đầu tư cho cộng đồng, di sản trở thành nguồn lực đầu vào của du lịch mà chưa có cơ chế bù đắp tương xứng.
Những nhóm tác động trên không diễn ra giống nhau ở mọi chợ phiên mà phụ thuộc vào mức độ phát triển du lịch, vị trí giao thông, năng lực quản lý, cấu trúc hàng hóa, khả năng tham gia của cộng đồng và thị trường. Do đó, điều tiết tác động xác định giới hạn, nguyên tắc và công cụ để hoạt động du lịch phát triển phù hợp với điều kiện văn hóa - xã hội của từng phiên chợ.
Hai trạng thái quản lý tác động tại Bắc Hà và Sín Chéng
Bắc Hà là trường hợp chợ phiên đã được du lịch nhận diện rộng hơn. Khách đến Bắc Hà để quan sát không khí chợ, thưởng thức ẩm thực, tìm kiếm sản phẩm thủ công, xem khu bán trâu, chụp ảnh trang phục và cảm nhận đời sống vùng cao. Du lịch tạo thêm cơ hội sinh kế, thúc đẩy dịch vụ và góp phần quảng bá hình ảnh địa phương. Khi khách du lịch, hàng hóa phục vụ khách và dịch vụ phụ trợ tăng lên, không gian dành cho người dân địa phương, quan hệ bạn hàng truyền thống, khu ẩm thực, khu sản vật, khu vật nuôi và các điểm gặp gỡ cộng đồng cần được bảo vệ.
Với Bắc Hà, nhiệm vụ trước mắt là nâng cao chất lượng quản lý tác động. Cần rà soát không gian chợ từ góc nhìn của người đi chợ địa phương bên cạnh việc nhìn từ tuyến tham quan của khách. Cần xác định nhóm thực hành nào còn giữ vai trò trung tâm, nhóm nào đang chịu áp lực, nhóm nào hưởng lợi ít hơn, nhóm nào có nguy cơ bị thay thế bởi dịch vụ hoặc hàng hóa phục vụ khách. Cần theo dõi việc sản xuất hàng loạt có làm mờ sản phẩm địa phương hay không, khu ẩm thực có giữ được tri thức chế biến và quan hệ ăn uống cộng đồng hay không, chợ trâu còn là không gian trao đổi kinh nghiệm sinh kế hay chỉ còn là điểm xem cho khách.
Bắc Hà cũng cần cơ chế quản lý hàng hóa và trải nghiệm khách cụ thể hơn. Hàng hóa phục vụ du lịch phải được phân biệt với sản vật địa phương, sản phẩm thủ công do người dân làm và hàng sản xuất hàng loạt. Các điểm chụp ảnh, hoạt động trải nghiệm, tuyến tham quan, nội dung giới thiệu về chợ trâu, thổ cẩm, ẩm thực, rượu ngô, dược liệu cần được điều chỉnh để không làm gián đoạn hoạt động mua bán và gặp gỡ của người dân.
Sín Chéng là phiên chợ còn rõ nhịp cộng đồng, nơi nhiều nhóm cư dân đến mua bán, gặp gỡ, trao đổi và duy trì quan hệ xã hội trong chu kỳ chợ định kỳ(5). Khi du lịch chưa phát triển mạnh, địa phương có thể chuẩn bị nguyên tắc điều tiết từ sớm. Nếu chờ đến khi truyền thông và dịch vụ tự phát định hình cách khai thác, việc điều chỉnh sau này sẽ khó hơn. Khi chợ còn giữ rõ chức năng cộng đồng, cần xác định trước không gian nào cần bảo vệ, hoạt động nào có thể chia sẻ với khách, nhóm nào có khả năng tham gia dịch vụ, sản phẩm nào có nền tảng thực hành, quy tắc ứng xử nào cần phổ biến cho du khách.
Với Sín Chéng, sản phẩm du lịch có thể bắt đầu từ những trải nghiệm nhỏ, có chiều sâu: tuyến đi chợ có hướng dẫn văn hóa, điểm giới thiệu sản vật do người dân tham gia, trải nghiệm ẩm thực gắn với bối cảnh chợ, giới thiệu nghề thủ công tại chỗ, câu chuyện về cây thuốc, nông sản, vật nuôi, trang phục và tuyến đường từ bản xuống chợ.
So sánh Bắc Hà và Sín Chéng cho thấy không thể áp dụng một công thức điều tiết cho mọi chợ phiên. Chợ đã phát triển du lịch cần điều tiết áp lực, kiểm soát thương mại hóa thiếu trách nhiệm và tái cân bằng lợi ích. Chợ đang phát triển du lịch cần chuẩn bị cơ chế trước, xác lập nguyên tắc bảo vệ không gian, định hướng sản phẩm, quản lý hàng hóa, quy tắc ứng xử và cách kể chuyện ngay từ đầu. Cả hai trường hợp đều đòi hỏi quản lý du lịch dựa trên hiểu biết về văn hóa, sinh kế và cấu trúc xã hội của phiên chợ.
Một số công cụ điều tiết tác động của du lịch đối với chợ phiên vùng cao Lào Cai
Thứ nhất, cần đánh giá tác động văn hóa - xã hội của du lịch đối với từng chợ phiên trước khi mở rộng sản phẩm. Cần đánh giá mức độ duy trì chức năng cộng đồng của chợ phiên; xác định các nhóm chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức và thực hành văn hóa; nhận diện những không gian và hoạt động đang chịu tác động của phát triển du lịch; phân tích mức độ gắn kết của hàng hóa với nguồn gốc địa phương; đánh giá nguy cơ mai một các thực hành văn hóa truyền thống; đồng thời xem xét cơ chế phân bổ lợi ích giữa các nhóm chủ thể để nhận diện những đối tượng được hưởng lợi và những nhóm có nguy cơ bị hạn chế cơ hội tham gia và thụ hưởng từ phát triển du lịch. Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12-11-2021, của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030” và Quyết định số 1719/QĐ-TTg, ngày 14-10-2021, của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025” đều tạo nền tảng quan trọng cho việc gắn phát triển với bảo vệ văn hóa, sinh kế và đời sống cộng đồng
Thứ hai, cần quy hoạch không gian chợ theo hướng linh hoạt và tôn trọng nhịp sử dụng của cộng đồng. Chỉnh trang hạ tầng, phân luồng giao thông, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, phòng cháy chữa cháy và mỹ quan là cần thiết. Địa phương cần xác định khu vực cốt lõi dành cho người dân địa phương, khu ẩm thực, khu sản vật, khu vật nuôi, các tuyến đi lại quen thuộc, điểm gặp gỡ và khoảng không gian linh hoạt cho thương lượng, trao đổi.
Thứ ba, cần quản lý hàng hóa và sản phẩm du lịch theo nguyên tắc gắn với địa phương, người thực hành và chất lượng trải nghiệm. Một sản phẩm du lịch chợ phiên có trách nhiệm không chỉ đưa khách đến xem, mua hàng và chụp ảnh. Sản phẩm ấy cần giúp khách hiểu vì sao người dân đi chợ, món ăn gắn với tri thức nào, hoa văn thổ cẩm do ai làm, cây thuốc được nhận biết ra sao, khu chợ trâu vận hành theo kinh nghiệm gì, tiếng khèn hoặc gậy sênh tiền gắn với bối cảnh văn hóa nào. Cần có cơ chế nhận diện, khuyến khích và bảo vệ sản phẩm địa phương; hỗ trợ người làm nghề giữ mẫu mã, kỹ thuật, chất liệu và câu chuyện sản phẩm; hạn chế việc hàng hóa bên ngoài đội lốt đặc sản vùng cao.
Thứ tư, cần tổ chức diễn giải văn hóa có trách nhiệm và xây dựng quy tắc ứng xử của du khách tại chợ phiên. Địa phương cần xây dựng nhóm thuyết minh cộng đồng, cộng tác viên văn hóa, người bán hàng am hiểu sản phẩm, nghệ nhân và người thực hành tham gia giới thiệu ngắn về món ăn, sản vật, nghề thủ công, trang phục, cây thuốc, chợ trâu và tuyến đường đi chợ. Hướng dẫn viên, doanh nghiệp và truyền thông điểm đến cần được cung cấp thông tin đúng, tránh khai thác các hình ảnh lạ hóa, nghèo hóa hoặc kỳ thú hóa đời sống cộng đồng. Quy tắc ứng xử cần hướng dẫn khách trong việc chụp ảnh, trả giá, tiếp xúc với người bán, thưởng thức món ăn, tham gia trải nghiệm và tôn trọng không gian sinh hoạt của người dân.
Thứ năm, cần thiết lập cơ chế để lợi ích du lịch quay lại nuôi dưỡng chợ phiên. Một phần lợi ích từ hoạt động du lịch cần được tái đầu tư cho điều kiện vận hành của chợ: cải thiện điểm bán cho người dân, hỗ trợ vệ sinh môi trường, thu gom rác thải, duy tu hạ tầng phục vụ người đi chợ, truyền dạy nghề, hỗ trợ nghệ nhân và nhóm thực hành, tổ chức hoạt động văn hóa do cộng đồng chủ trì, nâng cao kỹ năng giao tiếp và quản lý kinh doanh nhỏ. Bảo tồn không nên là khoản chi sau khai thác; bảo tồn phải là thành phần trong mô hình vận hành du lịch.
Thứ sáu, cần xây dựng cơ chế theo dõi định kỳ các chỉ báo văn hóa - xã hội của chợ phiên. Bên cạnh các chỉ tiêu về lượng khách, doanh thu và phát triển dịch vụ, cần xây dựng hệ thống chỉ báo phản ánh mức độ duy trì các giá trị và chức năng của chợ phiên trong đời sống cộng đồng. Các chỉ báo này bao gồm: mức độ tham gia của người dân địa phương vào hoạt động chợ; khả năng duy trì hoạt động của các hộ kinh doanh nhỏ; tỷ lệ sản vật địa phương trong cơ cấu hàng hóa; mức độ bảo tồn các nghề truyền thống; sự tham gia của thế hệ trẻ vào quá trình kế thừa nghề; mối liên kết giữa các không gian ẩm thực, thổ cẩm, dược liệu, chợ gia súc với các chủ thể thực hành văn hóa; mức độ tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch; cũng như cơ chế phân bổ lợi ích từ hoạt động du lịch đối với các chủ thể trực tiếp duy trì và phát huy giá trị của chợ phiên. Các chỉ báo cần được theo dõi định kỳ để điều chỉnh chính sách kịp thời.
Thứ bảy, cần tăng cường phối hợp liên ngành và phân cấp trách nhiệm rõ ràng. Chợ phiên vừa là chợ thương mại, vừa là không gian văn hóa, vừa là điểm đến du lịch, vừa là nơi thực hành sinh kế. Cần cơ chế phối hợp giữa chính quyền địa phương, ngành văn hóa, ngành du lịch, ban quản lý chợ, doanh nghiệp và đại diện cộng đồng. Mỗi chủ thể cần có trách nhiệm cụ thể trong bảo vệ không gian chợ, quản lý dịch vụ, định hướng sản phẩm, truyền thông và phân phối lợi ích.
Chợ phiên vùng cao Lào Cai là nguồn lực văn hóa có khả năng đóng góp quan trọng cho phát triển du lịch bền vững. Điều tiết tác động của du lịch là yêu cầu cần thiết để chợ giữ vững chức năng cộng đồng, bảo vệ không gian và nhịp phiên, duy trì thực hành văn hóa, nâng cao chất lượng diễn giải, bảo đảm sinh kế và làm cho lợi ích du lịch quay lại với người duy trì chợ. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển văn hóa, phát triển du lịch bền vững và nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc vùng cao./.
--------------------------
(1), (4) Xem: Hoàng Văn Dương, Lý Xuân Thành, Đặng Thị Oanh: “Khai thác giá trị văn hóa chợ phiên Si Ma Cai phục vụ phát triển du lịch địa phương”, Tạp chí Dân tộc học, số 1 (2025), tr. 95
(2) Xem: Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, ngày 23-11-2024
(3) Xem: Nguyễn Thị Phương Châm: “Nguồn lực di sản văn hóa trong phát triển hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 214 (10-2025), tr. 114-123
Phát huy sức sống di sản chợ phiên trong phát triển du lịch bền vững ở vùng cao Lào Cai  (22/06/2026)
Thành phố Hồ Chí Minh phát triển du lịch trở thành điểm đến hấp dẫn khu vực và quốc tế  (14/11/2025)
- Tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước: Khái niệm, nội hàm và định hướng đối ngoại
- Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chỉ dẫn quan trọng cho giai đoạn hiện nay
- Nhận diện và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong giai đoạn hiện nay
- Ngoại giao nguồn nước trong bối cảnh mới tại Tiểu vùng sông Mekong: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- Xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kinh tế biên mậu hiện đại, tạo động lực tăng trưởng vùng trong bối cảnh mới
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Văn hóa - Xã hội
Văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống trong phát triển nhân cách quân nhân -
Kinh tế
Công nghiệp hóa bền vững để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nhanh và bền vững ở Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam