Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong tình hình hiện nay
Trong bối cảnh mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước vừa có nhiều thuận lợi, vừa có nhiều biến động khó lường, hoạt động, đối ngoại phải quán triệt nắm vững quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước là: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(1), theo phương châm thêm bạn bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh...
Do đó, mở rộng quan hệ đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng cần giữ vững quan điểm, nguyên tắc; đồng thời, phải rất linh hoạt, năng động, sáng tạo trong sách lược phù hợp với điều kiện cụ thể và đối tác ta có quan hệ; trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp nội bộ của nhau, không đe dọa sử dụng và sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, hợp tác bình đẳng cùng có lợi, cùng phát triển. Đồng thời, hoạt động đối ngoại quốc phòng còn phải bám sát nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới. Theo chủ trương đó, Đảng, Nhà nước ta đã chủ động, tích cực mở rộng đối ngoại, đưa quan hệ giữa nước ta với các nước trong khu vực và quốc tế lên một tầm cao mới.
Triển khai Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngày 31-12-2013, Quân ủy Trung ương Bộ Quốc phòng đã ra Nghị quyết 806-NQ/QUTW về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Đây là định hướng cơ bản, tạo cơ sở nền tảng đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng lên tầm cao mới, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu xây dựng và bảo vệ quốc phòng trong tình hình mới. Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, chúng ta sẽ tạo dựng được môi trường hòa bình, ổn định, tiếp thu được những kinh nghiệm tiên tiến và sự hợp tác trao đổi về mọi lĩnh vực của các nước, điều đó rất có lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng - an ninh của đất nước.
Thực hiện chủ trương mở rộng hội nhập quốc tế mà Đại hội XI của Đảng đề ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương. Bộ Quốc phòng đã xác định được tầm quan trọng đặc biệt của mở rộng quan hệ quốc tế và tăng cường đối ngoại quốc phòng trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trong những năm qua, quan hệ quốc phòng với các nước đối tác cả trên bình diện song phương và đa phương, nhất là với các nước trong khu vực, được ta triển khai một cách đồng bộ và chủ động.
Hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng có biên giới liền kề luôn được ta chú trọng phát triển và ngày càng đi vào thực chất, góp phần quan trọng trong việc củng cố, tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống, thân thiện và tin cậy lẫn nhau cũng như trong việc bảo vệ biên giới, lãnh thổ quốc gia. Các hoạt động tuần tra chung trên bộ, trên biển, giao lưu, kết nghĩa giữa các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới, đấu tranh với các loại tội phạm buôn lậu, xâm nhập biên giới trái phép,… đã được ta và các nước bạn phối hợp triển khai hiệu quả.
Với Lào và Cam-pu-chia, xác định giúp bạn là tự giúp mình, ta đã triển khai hợp tác ở nhiều nội dung, ở nhiều cấp độ với các hình thức linh hoạt, qua đó đóng góp cho sự phát triển, duy trì an ninh của mỗi quốc gia, góp phần làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch hòng chia rẽ mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia, đồng thời giữ vững được vành đai an ninh phía Tây Nam của Tổ quốc.
Nổi bật trong quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc phòng với các nước ASEAN ngày càng rộng mở, đi vào chiều sâu, hiệu quả, nhất là đối với các đối tác chiến lược. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 60 nước, bao gồm cả các cường quốc; đã thiết lập cơ quan tùy viên quốc phòng của Việt Nam tại 34 quốc gia và có 45 nước đặt cơ quan tùy viên quốc phòng tại Việt Nam.
Quan hệ quốc phòng song phương giữa Việt Nam với các nước ASEAN không chỉ góp phần củng cố tình đoàn kết, hữu nghị, tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, mà còn thúc đẩy nhiều lĩnh vực hợp tác, ngăn ngừa xung đột, giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống đang nổi lên, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững công cuộc lao động hòa bình của nhân dân. Trong đối ngoại quốc phòng, việc phối hợp tuần tra biên giới trên bộ, trên biển; hợp tác về huấn luyện, đào tạo; về khoa học - công nghệ quân sự, quốc phòng... là những lĩnh vực hợp tác quốc tế quan trọng, ngày càng đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực.
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương Bộ Quốc phòng, cùng với các hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và đối ngoại nhân dân, đối ngoại quốc phòng đã có bước phát triển mới, góp phần giữ vững ổn định chính trị để xây dựng đất nước, nâng cao uy tín và vị thế của đất nước. Đối ngoại quốc phòng không ngừng được mở rộng trên nhiều lĩnh vực (quốc phòng, quân sự, kinh tế, khoa học và công nghệ), phát triển cả bề rộng và chiều sâu, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, theo tinh thần “Việt Nam là bạn với tất cả các nước, các dân tộc trên thế giới”, từng bước đưa nước ta hội nhập với thế giới, tạo dựng và củng cố môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và đạt được những thành tựu quan trọng.
Hiện nay tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp đến quá trình hội nhập quốc tế và lĩnh vực đối ngoại về quốc phòng của nước ta. Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ giữ vững môi trường hòa bình và ổn định để phát triển đòi hỏi chúng ta phải quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại; trong đó, cần tập trung quán triệt và thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Đồng thời tiếp tục đưa các mối quan hệ quốc tế vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế.
Nội dung quán triệt cần làm rõ tư duy mới của Đảng về sự gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa mục tiêu, chính sách của công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, an ninh với việc thực hiện các mục tiêu Chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết 806-NQ/QUTW. Đó là: hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng phải nhằm: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình”; đồng thời, “tạo điều kiện thuận lợi cho các lĩnh vực khác hội nhập quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, các mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn gắn bó, thống nhất với mục tiêu của hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Đảng và Nhà nước ta luôn coi mở rộng hội nhập quốc tế và đối ngoại là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của quốc phòng Việt Nam.
Trong điều kiện hiện nay, môi trường an ninh của đất nước đã có nhiều thay đổi. Cục diện chính trị thế giới, khu vực cũng đang biến động nhanh chóng, khó lường. Châu Á - Thái Bình Dương trở thành khu vực quan trọng nhất của thế giới và là trọng tâm chiến lược toàn cầu của các cường quốc. Sự can dự ngày càng sâu, trên các lĩnh vực của các nước lớn vào khu vực này sẽ tạo ra nhiều cơ hội, nhưng đồng thời có không ít thách thức đối với quốc phòng - an ninh của nước ta. Trong điều kiện đó, hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng phải là công cụ đắc lực của Đảng, Nhà nước để tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau về chiến lược với các đối tác, nhất là đối với các nước lớn có liên quan đến quốc phòng của Việt Nam. Đồng thời, đó còn là một trong những nhân tố quan trọng để nâng cao thế và lực của đất nước; tạo ra thế trận đối ngoại quốc phòng vững chắc với các cơ chế hợp tác mới, cả song phương và đa phương, góp phần tạo dựng một cấu trúc an ninh khu vực nhiều tầng, nhiều lớp, có tác dụng duy trì và củng cố hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.
Bên cạnh đó, với khả năng tranh thủ các nguồn lực và điều kiện quốc tế thuận lợi, hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng sẽ góp phần quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” và nâng cao tiềm lực, sức mạnh quốc phòng của đất nước. Không những thế, việc kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng sẽ tạo cơ hội thực hiện chủ trương thêm bạn, bớt thù; giữ vững ổn định đất nước từ bên trong; tạo khả năng to lớn để thực hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa, vững chắc.
Ngoài ra, hội nhập quốc tế và đối ngoại còn trực tiếp tham gia và tạo điều kiện để các lĩnh vực khác hội nhập quốc tế, nhất là hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần đáng kể vào đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại đất nước; thúc đẩy sự liên kết mới giữa quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, nâng cao sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đã xác định. Công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, cần tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, chủ động, tích cực triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương; trong đó, cần tập trung làm tốt một số giải pháp chủ yếu sau:
Trước hết, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo tình hình; từ đó, chủ động trong xây dựng và thực hiện thắng lợi chiến lược hội nhập quốc tế về quốc phòng trong điều kiện mới. Trong đó, việc nắm bắt tình hình phải được tổ chức chặt chẽ, thông qua nhiều kênh khác nhau để đối chiếu, kiểm chứng độ xác thực; đồng thời, coi trọng công tác phối hợp giữa các cơ quan, nhất là đối với các cơ quan chuyên trách về nghiên cứu, dự báo, thu thập và xử lý thông tin để rút ra kết luận chính xác, kịp thời.
Cùng với việc nắm bắt tình hình, cần làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo, trước hết là tham mưu chiến lược cho Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương Bộ Quốc phòng tranh thủ thời cơ thuận lợi, ra các quyết sách kịp thời, phù hợp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện bảo vệ đất nước từ xa, không để bất ngờ về chiến lược. Trong điều kiện hiện nay, công tác tham mưu chiến lược trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng phải đề xuất được các giải pháp phù hợp theo xu thế thời đại, bảo đảm vừa giữ vững được độc lập, tự chủ, vừa không để đất nước bị cuốn vào quá trình cạnh tranh phức tạp giữa các cường quốc.
Hai là, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc phòng song phương và đa phương, nhưng phải có trọng điểm, ưu tiên những đối tác có tầm quan trọng chiến lược. Trước hết, cần tăng cường, đổi mới quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, các nước ASEAN, nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác trong các cơ chế hợp tác quốc phòng do ASEAN giữ vai trò chủ đạo. Đồng thời, coi trọng quan hệ với các nước lớn, các đối tác chiến lược, nhằm tăng cường lòng tin, sự hiểu biết lẫn nhau để đẩy mạnh hợp tác; tích cực tham gia các hoạt động quốc tế một cách có trách nhiệm, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp tăng cường quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.
Quá trình thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, cần chú trọng ưu tiên cho hoạt động của các đơn vị bộ đội Biên phòng và các quân khu giáp biên giới, có biển, đảo; quan hệ giữa các quân chủng, binh chủng, học viện, nhà trường và khối doanh nghiệp của quốc phòng với các đối tác. Qua đó, nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác, như: tuần tra chung, thiết lập đường dây nóng, diễn tập chung, nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và giải quyết các vấn đề nảy sinh ở khu vực biên giới ngay từ cơ sở; đồng thời, chủ động hợp tác thực hiện kiểm soát, giải quyết các vấn đề về an ninh, quốc phòng trên các vùng biển, đảo trong khu vực để phòng ngừa xung đột và giải quyết các vấn đề trên biển đang nổi lên.
Ba là, tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị làm công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, phối hợp với các bộ, ban, ngành, địa phương có liên quan. Trước mắt, cần nghiên cứu và xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị làm công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng trong để thực hiện liên kết công tác này trong các ngành, lĩnh vực của lực lượng vũ trang với các quan hệ hợp tác quốc phòng khác thành một hệ thống chặt chẽ, nhằm tranh thủ lợi thế của đất nước trong thực hiện công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng. Về lâu dài, cần duy trì và tạo chuyển biến mới trong công tác phối hợp giữa các bộ, ban, ngành trung ương và các địa phương có liên quan để nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, hội nhập quốc tế của cả nước nói chung.
Bốn là, tiếp tục kiện toàn hệ thống các cơ quan, đơn vị làm công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng; đồng thời, nâng cao chất lượng cán bộ trực tiếp làm công tác đối ngoại. Trong đó, hệ thống cơ quan, đơn vị chuyên trách về đối ngoại quốc phòng cần tiếp tục được kiện toàn cả về tổ chức biên chế và chức năng, nhiệm vụ, tạo động lực mới hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Cùng với chú trọng xây dựng tiêu chuẩn, quy chế đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ làm công tác đối ngoại, các cơ quan chức năng cần sớm nghiên cứu, ban hành các chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút cán bộ có năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức tham gia công tác đối ngoại quốc phòng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đối ngoại và hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Cùng với việc sử dụng ngân sách, các cơ quan, đơn vị cần tranh thủ khai thác các nguồn lực cả ở trong và ngoài nước để phục vụ ngày càng tốt hơn các yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế. Trong đó, cần ưu tiên đầu tư trang bị cơ sở vật chất, phương tiện làm việc hiện đại cho các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ đối ngoại ở khu vực biên giới đất liền, các bến cảng và trên biển, bảo đảm vừa đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống, vừa góp phần nâng cao vị thế, uy tín của quân đội và đất nước trên trường quốc tế.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ban, ngành trung ương và địa phương cùng sự ủng hộ rộng rãi, mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng trong những năm tới sẽ tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.
-----------------------------------------------
Chú thích:
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 235 - 236
Phong trào “Ba sẵn sàng” - bài học kinh nghiệm cho công tác vận động thanh niên hiện nay  (25/03/2015)
Phong trào “Ba sẵn sàng” - bài học kinh nghiệm cho công tác vận động thanh niên hiện nay  (25/03/2015)
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hội kiến các lãnh đạo Lào  (24/03/2015)
Phấn đấu trở thành tổ hợp truyền thông đa phương tiện mạnh không chỉ của Việt Nam mà còn trên khu vực Đông Nam Á  (24/03/2015)
Thường trực Ban Bí thư gặp mặt cán bộ Quảng Nam - Quảng Đà  (24/03/2015)
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc
- Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong kỷ nguyên mới
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm