Phát huy sức sống di sản chợ phiên trong phát triển du lịch bền vững ở vùng cao Lào Cai

NGUYỄN THỊ THUYẾT
Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
07:39, ngày 22-06-2026

TCCS - Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển đất nước(1). Trong tiến trình phát triển hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo tồn các giá trị văn hóa đã được nhận diện, mà còn là phát huy những giá trị đó trong đời sống, trong sinh kế của nhân dân, trong xây dựng con người, môi trường văn hóa và các ngành kinh tế có hàm lượng văn hóa cao. Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước(2) đã xác lập tầm nhìn quan trọng về vị trí của văn hóa. Đến Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam(3), văn hóa tiếp tục được đặt trong quan hệ trực tiếp với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Trong hệ thống tài nguyên văn hóa của Việt Nam, di sản văn hóa phi vật thể của các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng cao giữ vị trí đặc biệt. Đây là nguồn lực gắn chặt với con người, tiếng nói, tri thức, kỹ năng, phong tục, tập quán, sinh kế và các không gian thực hành văn hóa cụ thể. Khác với di tích hay hiện vật có thể được định vị tương đối ổn định trong không gian vật chất, di sản văn hóa phi vật thể chỉ có sức sống khi còn được cộng đồng thực hành, trao truyền, thích ứng và gắn nghĩa trong đời sống hiện tại. Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể vì thế không thể tách khỏi việc bảo vệ chủ thể, môi trường sống, điều kiện sinh kế và quyền tham gia của cộng đồng(4).

Chợ phiên Sín Chéng nằm ở xã Sín Chéng, tỉnh Lào Cai_Ảnh: baolaocai.vn 

Lào Cai là địa bàn vùng cao biên giới có cấu trúc văn hóa đa dạng, nơi nhiều cộng đồng dân tộc cùng cư trú, giao lưu và tạo nên những hình thức sinh hoạt văn hóa đặc thù(5). Trong bức tranh đó, chợ phiên vùng cao là một không gian văn hóa có sức gợi mở lớn đối với phát triển du lịch. Chợ phiên không đơn thuần là nơi trao đổi hàng hóa. Ở nhiều địa bàn vùng cao, phiên chợ còn là nơi gặp gỡ, hỏi thăm, trao đổi thông tin, tìm kiếm bạn hàng, duy trì quan hệ họ hàng, làng bản, tộc người; là nơi người dân mang theo sản vật, trang phục, món ăn, tri thức nghề, kinh nghiệm canh tác, kỹ năng lựa chọn giống vật nuôi, cây thuốc, nông sản và nhiều thực hành văn hóa gắn với nhịp sống cộng đồng.

Sự phát triển của du lịch đã làm cho chợ phiên vùng cao được nhận diện rộng hơn. Hình ảnh váy áo thổ cẩm, nồi thắng cố, bát rượu ngô, dãy hàng dược liệu, khu bán trâu, tiếng khèn, tiếng gọi nhau trong chợ, những con đường từ bản xuống chợ đã trở thành chất liệu hấp dẫn của du lịch miền núi. Bắc Hà đã hiện diện rõ trong bản đồ du lịch Lào Cai; một số phiên chợ khác, như Sín Chéng, đang đứng trước khả năng được đưa vào các tuyến, điểm, sản phẩm du lịch mới(6). Cơ hội phát triển là rõ. Du lịch có thể tạo thêm việc làm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản vật, tăng khả năng nhận diện văn hóa địa phương, thúc đẩy cải thiện hạ tầng và dịch vụ. Song cùng với cơ hội là yêu cầu điều tiết để chợ phiên vẫn là không gian sống của cộng đồng, không bị rút gọn thành phông nền tham quan, mua sắm và chụp ảnh.

Vấn đề đặt ra là phát triển du lịch gắn với chợ phiên không thể chỉ tính bằng số lượng khách, doanh thu, điểm chụp ảnh, dịch vụ ăn uống hay hạ tầng đón khách. Với di sản văn hóa phi vật thể, tiêu chí quan trọng hơn là sức sống của di sản. Một phiên chợ có thể đông khách hơn, nhiều hàng hóa hơn, được quảng bá rộng hơn, nhưng nếu người thực hành dần rời khỏi không gian chợ, tri thức và kỹ năng không còn được trao truyền, cộng đồng ít có tiếng nói trong cách giới thiệu di sản, lợi ích du lịch không quay trở lại với người dân, thì sự phát triển ấy chưa bền vững về văn hóa. Từ nhận thức đó, cần phát huy sức sống di sản chợ phiên như một tiêu chí văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở vùng cao Lào Cai.

Chợ phiên vùng cao - không gian di sản sống và nguồn lực văn hóa cho phát triển du lịch

Chợ phiên vùng cao hình thành trên nền tảng nhu cầu trao đổi hàng hóa, nhưng không thể hiểu đầy đủ nếu chỉ nhìn từ chức năng kinh tế. Ở vùng núi, nơi bản làng phân tán theo địa hình, điều kiện đi lại khó khăn, chu kỳ chợ định kỳ tạo nên một nhịp gặp gỡ có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Người dân đi chợ để bán nông sản, mua vật dụng, đổi lấy muối, vải, giống cây, thức ăn, thuốc men. Họ cũng đi chợ để gặp người quen, hỏi thăm tin tức, tìm bạn, uống bát rượu, ăn bát thắng cố, nghe tiếng khèn, xem trâu, chọn váy áo, trao đổi chuyện mùa vụ, chuyện cưới hỏi, chuyện bản mường. Với nhiều người, “đi chợ” là một phần của đời sống văn hóa, nơi nhu cầu vật chất và nhu cầu giao tiếp cộng đồng đan vào nhau.

Điểm đặc sắc của chợ phiên nằm ở tính tổng hợp của các lớp thực hành văn hóa. Một dãy hàng ẩm thực không chỉ bán thức ăn. Ẩm thực trong chợ gắn với tri thức chế biến, cách dùng gia vị, cách ăn uống, quan hệ mời - đáp, thứ bậc tuổi tác, giới tính, bạn hàng, khách quen. Một tấm vải, chiếc khăn, váy áo thổ cẩm không chỉ là hàng hóa. Đó là kết quả của kỹ năng dệt, thêu, phối màu, nhận biết hoa văn, lựa chọn chất liệu và thị hiếu thẩm mỹ của cộng đồng. Một bó cây thuốc không chỉ là sản vật rừng. Nó chứa tri thức địa phương về cây cỏ, mùa hái, cách dùng, kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe. Khu chợ trâu không chỉ là nơi mua bán vật nuôi. Đó là không gian thể hiện kinh nghiệm xem dáng, đo sức, mặc cả, thỏa thuận, giữ chữ tín và quan hệ bạn hàng lâu dài.

Những thực hành ấy tạo nên tính chất “di sản sống” của chợ phiên. Di sản ở đây không nằm riêng trong một tiết mục trình diễn, một sản phẩm thủ công hay một vật phẩm trưng bày. Di sản hiện diện trong cách người dân đến chợ, bày hàng, nói chuyện, lựa chọn món ăn, mặc trang phục, mang sản vật, gọi nhau, mặc cả, mời rượu, thử hàng, xem trâu, chơi khèn, dừng lại ở quán ăn quen. Khi các hành động ấy còn được lặp lại trong nhịp sống cộng đồng, chợ phiên vẫn giữ vai trò là không gian thực hành văn hóa. Chính tính sống ấy làm cho chợ phiên khác với một khu bán hàng lưu niệm hoặc một điểm trình diễn văn nghệ phục vụ khách du lịch.

Từ góc độ phát triển du lịch, chợ phiên là nguồn lực văn hóa có sức hấp dẫn đặc biệt. Khách du lịch tìm đến chợ phiên không chỉ vì muốn mua sản vật. Họ muốn trải nghiệm không khí chợ, quan sát trang phục, nếm món ăn, nghe âm thanh, nhìn cách trao đổi hàng hóa, cảm nhận sự khác biệt trong nhịp sống vùng cao. Chợ phiên có khả năng tạo ra trải nghiệm tổng hợp, trong đó cảnh quan, con người, hàng hóa, âm thanh, mùi vị, tuyến đường và câu chuyện địa phương cùng tham gia tạo nên giá trị. Đây là lợi thế mà nhiều sản phẩm du lịch nhân tạo khó có được.

Dẫu vậy, nguồn lực văn hóa của chợ phiên chỉ bền vững khi nó tiếp tục được nuôi dưỡng trong đời sống cộng đồng. Nếu du lịch chỉ chọn lấy phần dễ nhìn, dễ chụp, dễ bán, dễ đưa vào chương trình tour, chợ phiên có nguy cơ bị hiểu hẹp như một điểm tham quan cuối tuần. Khi ấy, trang phục trở thành đạo cụ, món ăn trở thành sản phẩm tiêu dùng nhanh, tiếng khèn trở thành tiết mục, vật phẩm thủ công trở thành hàng hóa lưu niệm, còn những quan hệ xã hội sâu hơn của phiên chợ bị làm mờ. Sự hấp dẫn ban đầu có thể vẫn còn, nhưng sức sống văn hóa sẽ giảm dần vì thực hành bị tách khỏi bối cảnh đã tạo ra nó.

Thực tiễn vùng cao Lào Cai cho thấy các chợ phiên có trạng thái khác nhau. Bắc Hà là nơi chợ phiên đã được du lịch nhận diện rộng, các hoạt động dịch vụ và thương mại phục vụ du khách xuất hiện rõ hơn. Sín Chéng lại cho thấy một trạng thái khác: phiên chợ còn đậm nhịp cộng đồng, là nơi nhiều nhóm cư dân đến trao đổi, buôn bán, gặp gỡ, trong khi du lịch đang mở ra như một khả năng phát triển mới. Hai trạng thái ấy gợi ý rằng không thể có một mô hình duy nhất cho mọi chợ phiên. Mỗi chợ cần được nhìn nhận từ sức sống hiện có, mức độ tham gia của cộng đồng, áp lực thị trường, khả năng quản lý và năng lực hưởng lợi của người dân.

Chợ phiên vì thế cần được xem là không gian di sản sống trước khi được xem là sản phẩm du lịch. Cách nhìn này không làm giảm giá trị kinh tế của chợ phiên. Trái lại, nó giúp phát triển du lịch có nền tảng vững chắc hơn. Khi cộng đồng vẫn đi chợ, vẫn bán hàng, vẫn nấu ăn, vẫn dệt thêu, vẫn trao đổi tri thức, vẫn kể câu chuyện của mình, du lịch có chất liệu thật để phát triển. Khi đời sống chợ yếu đi, du lịch phải bù đắp bằng dàn dựng, tái hiện và quảng bá, làm cho chi phí bảo tồn hình ảnh tăng lên trong khi sức sống văn hóa giảm xuống.

Sức sống di sản chợ phiên - tiêu chí văn hóa của phát triển du lịch bền vững

Phát triển du lịch bền vững thường được nhìn từ các tiêu chí kinh tế, xã hội, môi trường và quản lý điểm đến. Những tiêu chí ấy cần thiết, nhất là trong bối cảnh du lịch Việt Nam đang hướng tới phát triển hiệu quả, chuyên nghiệp, có khả năng cạnh tranh và có trách nhiệm. Luật Du lịch năm 2017(7), Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030(8) và Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 18-5-2023 của Chính phủ(9) đều đặt ra yêu cầu phát triển du lịch theo hướng bền vững, nâng cao chất lượng, phát huy tài nguyên và bảo đảm lợi ích lâu dài. Với các điểm đến dựa trên di sản văn hóa phi vật thể, cần bổ sung một tiêu chí có tính văn hóa: sức sống của di sản.

Sức sống di sản chợ phiên có thể hiểu là khả năng các thực hành văn hóa gắn với phiên chợ tiếp tục được cộng đồng duy trì, trao truyền, thích ứng và gắn với đời sống hiện tại. Sức sống ấy không đồng nghĩa với việc giữ nguyên mọi hình thức cũ, cũng không phải là sự đông vui bề mặt trong ngày chợ. Một phiên chợ có sức sống khi người dân còn thấy cần đến chợ, còn xem chợ là không gian của mình, còn sử dụng chợ để trao đổi hàng hóa, thông tin, tình cảm và tri thức; khi các kỹ năng nấu ăn, chọn sản vật, dệt thêu, dùng cây thuốc, xem trâu, sử dụng nhạc cụ, mặc trang phục, ứng xử trong chợ vẫn được thực hành; khi người trẻ còn có cơ hội học từ người già, con cháu còn được đưa đi chợ, người bán hàng nhỏ còn có chỗ đứng và sinh kế từ phiên chợ.

Có thể nhận diện sức sống di sản chợ phiên qua một số biểu hiện cơ bản. Trước hết là sự hiện diện của chủ thể cộng đồng. Di sản văn hóa phi vật thể không thể tồn tại nếu thiếu người thực hành. Trong chợ phiên, chủ thể ấy không chỉ là nghệ nhân theo nghĩa hẹp, mà còn là người bán hàng, người nấu ăn, người mang sản vật từ bản xuống chợ, người dệt thêu, người bán cây thuốc, người nuôi trâu, người chơi khèn, người làm nhạc cụ, người già giữ tri thức, người trẻ tiếp nhận kỹ năng, người đi chợ để gặp gỡ và duy trì quan hệ xã hội. Khi du lịch phát triển, nếu nhóm chủ thể này chỉ còn hiện diện như người phục vụ bên lề hoặc bị đẩy ra khỏi vị trí trung tâm của chợ, sức sống di sản sẽ suy giảm.

Biểu hiện tiếp theo là không gian và thời gian cộng đồng của phiên chợ. Chợ phiên gắn với chu kỳ định kỳ, với tuyến đường từ bản xuống chợ, với các điểm dừng, điểm ăn, khu bán hàng quen, khu gặp gỡ, khu trao đổi vật nuôi, khu sản vật, khu ẩm thực. Không gian ấy có tính linh hoạt. Người dân có thể di chuyển, chọn chỗ, thay đổi vị trí, gặp người quen, nối tiếp thói quen cũ và điều chỉnh theo nhu cầu mới. Khi tổ chức du lịch can thiệp vào không gian chợ, việc phân khu, chỉnh trang, bố trí tuyến khách, bãi xe, điểm bán hàng là cần thiết cho quản lý. Song nếu tổ chức quá cứng, đặt ưu tiên phục vụ khách lên trên nhịp sử dụng của người dân, không gian cộng đồng sẽ bị thu hẹp.

Sức sống di sản còn thể hiện ở tính liên tục của các thực hành văn hóa. Trong chợ phiên, ẩm thực, thổ cẩm, dược liệu, sản vật, chợ trâu, khèn, gậy sênh tiền, trang phục, hoa văn, ngôn ngữ, cách chào hỏi, cách mời rượu, cách mặc cả đều là những biểu hiện của đời sống văn hóa. Du lịch có thể giúp các thực hành ấy được nhìn thấy nhiều hơn, được tiêu thụ nhiều hơn, được kể lại rộng hơn. Nhưng phát triển du lịch chỉ thật sự bền vững khi các thực hành đó không bị rút gọn thành tiết mục ngắn, hình ảnh minh họa hay hàng hóa tách khỏi tri thức và người thực hành.

Một biểu hiện quan trọng khác là cơ chế trao truyền. Di sản sống không chỉ cần người đang thực hành mà còn cần thế hệ kế tiếp có khả năng tiếp nhận. Với chợ phiên, trao truyền diễn ra trong gia đình, trong nhóm nghề, trong quá trình trẻ em theo cha mẹ đi chợ, phụ giúp bán hàng, học chọn nguyên liệu, học thêu, học nấu, học nhận biết cây thuốc, học giao tiếp, học cách ứng xử với khách và với người trong cộng đồng. Nếu du lịch tạo thêm thu nhập nhưng không tạo điều kiện để người trẻ tiếp tục học nghề, hiểu nghề, tự hào về nghề, sức sống di sản vẫn thiếu nền tảng dài hạn.

Sức sống di sản cũng gắn với sinh kế của người thực hành. Không thể yêu cầu cộng đồng duy trì di sản nếu việc thực hành không gắn với đời sống. Người bán hàng nhỏ, nghệ nhân, người làm nghề thủ công, người nấu ăn, người nuôi trâu, người bán nông sản, người hái dược liệu đều cần có thu nhập tương xứng, điều kiện bán hàng phù hợp và cơ hội tham gia chuỗi giá trị du lịch. Khi lợi ích du lịch tập trung chủ yếu ở các khâu trung gian, còn người duy trì di sản nhận phần lợi ích nhỏ, động lực duy trì thực hành sẽ yếu đi. Bền vững về văn hóa cần đi cùng bền vững về sinh kế.

Sức sống di sản phụ thuộc vào quyền diễn giải, quyền lựa chọn chia sẻ và quyền hưởng lợi của cộng đồng. Chợ phiên không chỉ được nhìn, chụp, mua bán; chợ phiên còn cần được kể đúng từ phía cộng đồng. Người thực hành có quyền nói về món ăn, sản vật, nghề, trang phục, lễ tục, ký ức, biến đổi và mong muốn của mình. Họ cũng có quyền lựa chọn điều gì nên chia sẻ, điều gì không nên đưa vào trình diễn du lịch, điều gì cần giữ trong phạm vi cộng đồng. Khi câu chuyện về di sản chủ yếu do doanh nghiệp, hướng dẫn viên, truyền thông hoặc nền tảng số kể thay, quyền diễn giải của cộng đồng bị thu hẹp. Điều đó làm cho phát triển du lịch mất cân bằng ngay từ tầng văn hóa.

Từ những biểu hiện trên, sức sống di sản cần trở thành tiêu chí văn hóa trong quản lý phát triển du lịch chợ phiên. Một địa phương không chỉ nên hỏi phiên chợ thu hút bao nhiêu khách, tạo bao nhiêu doanh thu, có bao nhiêu dịch vụ mới. Cần hỏi thêm: người dân địa phương còn đi chợ nhiều hay ít; nhóm chủ thể nào đang rời khỏi chợ; thực hành nào đang mạnh, thực hành nào đang yếu; nghề nào còn được truyền; người trẻ có tham gia không; cộng đồng có tiếng nói trong thiết kế sản phẩm không; lợi ích du lịch có quay lại cho người thực hành không; không gian và thời gian chợ có còn phục vụ đời sống cộng đồng không. Những câu hỏi ấy giúp du lịch không chỉ tăng trưởng, mà còn phát triển trên nền tảng văn hóa bền vững.

Những vấn đề đặt ra trong phát triển du lịch gắn với chợ phiên vùng cao

Du lịch tạo cơ hội quan trọng để phát huy giá trị chợ phiên. Khi khách du lịch đến nhiều hơn, chợ phiên có điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản vật, tăng khả năng nhận diện hình ảnh địa phương, thúc đẩy cải thiện giao thông, vệ sinh, dịch vụ, an ninh trật tự và môi trường kinh doanh. Nhiều người dân có thể bán được hàng với giá tốt hơn, có thêm việc làm, thêm động lực duy trì nghề truyền thống. Địa phương có thêm chất liệu để xây dựng thương hiệu du lịch, phát triển sản phẩm văn hóa, kết nối tuyến điểm, thu hút đầu tư và nâng cao đời sống nhân dân. Đây là mặt tích cực cần được nhìn nhận đầy đủ. Song phát triển du lịch gắn với chợ phiên cũng đặt ra nhiều vấn đề cần quản lý từ sớm.

Một , nguy cơ mỏng hóa thực hành di sản. Khi hoạt động du lịch chú trọng phần nhìn thấy nhanh, một số giá trị của chợ phiên dễ bị chọn lọc theo thị hiếu khách. Trang phục đẹp, món ăn lạ, khu bán trâu, tiếng khèn, cảnh mặc cả, nụ cười của người bán hàng trở thành hình ảnh quảng bá. Những yếu tố ấy có sức hấp dẫn thật, nhưng nếu chỉ dừng ở hình ảnh, du khách khó hiểu chiều sâu xã hội của phiên chợ. Khi cộng đồng phải điều chỉnh quá nhiều để phục vụ cách nhìn của khách, thực hành văn hóa dễ chuyển từ hoạt động đời sống sang hoạt động biểu diễn.

Hai là, tổ chức lại không gian và thời gian chợ theo logic điểm đến. Quản lý chợ trong bối cảnh du lịch cần có phân luồng giao thông, vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy, kiểm soát an toàn thực phẩm, bố trí khu dịch vụ, khu bán hàng và điểm dừng chân. Đây là những yêu cầu chính đáng. Điểm cần lưu ý là không gian chợ phiên vốn vận hành bằng sự linh hoạt và thỏa thuận của cộng đồng. Nếu quy hoạch chỉ nhằm thuận tiện cho khách tham quan, xe du lịch, quầy dịch vụ và điểm chụp ảnh, người dân có thể mất vị trí quen thuộc, mất quan hệ bạn hàng, mất khả năng tự tổ chức hoạt động trong chợ. Tương tự, nếu thời gian chợ bị kéo dài hoặc điều chỉnh theo sự kiện, chợ đêm, lịch tour, phiên chợ dễ lệch khỏi nhịp sinh hoạt cộng đồng.

Ba , sự thay đổi vị thế và tiếng nói của cộng đồng chủ thể. Trong chợ phiên truyền thống, người dân là chủ thể của hoạt động: họ đi chợ, bán hàng, mua hàng, gặp gỡ, trao đổi, thực hành văn hóa và tự điều chỉnh cách tham gia. Khi du lịch phát triển mạnh, họ có thể bị đặt vào vị trí người cung ứng dịch vụ cho khách. Sự chuyển đổi này không hoàn toàn tiêu cực, vì dịch vụ du lịch có thể tạo sinh kế. Điểm cần cảnh giác là khi cộng đồng chỉ còn được nhìn như người bán hàng, người mặc trang phục đẹp, người biểu diễn hoặc đối tượng để khách chụp ảnh. Nếu câu chuyện về chợ phiên chủ yếu do hướng dẫn viên, doanh nghiệp, ấn phẩm quảng bá, mạng xã hội hoặc nền tảng số kể thay, quyền diễn giải của cộng đồng bị thu hẹp, còn những biến đổi, khó khăn, nhu cầu sinh kế và mong muốn của người thực hành ít được nói đến.

Bốn là, phân bổ lợi ích chưa đều. Du lịch tạo ra giá trị kinh tế, nhưng các nhóm tham gia không hưởng lợi giống nhau. Người bán hàng nhỏ có thể tăng thu nhập trong ngày chợ, nhưng cũng chịu chi phí thuê chỗ, vận chuyển, cạnh tranh và áp lực giá. Nghệ nhân, người làm nghề, người nấu ăn, người bán sản vật địa phương có thể được hưởng lợi nếu sản phẩm của họ được tiêu thụ trực tiếp, nhưng dễ bị yếu thế nếu khâu trung gian chiếm phần lớn giá trị. Doanh nghiệp lữ hành, dịch vụ vận chuyển, cơ sở lưu trú, nhà hàng ở ngoài không gian chợ có thể hưởng lợi nhiều hơn người duy trì thực hành di sản trong chợ. Nếu thiếu cơ chế tái đầu tư cho cộng đồng, du lịch dễ sử dụng di sản như nguồn lực đầu vào mà không bù đắp tương xứng cho điều kiện duy trì di sản.

Năm là, ranh giới giữa phát huy và thương mại hóa thiếu trách nhiệm. Chợ phiên vốn có trao đổi hàng hóa nên không thể xem thương mại là yếu tố xa lạ. Điều cần phân biệt là thương mại dựa trên sinh kế cộng đồng với thương mại làm mất nền tảng văn hóa của thực hành. Khi sản phẩm thủ công được làm nhanh để bán rẻ, khi hoa văn bị sao chép mà không còn người hiểu ý nghĩa, khi món ăn được biến đổi quá mức để phù hợp khẩu vị khách, khi sản vật ngoài địa phương tràn vào dưới danh nghĩa đặc sản vùng cao, giá trị chợ phiên sẽ bị pha loãng. Phát huy di sản không thể chỉ là tăng số lượng hàng bán; cần bảo đảm mối liên hệ giữa sản phẩm, người thực hành, tri thức và địa bàn.

Những vấn đề trên không có nghĩa du lịch là lực làm suy giảm di sản một cách tất yếu. Du lịch có thể trở thành động lực bảo tồn nếu được tổ chức có trách nhiệm. Điểm cốt lõi là quản lý phát triển phải nhìn thấy chợ phiên như một không gian di sản sống, nơi mỗi can thiệp về hạ tầng, sản phẩm, truyền thông, sự kiện, giá cả, tuyến tham quan đều tác động đến điều kiện sống của di sản. Khi chính sách chỉ theo dõi khách, doanh thu và dịch vụ, các biến đổi văn hóa thường bị phát hiện muộn. Khi chính sách theo dõi sức sống di sản, địa phương có thể điều chỉnh sớm hơn, bảo vệ được nền tảng văn hóa của phát triển du lịch.

Chợ phiên Bắc Hà lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền thống và sắc màu cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc_Ảnh: dantocphattrien.vietnamnet.vn

Định hướng phát triển du lịch bền vững từ sức sống di sản chợ phiên

Thứ nhất, cần đặt cộng đồng chủ thể và sức sống di sản ở trung tâm của phát triển du lịch chợ phiên. Đây phải là nguyên tắc xuyên suốt trong quy hoạch, quản lý, xây dựng sản phẩm, truyền thông và phân phối lợi ích. Trước mỗi hoạt động can thiệp vào chợ phiên, cần đặt câu hỏi: hoạt động này có giúp người dân tiếp tục đi chợ, tiếp tục bán hàng, tiếp tục thực hành nghề, tiếp tục trao truyền tri thức và có thêm lợi ích hay không. Nếu câu trả lời không rõ, hoạt động ấy cần được điều chỉnh. Phát triển du lịch chợ phiên không nên bắt đầu từ việc tạo thêm cảnh quan cho khách, mà từ việc củng cố vai trò của cộng đồng trong chính không gian chợ của họ.

Thứ hai, cần bảo vệ không gian và thời gian cộng đồng của phiên chợ. Việc chỉnh trang hạ tầng, bảo đảm vệ sinh, an toàn, giao thông, phòng cháy chữa cháy và mỹ quan là cần thiết. Nhưng chỉnh trang không đồng nghĩa với làm cứng toàn bộ không gian chợ. Địa phương cần xác định các khu vực cốt lõi gắn với thực hành cộng đồng, các tuyến di chuyển quen thuộc, khu bán hàng của người dân địa phương, khu ẩm thực, khu vật nuôi, khu sản vật, các điểm gặp gỡ có ý nghĩa xã hội. Những không gian này cần được bảo vệ khỏi sự lấn át của dịch vụ thuần túy du lịch. Tương tự, thời gian phiên chợ chính cần được tôn trọng. Chợ đêm, sự kiện, hoạt động bổ trợ nên được tổ chức ở vị trí và thời điểm phù hợp, không thay thế nhịp chợ cộng đồng.

Thứ ba, cần phát triển sản phẩm du lịch dựa trên thực hành sống. Một sản phẩm du lịch chợ phiên có trách nhiệm không chỉ đưa khách đến xem chợ, mua hàng và chụp ảnh. Sản phẩm ấy cần giúp khách hiểu vì sao người dân đi chợ, món ăn gắn với tri thức nào, hoa văn thổ cẩm do ai làm, cây thuốc được nhận biết ra sao, khu chợ trâu vận hành theo kinh nghiệm gì, tiếng khèn hoặc gậy sênh tiền gắn với bối cảnh văn hóa nào. Điều này không có nghĩa biến phiên chợ thành lớp học dài dòng. Cần tổ chức diễn giải vừa đủ, đúng bối cảnh, có sự tham gia của người thực hành, để du khách hiểu sâu hơn mà không làm gián đoạn nhịp chợ.

Thứ tư, cần nâng cao quyền diễn giải của cộng đồng. Người thực hành phải được tham gia vào cách kể chuyện về chợ phiên. Có thể xây dựng đội ngũ thuyết minh cộng đồng, nhóm người dân tham gia hướng dẫn trải nghiệm, các điểm giới thiệu nghề, các câu chuyện ngắn về món ăn, sản vật, trang phục, chợ trâu, tuyến đường đi chợ, ký ức phiên chợ. Nội dung truyền thông cần được tham vấn cộng đồng, tránh khai thác yếu tố lạ, nghèo, hoang sơ hoặc kỳ thú theo cách làm giảm phẩm giá của chủ thể. Khi cộng đồng được nói bằng tiếng nói của mình, du lịch không chỉ tiêu dùng hình ảnh văn hóa mà còn mở ra đối thoại tôn trọng giữa khách và chủ thể di sản.

Thứ năm, cần gắn phát triển du lịch với sinh kế của người dân, nghệ nhân, người làm nghề và người bán hàng nhỏ. Chính sách hỗ trợ không nên chỉ tập trung vào doanh nghiệp hoặc cơ sở dịch vụ lớn. Cần chú trọng các nhóm trực tiếp duy trì sức sống chợ phiên: người nấu ăn, người làm thổ cẩm, người bán dược liệu, người bán nông sản, người nuôi trâu, người làm nhạc cụ, người biểu diễn trong bối cảnh phù hợp, người giữ tri thức địa phương, người vận chuyển hàng từ bản xuống chợ. Hỗ trợ có thể bao gồm cải thiện điểm bán, vệ sinh an toàn thực phẩm, kỹ năng giao tiếp với khách, bảo vệ mẫu mã truyền thống, kết nối tiêu thụ sản phẩm, hướng dẫn niêm yết giá, quản lý rác thải và bảo đảm điều kiện kinh doanh công bằng.

Thứ sáu, cần xây dựng cơ chế phân phối lợi ích và tái đầu tư cho bảo tồn. Nếu chợ phiên tạo ra lợi ích du lịch, một phần lợi ích cần quay lại nuôi dưỡng điều kiện sống của di sản. Cơ chế này có thể thực hiện thông qua quỹ cộng đồng, hỗ trợ truyền dạy nghề, cải thiện không gian chợ, hỗ trợ nghệ nhân và nhóm thực hành, tổ chức hoạt động văn hóa do cộng đồng chủ trì, bảo vệ môi trường chợ, duy tu hạ tầng phục vụ người dân địa phương. Không nên xem bảo tồn là khoản chi bổ sung sau khi đã khai thác du lịch. Bảo tồn phải là một phần của mô hình vận hành du lịch. Khi người dân thấy di sản mang lại lợi ích công bằng và được tái đầu tư, họ có thêm động lực duy trì thực hành.

Thứ bảy, cần tăng cường phối hợp quản lý giữa chính quyền địa phương, ngành văn hóa, ngành du lịch, ban quản lý chợ, doanh nghiệp và đại diện cộng đồng. Chợ phiên là không gian liên ngành. Nếu chỉ quản lý như chợ thương mại, dễ bỏ sót giá trị văn hóa. Nếu chỉ quản lý như điểm du lịch, dễ bỏ qua nhu cầu sinh kế và giao thương của người dân. Nếu chỉ quản lý như hoạt động văn hóa, lại có thể thiếu năng lực điều tiết dịch vụ, an toàn, hạ tầng và thị trường. Cần một cơ chế phối hợp linh hoạt, trong đó ngành văn hóa bảo vệ giá trị và chủ thể di sản; ngành du lịch định hướng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và thị trường; ban quản lý chợ bảo đảm vận hành hằng ngày; chính quyền địa phương điều phối lợi ích; cộng đồng tham gia giám sát và phản ánh biến đổi từ thực tiễn.

Thứ tám, cần xây dựng cơ chế theo dõi sức sống di sản chợ phiên. Bên cạnh chỉ tiêu về khách, doanh thu, cơ sở dịch vụ, cần theo dõi các chỉ báo văn hóa: mức độ tham gia của người dân địa phương; số nhóm nghề còn duy trì hoạt động; thực hành nào đang suy giảm; người trẻ có tham gia trao truyền hay không; cộng đồng có được tham vấn khi xây dựng sản phẩm du lịch hay không; lợi ích có quay lại cho người thực hành hay không; không gian chợ có bị thu hẹp bởi dịch vụ du lịch hay không; sản vật địa phương có bị thay thế bởi hàng hóa ngoại lai hay không; quyền diễn giải của cộng đồng có được bảo đảm hay không. Các chỉ báo này không nhất thiết phải phức tạp. Quan trọng là chúng được theo dõi định kỳ và có tác dụng điều chỉnh chính sách.

Những định hướng trên cần được đặt trong tổng thể chính sách phát triển văn hóa, du lịch và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Luật Di sản văn hóa năm 2024, Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030(10), Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi(11), cùng Khung chiến lược phát triển du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050(12), đều tạo nền tảng quan trọng cho việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa trong phát triển. Điểm cần nhấn mạnh là chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi được cụ thể hóa thành cơ chế quản lý ở từng địa bàn, từng phiên chợ, từng nhóm chủ thể. Với chợ phiên vùng cao, chính sách đúng phải làm cho cộng đồng còn muốn đi chợ, còn có lợi ích từ chợ, còn tự hào về thực hành của mình và còn quyền quyết định cách chia sẻ di sản với du khách.

Một số gợi mở từ thực tiễn ở Lào Cai

Từ thực tiễn Lào Cai, có thể thấy Bắc Hà và Sín Chéng gợi ra hai trạng thái cần được quản lý khác nhau. Bắc Hà là phiên chợ đã được nhận diện rộng hơn trong hoạt động du lịch. Khách đến chợ không chỉ để mua bán mà còn để quan sát, trải nghiệm, chụp ảnh, thưởng thức ẩm thực, tìm kiếm sản phẩm thủ công và cảm nhận không khí vùng cao. Sự hiện diện của du lịch tạo cơ hội mở rộng sinh kế, thúc đẩy dịch vụ và nâng cao hình ảnh địa phương. Cùng lúc, Bắc Hà đặt ra yêu cầu điều tiết rõ hơn: giữ không gian cho người dân địa phương, hạn chế tình trạng trình diễn hóa quá mức, bảo đảm quyền diễn giải của cộng đồng, kiểm soát hàng hóa không gắn với địa phương, nâng cao chất lượng vệ sinh môi trường và tạo cơ chế để lợi ích du lịch quay lại với người thực hành.

Với những chợ đã có mức độ phát triển du lịch rõ hơn như Bắc Hà, vấn đề không phải là hạn chế du lịch, mà là làm cho du lịch vận hành có trách nhiệm hơn. Cần rà soát lại không gian chợ từ góc nhìn của người dân đi chợ, không chỉ từ tuyến tham quan của khách. Cần xác định nhóm thực hành nào đang chịu áp lực, nhóm nào đang hưởng lợi, nhóm nào bị yếu thế. Cần xem người dân có được tham gia vào nội dung thuyết minh, hoạt động trải nghiệm, lựa chọn sản phẩm và phản hồi chính sách hay không. Cần theo dõi những thay đổi nhỏ: người bán hàng địa phương còn giữ vị trí cũ không, khu ẩm thực truyền thống có bị thay đổi quá mức không, chợ trâu còn vận hành như không gian trao đổi kinh nghiệm hay chỉ là điểm xem cho khách, thổ cẩm còn gắn với người làm nghề hay bị thay thế bởi hàng sản xuất hàng loạt.

Các nghiên cứu gần đây về chợ phiên Si Ma Cai cũng ghi nhận Sín Chéng, Cán Cấu và các phiên chợ khác như những điểm đến có sức hút nhờ gắn mua bán với giao lưu văn hóa của cộng đồng địa phương. Sín Chéng gợi ra một trạng thái khác. Đây là phiên chợ còn rõ nhịp cộng đồng, nơi nhiều nhóm cư dân đến giao lưu, trao đổi, buôn bán trong chu kỳ chợ định kỳ. Khi du lịch còn đang mở, địa phương có cơ hội chuẩn bị tốt hơn trước khi sản phẩm, tour tuyến, truyền thông và đầu tư dịch vụ phát triển mạnh. Điều cần làm sớm là xác định cộng đồng mong muốn chia sẻ điều gì, không muốn chia sẻ điều gì; nhóm nào có thể tham gia dịch vụ; sản phẩm nào có nền tảng thực hành thật; không gian nào cần bảo vệ; nguyên tắc chụp ảnh, trải nghiệm, mua bán, trả giá, ứng xử với người dân cần được hướng dẫn ra sao. Chuẩn bị sớm giúp tránh tình trạng du lịch đến trước, cơ chế cộng đồng đi sau.

Với những chợ đang mở du lịch như Sín Chéng, chính sách cần thận trọng với việc tổ chức sự kiện lớn, tái hiện văn hóa hoặc quảng bá mạnh khi cộng đồng chưa được tham vấn đầy đủ. Du lịch vùng cao có thể phát triển từ những trải nghiệm nhỏ, sâu, tôn trọng nhịp chợ và không gây xáo trộn lớn: tuyến đi chợ có hướng dẫn văn hóa, điểm giới thiệu sản vật do người dân tham gia, trải nghiệm ẩm thực gắn với bối cảnh, giới thiệu nghề thủ công tại chỗ, câu chuyện về cây thuốc, nông sản, vật nuôi, trang phục và tuyến đường từ bản xuống chợ. Những sản phẩm như vậy không cần làm chợ trở nên ồn ào hơn, mà giúp khách hiểu đúng hơn về đời sống chợ.

Gợi mở chung từ Lào Cai là không nên áp dụng một mô hình phát triển du lịch chợ phiên cho tất cả địa bàn. Mỗi chợ có lịch sử hình thành, cấu trúc tộc người, vị trí giao thông, mức độ phát triển du lịch, nguồn sản vật, nhóm nghề, năng lực cộng đồng và áp lực thị trường khác nhau. Chính sách phát triển cần bắt đầu bằng việc đánh giá sức sống di sản của từng chợ: thực hành nào còn mạnh, thực hành nào đang yếu, nhóm chủ thể nào giữ vai trò trung tâm, sinh kế nào cần hỗ trợ, không gian nào cần bảo vệ, thời gian nào cần tôn trọng, câu chuyện nào cần để cộng đồng tự nói. Đây là bước quan trọng để chuyển từ khai thác hình ảnh văn hóa sang nuôi dưỡng điều kiện sống của di sản.

Lào Cai có lợi thế lớn để phát triển du lịch dựa trên văn hóa vùng cao, nhưng lợi thế ấy cần được sử dụng theo hướng dài hạn. Nếu chợ phiên được bảo vệ như không gian sống, du lịch sẽ có nền tảng văn hóa bền vững. Nếu chợ phiên bị biến thành không gian tiêu dùng hình ảnh, lợi thế ban đầu có thể suy giảm nhanh. Phát triển du lịch chợ phiên trong thời gian tới cần đặt mục tiêu kép: nâng cao chất lượng trải nghiệm du khách và nâng cao năng lực duy trì di sản của cộng đồng. Hai mục tiêu này không đối lập nếu được tổ chức đúng. Khách du lịch cần trải nghiệm có chiều sâu; cộng đồng cần sinh kế, sự tôn trọng và quyền tham gia; địa phương cần mô hình phát triển có sức cạnh tranh nhưng không đánh đổi nền tảng văn hóa.

Chợ phiên vùng cao là nguồn lực văn hóa đặc biệt của Lào Cai. Nguồn lực ấy không nằm riêng trong cảnh quan, sản vật hay các hình ảnh giàu màu sắc, mà nằm trong đời sống đang diễn ra của cộng đồng. Khi người dân còn đi chợ, còn trao đổi, còn nấu ăn, dệt thêu, bán sản vật, sử dụng tri thức địa phương, gặp gỡ và truyền lại kỹ năng cho thế hệ sau, chợ phiên còn sức sống. Khi sức sống ấy được bảo vệ và phát huy, du lịch có nền tảng văn hóa để phát triển bền vững.

Phát triển du lịch gắn với chợ phiên cần vượt qua cách tiếp cận thiên về khai thác hình ảnh. Số lượng khách, doanh thu và hạ tầng là những chỉ báo cần thiết, nhưng chưa đủ để đánh giá tính bền vững của một điểm đến dựa trên di sản văn hóa phi vật thể. Cần đưa sức sống di sản vào hệ tiêu chí quản lý: chủ thể còn thực hành hay không, không gian và thời gian chợ còn phục vụ cộng đồng hay không, tri thức và kỹ năng còn được trao truyền hay không, sinh kế của người thực hành có được bảo đảm hay không, cộng đồng có quyền diễn giải, lựa chọn chia sẻ và hưởng lợi hay không.

Đặt cộng đồng chủ thể ở trung tâm không có nghĩa đóng kín di sản trước du lịch. Ngược lại, đó là điều kiện để du lịch phát triển có trách nhiệm, có chiều sâu và có khả năng cạnh tranh lâu dài. Khi cộng đồng được tham gia, được tôn trọng, được hưởng lợi và được kể câu chuyện của mình, chợ phiên vừa giữ vai trò là không gian sống, vừa trở thành sản phẩm du lịch có giá trị. Khi du lịch góp phần nuôi dưỡng điều kiện sống của di sản, phát triển kinh tế và phát triển văn hóa có thể bổ trợ cho nhau.

Trong giai đoạn mới, phát huy sức sống di sản chợ phiên ở vùng cao Lào Cai cần được xem là nhiệm vụ gắn với xây dựng văn hóa, phát triển con người, phát triển du lịch bền vững và nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc. Định hướng đúng không phải là làm cho mọi phiên chợ giống nhau, cũng không phải là giữ chợ phiên như một hình ảnh bất biến. Định hướng đúng là tạo điều kiện để mỗi phiên chợ tiếp tục sống trong đời sống cộng đồng, thích ứng với phát triển du lịch, nhưng không mất đi chủ thể, nhịp chợ, tri thức, sinh kế và quyền diễn giải của chính cộng đồng đã tạo nên di sản ấy. Đây là con đường để chợ phiên vừa là không gian sống của cộng đồng, vừa là nguồn lực văn hóa cho phát triển du lịch bền vững ở vùng cao Lào Cai./.

--------------

(1) Nguyễn Thị Phương Châm: “Nguồn lực di sản văn hoá trong phát triển hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 10 (214), năm 2025, tr. 114-123, DOI: 10.56794/KHXHVN.10(214).114-123
(2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
(3) Bộ Chính trị: Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07-01-2026, về phát triển văn hóa Việt Nam
(4) Quốc hội: Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, ngày 23-11-2024
(5) Lê Văn Hiền: “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc góp phần phát triển du lịch bền vững tỉnh Lào Cai”, Tạp chí Nghiên cứu Triết học, số 22 (5-2025), tr. 85
(6) Hoàng Văn Dương, Lý Xuân Thành, Đặng Thị Oanh: “Khai thác giá trị văn hóa chợ phiên Si Ma Cai phục vụ phát triển du lịch địa phương”, Tạp chí Dân tộc học, số 1-2025, tr. 95
(7) Quốc hội: Luật Du lịch số 09/2017/QH14, ngày 19-6-2017
(8) Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 147/QĐ-TTg, ngày 22-01-2020, phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030
(9) Chính phủ: Nghị quyết số 82/NQ-CP, ngày 18-5-2023, về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững
(10) Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12-11-2021, phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030
(11) Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 1719/QĐ-TTg, ngày 14-10-2021, phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025
(12) Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai: Quyết định số 2626/QĐ-UBND, ngày 4-11-2022, ban hành Khung chiến lược phát triển du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050