Kinh tế đêm - mũi nhọn trong quá trình phát triển kinh tế di sản ở Quảng Ninh

TS Doãn Công Khánh
Chuyên gia độc lập
23:41, ngày 06-12-2024

Lợi thế để phát triển kinh tế di sản của Quảng Ninh

Quảng Ninh có một vị trí địa kinh tế, địa chính trị quan trọng. Đây là địa phương duy nhất của cả nước có cả đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, với 3 cửa khẩu. Quảng Ninh cũng là nơi giao thoa, kết nối giữa vùng Trung du và miền núi phía Bắc với vùng đồng bằng sông Hồng.

Quảng Ninh là địa phương có diện tích lớn nhất của vùng đồng bằng sông Hồng, với  rừng và đồi núi chiếm 80%; có vùng biển và hải đảo rộng 6.100 km2 với phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp; có bờ biển dài 250 km với vịnh Hạ Long đã 2 lần vinh danh là di sản thiên nhiên thế giới, có cảng quốc tế nước sâu (Hòn Gai - Cái Lân).

Cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ninh đã và đang chuyển dịch tích cực từ nâu sang xanh; từ du lịch “bình dân” sang du lịch nghĩ dưỡng, tham quan, du lịch sinh thái rừng núi, biển đảo chất lượng cao; công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ tăng trưởng nhanh và đóng góp ngày càng tăng vào nền kinh tế tỉnh. Cơ cấu kinh tế theo xu thế nói trên đang và sẽ tạo thêm năng lượng nội sinh cho kinh tế Quảng Ninh tận dụng được thời cơ bứt phá.

Hệ thống hạ tầng thương mại tiếp tục được đầu tư nâng cấp đồng bộ và hiện đại. Trên địa bàn tỉnh hiện có 133 chợ, 27 siêu thị, 7 trung tâm thương mại, 88 cửa hàng tiện ích, 26 điểm bán hàng và giới thiệu sản phẩm làng nghề (OCOP), 9 cơ sở bán buôn và 268 cơ sở bán lẻ rượu, 32 cơ sở bán buôn và 414 cơ sở bán lẻ thuốc lá...

Trung tâm OCOP Quảng Ninh được hình thành mang lại hiệu quả cao, thúc đẩy việc kết nối các tour du lịch, cũng như quảng bá hình ảnh con người và sản vật Quảng Ninh. Cung Quy hoạch, Hội chợ và Triển lãm, các trung tâm thương mại gắn với du lịch đã thu hút được các nhà đầu tư có thương hiệu, uy tín như Vincom, Big C, Mega Maket hay Lotte. Hệ thống cửa hàng tiện lợi được thu hút đầu tư, phát triển nhanh. Đi đôi với hạ tầng thương mại, hạ tầng du lịch đã và đang thu hút nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước đầu tư phát triển.

Quảng Ninh là tỉnh có di sản văn hóa đồ sộ, đa dạng và giàu bản sắc nhất, được xem là Việt Nam thu nhỏ. Hiện nay, tỉnh có 6 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt gồm: Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long, khu di tích lịch sử nhà Trần (Đông Triều), Khu di tích lịch sử Bạch Đằng, Khu di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Yên Tử, Đền Cửa Ông - Cặp Tiên và Khu di tích Bác Hồ trên đảo Cô Tô, 54 di tích quốc gia, 85 di tích cấp tỉnh. Kho tàng di sản văn hoá phi vật thể khổng lồ trải dài theo thời gian và không gian với tổng số 541 di sản văn hóa vật thể, hơn 2.800 hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể, 119 lễ hội, trong đó có 76 lễ hội được kiểm kê đưa vào danh mục di sản văn hóa, 6 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia...

Văn hóa, lịch sử lâu đời và độc đáo của Quảng Ninh trở thành nguồn tài nguyên vô giá trong phát triển du lịch, kinh tế xã hội và hun đúc lên “bản sắc văn hóa” con người Quảng Ninh. Yếu tố này tạo ra sự hấp dẫn, lôi cuốn, nổi trội với du khách và cần được khai thác, phát huy tối đa trong giai đoạn tới.

Những yếu tố nói trên tạo cho Quảng Ninh một lợi thế so sánh nổi trội, tạo ra những cơ hội để phát triển kinh tế di sản.

Mặc dù có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thuộc top đầu toàn quốc, nhưng người dân Quảng Ninh chưa được hưởng lợi đầy đủ từ quá trình phát triển. Quảng Ninh vẫn còn phụ thuộc nhiều vào thu nhập từ khai thác và sản xuất nhiệt điện than.

Tỉnh vẫn còn những hạn chế về các sản phẩm du lịch hiện hữu, hoạt động ẩm thực thiếu những trải nghiệm cao cấp, cũng như các cơ sở ăn uống về đêm cho các phân khúc khách du lịch trẻ tuổi. Hiện tại, những trải nghiệm về du lịch của Quảng Ninh theo du khách đều bắt đầu và kết thúc ở Hạ Long và có rất ít trải nghiệm khác ngoài điểm thu hút chính này.

Quảng Ninh đang phấn đấu trở thành trung tâm du lịch quốc tế, một điểm đến “không thể bỏ lỡ” khi tới Việt Nam với đầy đủ các sản phẩm du lịch có chất lượng, khác biệt, giá trị gia tăng cao. Muốn vậy, Quảng Ninh  phải thể hiện được sự khác biệt so với các tỉnh khác nhờ tài nguyên du lịch và những di sản độc đáo của riêng mình, thể hiện trên các khía cạnh và bình diện sau:

- Trải nghiệm sống động trong không gian hiện đại vùng vịnh.

- Phát triển du lịch văn hóa - lịch sử - văn hóa phong phú.

- Phát triển gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

- Tận dụng thắng cảnh thiên nhiên độc nhất và kỳ thú .

- Xây dựng điểm đến vui chơi và giải trí đẳng cấp vùng.

Đến năm 2030, dự kiến 4 phân khúc du khách quan trọng của tỉnh sẽ là: Nhóm gia đình nhiều thế hệ;  Dân thành thị nghỉ cuối tuần và gia đình hạt nhân; đoàn tour các du khách từ các nước phát triển (châu Âu, Mỹ, Úc, Nhật, Hàn) lớn tuổi; khách trẻ tuổi thích phiêu lưu từ các nước phát triển(1).

Vì sao có một “sản nghiệp văn hóa” phong phú, nhưng Quảng Ninh lại chưa có được một nền kinh tế di sản tương ứng?

Để trở thành đầu tàu du lịch quốc gia, bên cạnh việc đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch, cần đặc biệt chú trọng và đẩy nhanh việc phát triển kinh tế di sản. Theo đó kinh tế đêm được xem là “lối mở” trong bối cảnh hiện nay.

Một số nét tổng quan về kinh tế đêm

“Kinh tế đêm” (Night Time Economy - NTE) - một khái niệm kinh tế học từng được nhắc đến vào những năm 1970 ở Anh, dùng để chỉ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ diễn ra sau 17h cho đến 6h sáng hôm sau, bao gồm: ẩm thực, nghệ thuật, nhà hát, âm nhạc, các chương trình giải trí, lễ hội, sự kiện và các điểm du lịch chỉ mở cửa vào ban đêm. Theo khái niệm này, kinh tế đêm bao gồm các hoạt động kinh tế, văn hóa chỉ diễn ra vào ban đêm ở những địa điểm nhất định.

Trên bình diện toàn cầu, sự xuất hiện và phát triển của các hoạt động kinh tế đêm gắn với tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Sự hình thành các đô thị đông đúc, những phát minh về chiếu sáng và sự phát triển về hạ tầng giao thông… đã đem đến cho con người khả năng kiến tạo một cuộc sống khác với quy luật sinh học và tự nhiên, vốn chỉ diễn ra trong khung giờ ban ngày.   

Từ góc nhìn xã hội học thì có thể thấy, do đặc thù về thời gian, các hoạt động kinh tế đêm trong xã hội hiện đại hướng đến đáp ứng năm loại nhu cầu của con người, bao gồm: ăn uống, mua sắm, vui chơi, giải trí và giao lưu xã hội. Cũng chính những nhu cầu này định hình nhóm khách hàng chủ yếu của kinh tế đêm là giới trẻ trong nước và khách du lịch quốc tế.

Nếu ăn uống và mua sắm sẽ luôn đối diện với những giới hạn do khách hàng có thể thực hiện vào ban ngày thì giải trí lại đối diện với nguy cơ bị khách hàng nhàm chán. Nếu không liên tục tạo ra được cái mới, giải trí sẽ đứng trước nguy cơ bị bão hòa nhu cầu vì rất khó để khách hàng lặp đi lặp lại việc tham dự sự kiện, hoạt động giải trí nào đó.

Thỏa mãn nhu cầu vui chơi và giao lưu xã hội sẽ là những động lực then chốt nhất tạo nên sự thịnh vượng của kinh tế đêm trong bối cảnh hiện nay. Vì vui chơi và giao lưu xã hội phụ thuộc vào sở thích, thị hiếu rất cá nhân cho nên các hoạt động phải bảo đảm tính đa dạng, hấp dẫn, linh hoạt và đặc biệt là vai trò chủ động của người chơi, tôn trọng sự tự do, thậm chí cả tính tự phát rất ích kỷ của mỗi cá nhân. Nói cách khác, chỉ khi các loại dịch vụ ban đêm khơi gợi và đáp ứng đúng nhu cầu được “chơi”, được “giao lưu xã hội” của mỗi cá nhân, giúp họ trải nghiệm và chủ động tương tác để tự kiến tạo niềm vui cho bản thân, chứ không chỉ bị động “nghe và xem” người khác để cảm thấy vui thì mới có thể thu hút khách hàng, giúp kinh tế đêm phát triển sôi động.

Kinh tế đêm được chia thành hai phần, bao gồm: “Kinh tế buổi tối” bao gồm những hoạt động dịch vụ diễn ra trong khoảng thời gian từ 17h đến 24h và “kinh tế đêm muộn” bắt đầu tiếp theo lúc 0h sáng và kết thúc lúc 6h sáng ngay khi buổi sáng bắt đầu. Thậm chí, một số thành phố còn mở rộng hơn khoảng thời gian “kinh tế đêm” bằng cách cho phép các hoạt động kinh doanh dịch vụ mở 24/24h.

Ở nhiều nước, kinh tế đêm là chỉ số phản ánh quan trọng sức sống của cả một nền kinh tế. Thực tế cho thấy mỗi thành phố đều có cơ chế, chính sách kèm theo kế hoạch quản lý riêng trong việc vận hành kinh tế đêm (thường dựa trên cơ sở các đặc điểm, yếu tố kinh tế - xã hội, nền tảng văn hóa của thành phố đó). Bài học kinh nghiệm từ các nước cho thấy:

- Phát triển kinh tế đêm phải xuất phát từ quy hoạch đô thị. Đó là quy hoạch phân khu tập trung, biến các tụ điểm giải trí và dịch vụ ban đêm trở thành một tổ hợp, đặc biệt là đối với mua sắm và nhà hàng. Điều cần lưu ý là “kinh tế đêm” thường chỉ phát huy lợi thế tại các điểm đến du lịch, nơi có những khu phố thương mại có chiều sâu lịch sử, văn hóa và cảnh quan thiên nhiên.

  - Để có được một đời sống kinh tế ban đêm theo nghĩa rộng, vấn đề không chỉ nằm ở giấy phép kinh doanh mà cần có những giải pháp mang tính bao quát từ khối lượng công việc, vốn đầu tư, xây dựng hạ tầng, lập pháp, phần cứng lẫn phần mềm, của cả khu vực nhà nước và tư nhân.

- Hoạt động kinh tế đêm được dẫn dắt bởi thị trường nên phải làm sao phù hợp với nhu cầu của thị trường, nhưng cũng phải phù hợp với bản sắc văn hóa và trình độ phát triển.

- Các mô hình/loại hình kinh tế đêm mà nhiều thành phố trên thế giới thường phát triển gồm: Dịch vụ ăn uống, nhà hàng, quán cà phê, takeaways, nhà hàng phục vụ đồ ăn nhanh cho bữa tối; quán rượu và quán bar; dịch vụ văn hóa và giải trí: nhà hát, rạp chiếu phim, nhạc sống và các sự kiện hài kịch, sự kiện, lễ hội nói chung; các chương trình nhạc sống, nhạc jazz, các câu lạc bộ về ngôn ngữ, nấu ăn, nếm rượu, đọc sách…; hoạt động thể thao, các trận đấu thể thao trực tiếp; các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Mô hình các câu lạc bộ ban đêm về tập gym, nhảy zumba, khiêu vũ, đấm bốc… cũng là xu hướng của nhiều xã hội hiện đại ngày nay.

- Mỗi loại hình kinh tế đêm, hay hoạt động kinh tế đêm, có thể được thúc đẩy thông qua các quy định và dịch vụ hỗ trợ như sự hoạt động của hệ thống phương tiện giao thông khi đêm muộn; chính sách về nới rộng giờ kinh doanh; chính sách về truyền thông; chính sách về bảo đảm an ninh; chính sách hỗ trợ về tài chính,…

Bên cạnh đó, các chính sách về kinh tế ban đêm cũng thường đòi hỏi sự cân bằng đối với chất lượng của cuộc sống như nhu cầu bảo đảm sự yên tĩnh vào đêm khuya trong khu dân cư sinh sống.

Kinh tế đêm thực tế không phải là một phát kiến mới và cũng không phải là trào lưu phát triển rộng rãi ở nhiều các quốc gia. Các nước phát triển coi đây là động lực tăng trưởng mới trong bối cảnh kinh tế suy thoái, trong khi đó, những quốc gia có thế mạnh du lịch cũng chủ động mở cửa ngành dịch vụ đêm để tối đa hóa nguồn thu.

Việc mở cửa cho kinh tế về đêm được đánh giá phù hợp với xu hướng quốc tế và là yếu tố sống còn để níu chân khách du lịch, đặc biệt là khi chiến lược của ngành du lịch đặt mục tiêu 10 tỷ USD doanh thu vào năm 2030.

Việt Nam có một số tiềm năng để có thể phát triển kinh tế đêm.Trên thực tế, các hoạt động kinh tế đêm ở Việt Nam xuất hiện cũng từ khá lâu nhưng quy mô nhỏ lẻ, manh mún, tự phát. Có những hoạt động mang tính truyền thống và văn hóa (như chợ đêm ở nhiều địa phương, chợ Kỳ Lừa - Lạng Sơn, chợ Tình ở Sa Pa, Hà Giang…). Nhưng cũng có những hoạt động mang tính thời đại, như dịch vụ logistics, vận tải, bốc vác, bán hàng đêm, dịch vụ vui chơi, giải trí, mua sắm…

Như vậy, cả về cung và cầu ở Việt Nam đều hội tụ những điều kiện để có thể phát triển kinh tế đêm. Tuy nhiên, nhìn về tổng thể, kinh tế đêm ở Việt Nam phát triển còn chậm và đơn điệu, chưa tạo được sức hấp dẫn du khách. Mới chỉ được khai thác ở quy mô nhỏ, chưa tạo được dấu ấn, chất lượng và dịch vụ còn nhiều mặt bất cập. Đây là một trong những lý do khiến doanh thu du lịch và mức chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam thấp so với các thị trường khác.

Thách thức trong quá trình phát triển kinh tế đêm hiện nay không đơn giản chỉ là ưu đãi đầu tư, xây dựng các tuyến phố đi bộ, chợ đêm hay tụ điểm giải trí phức hợp. Điều quan trọng là phải thiết kế được không gian giao lưu xã hội hiện đại, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhưng phải phù hợp với truyền thống văn hóa và luật pháp hiện hành. Doanh thu du lịch và mức chi tiêu của du khách hiện còn thấp, có nguyên nhân từ khoảng trống khai thác các dịch vụ sau 24 giờ. Trong khi đó, nhu cầu của du khách sử dụng dịch vụ, vui chơi giải trí, thưởng thức nghệ thuật về đêm rất lớn,  không chỉ loanh quanh ở phố đi bộ, chợ đêm, quán karaoke, vũ trường hay ăn vặt...

Để phát triển kinh tế đêm, cần chú trọng 3 thành tố: vui chơi, ăn uống và mua sắm. Theo đó, cần phải xử lý những vấn đề sau:

- Các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các hoạt động kinh doanh, dịch vụ phát triển kinh tế đêm. Theo đó, bước đi đầu tiên là hoàn thiện khung pháp lý liên quan (quy định về khu vực hoạt động; sản phẩm ưu tiên; thời gian, giấy phép, tiêu chuẩn hoạt động...).

- Quy định về loại dịch vụ được kinh doanh, giải trí về đêm đáp ứng nhu cầu du khách. Một số dịch vụ phổ biến như nhà hàng và quán bar và các điểm thưởng thức ẩm thực mở cửa phục vụ khách hàng trong đêm. Cùng với đó là các dịch vụ giải trí, thể thao, như rạp chiếu phim, sân khấu, sân vận động và các khu vui chơi giải trí có thể tổ chức các sự kiện và hoạt động giải trí, thể thao đêm.

Dịch vụ lưu trú như các khách sạn và nhà nghỉ. Dịch vụ chăm sóc cá nhân như các phòng gym, spa, và các cửa hàng tiện lợi. Dịch vụ y tế (bệnh viện, phòng khám và dịch vụ cấp cứu…) là những loại hình hết sức cần thiết.

Những chương trình biểu diễn nghệ thuật có chiều sâu văn hóa, lịch sử, nhưng cũng có độ hoành tráng và sự mới mẻ theo xu hướng của thế giới luôn là sản phẩm hấp dẫn, thu hút khách tham gia và chi tiêu mạnh về đêm.

- Bảo đảm an toàn, an ninh, vệ sinh môi trường; chất lượng hàng hóa, xuất xứ và giá cả hàng hóa.

- Tạo thuận lợi về giao thông như hạ tầng, phương tiện, thời gian tàu xe đi lại muộn hơn, phân tuyến phù hợp để khách du lịch dễ dàng đi đến các điểm du lịch, điểm kinh doanh buôn bán về đêm theo quy hoạch.

- Quy định về thời gian cho các hoạt động kinh doanh, dịch vụ về đêm.

 Phát triển kinh tế đêm ở Quảng Ninh

 Ngày 22-9-2023, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã Phê duyệt Đề án thí điểm mô hình phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023 - 2025. Ngày 8-3-2024, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh đã thông báo Kết luận, chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tại cuộc họp nghe rà soát về tiến độ, các khó khăn và vướng mắc triển khai Đề án thí điểm. Ngày 8-5-2024, Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục có ý kiến chỉ đạo việc triển khai Đề án.

Thực tiễn cho thấy, các hoạt động kinh tế đêm ngày càng đa dạng, bước đầu đã  thu hút được người dân và du khách tham gia, góp phần gia tăng việc làm, kích thích tiêu dùng... kéo dài thời gian lưu trú của du khách, tăng tỷ lệ đóng góp và thu ngân sách cho tỉnh.

Nhìn chung, các hoạt động dịch vụ về đêm của tỉnh chủ yếu vẫn tập trung tại 2 trung tâm du lịch của tỉnh là thành phố Hạ Long, thành phố Móng Cái và rải rác tại các trung tâm du lịch của các huyện, thị với các sản phẩm gắn với du lịch như: hoạt động vui chơi giải trí tại Công viên đại dương Hạ Long; Quảng trường 30/10; Phố ẩm thực, Khu ẩm thực đêm Hạ Long Marina (Hạ Long); phố đi bộ tại phường Trần Phú và một số điểm dịch vụ ăn đêm (Móng Cái); phố đi bộ huyện Tiên Yên, Cẩm Phả, Hải Hà, Đầm Hà, Cô Tô; phố ẩm thực Cô Tô; Quảng trường trung tâm thành phố Uông Bí... thời gian hoạt động từ 19h đến 22h.

Bên cạnh những “cái được”, việc tổ chức, phát triển kinh tế đêm trong thời gian qua cũng bộc lộ những bất cập, chưa tương xứng với giá trị các di sản, thể hiện trên các mặt sau:

- Hoạt động kinh tế đêm còn manh mún, chưa có sự đầu tư bài bản, thu hút được những nhà đầu tư lớn.

- Thiếu các trung tâm, các điểm vui chơi giải trí về đêm quy mô lớn, đặc sắc. Hoạt động ở một vài nơi còn mang tính chộp giật, thời vụ nhất là đối với các lĩnh vực dịch vụ ăn uống, mua sắm tại các khu vực có đông khách du lịch.

- Kinh tế đêm còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa khuyến khích được du khách chi tiêu vào các hoạt động du lịch, dịch vụ.

 Để kinh tế đêm hấp dẫn, lôi cuốn, có chiều sâu và hiệu quả, cần chú trọng, hoàn thiện những mặt sau:

Về cấu trúc không gian phát triển du lịch

Cấu trúc không gian phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh bao gồm các phân vùng du lịch đô thị, phân vùng du lịch văn hóa phía Tây, phân vùng du lịch miền núi, phân vùng du lịch biển đảo, các đầu mối liên kết du lịch và các trục kết nối.

Phân vùng du lịch đô thị đã được hình thành là Đô thị ven biển thành phố Hạ Long, sẽ được tiếp tục phát triển với nhiều hoạt động du lịch mới như phố đi bộ mua sắm ven biển, mô hình làng chài du lịch, cải tạo các công trình hiện hữu để phục vụ du lịch như Bảo tàng,... Đây hiện nay cũng là đầu mối liên kết với các phân vùng du lịch khác.

   Phát triển các phân vùng du lịch đô thị mới tại Vân Đồn, Móng Cái, với các công trình du lịch trọng điểm như khu mua sắm, Casino,... phục vụ nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Trong tương lai các phân vùng này đồng thời cũng giữ chức năng là đầu mối liên kết du lịch cho tỉnh Quảng Ninh, trong đó Móng Cái là đầu mối có tính chất cửa ngõ, Vân Đồn với sân bay quốc tế và khả năng liên kết du lịch vùng biển đảo và vùng đồi núi, sẽ là một đầu mối mang tính chất động lực mới cho tỉnh Quảng Ninh.

   Hình thành đầu mối liên kết có tính chất cữa ngõ ở phía Tây tại Đông Triều, đây cũng là đầu mối cho hoạt động du lịch phía của phân vùng du lịch văn hóa phía Tây (Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên).

   Các đầu mối được tăng cường liên kết bằng hệ thống giao thông liên vùng như đường cao tốc, đường tốc độ cao, đã và đang được hình thành.

   Phân vùng du lịch biển với di sản thế giới vịnh Hạ Long sẽ tiếp tục được bảo tồn và phát huy, đồng thời phát huy tiềm năng các phân vùng du lịch biển đảo mới tại Vân Đồn và Cô Tô. Các khu vực phát triển mới được định hướng xây dựng hài hoà với mật độ thấp, hài hòa với thiên nhiên và phân chia ranh giới phát triển không xâm phạm vào các vùng bảo tồn thiên nhiên.

Phân vùng du lịch miền núi phía Đông tại Tiên Yên, Ba Chẽ, Bình Liêu, được tăng cường liên kết với đầu mối du lịch Vân Đồn. Đầu mối du lịch Vân Đồn và mối liên kết mới này sẽ là động lực thúc đẩy phát triển du lịch các địa phương miền núi phía Đông.

 Về địa điểm thí điểm kinh tế đêm

Trong thời gian thí điểm, triển khai mô hình phát triển kinh tế đêm tại các địa phương: thành phố Hạ Long, thành phố Móng Cái, thành phố Cẩm Phả, thị xã Đông Triều, huyện Cô Tô. Ngoài những khu vực du lịch, dịch vụ đêm hiện hữu, cần quy hoạch, phát triển thêm tại các khu vực khác như khu du lịch và giải trí quốc tế Tuần Châu,  đồi Đặng Bá Hát,  các chợ trung tâm (chợ Cái Dăm, chợ Hạ Long I)…

Nghiên cứu phát triển tại các khu di tích, sân golf, xây dựng phương án phát triển kinh tế đêm tại các xã khu vực phía Bắc của thành phố Hạ Long. Trên vịnh Hạ Long, cần nghiên cứu tổ chức các sự kiện âm nhạc, tiệc đêm trên tàu; xây dựng các tour, tuyến du lịch thăm làng chài, khu nuôi trồng thủy sản, khu nuôi cấy ngọc trai vào ban đêm; dịch vụ câu cá, câu mực đêm…; kiến tạo các trung tâm mua sắm, chú ý đến sản phẩm đặc trưng vùng. miền.

Về sản phẩm, dịch vụ phục vụ kinh tế đêm tại các khu vực thí điểm

(i) Lĩnh vực biểu diễn văn hóa, nghệ thuật

Lựa chọn các hoạt động, dịch vụ văn hóa, vui chơi, giải trí bảo đảm quy mô phù hợp tại địa điểm riêng biệt.

Lựa chọn các loại hình biểu diễn nghệ thuật phù hợp để triển khai về ban đêm, tổ chức biểu diễn với tần suất phù hợp (thường xuyên hoặc định kỳ).

Tổ chức các chuỗi sự kiện đặc trưng về ban đêm.

Ưu tiên lựa chọn chương trình biểu diễn văn hóa nghệ thuật quy mô lớn, đẳng cấp quốc gia và quốc tế, giàu tính sáng tạo, có tính nghệ thuật cao, mang đậm bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc.

(ii) Lĩnh vực mua sắm, giải trí đêm

- Quy hoạch hoặc sắp xếp lại các bar, vũ trường.

- Bố trí các khu vực mua sắm riêng biệt nằm trên các tuyến phố đi bộ sẵn có và xây dựng mới theo phân khu chức năng tại các khu vực trung tâm phát triển về du lịch.

- Phát triển các chuỗi cửa hàng mua sắm thời trang; hệ thống cửa hàng tiện lợi, dịch vụ ăn uống về ban đêm tại các khu vực trung tâm phát triển về du lịch.

- Khuyến khích các trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi kéo dài thời gian cung cấp dịch vụ (dự kiến 24/7).

    (iii) Lĩnh vực thể thao, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp về ban đêm.

    - Tổ chức cung cấp dịch vụ thể thao như bóng chuyền, nhảy vũ điệu, yoga, chạy bộ, câu cá… các hoạt động chăm sóc sức khỏe, làm đẹp về ban đêm; định kỳ tổ chức lễ hội, liên hoan, giải đấu, sự kiện thể thao trong nước và các hoạt động giao lưu, trình diễn quốc tế.

    - Phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe trên cơ sở phát huy ưu thế của y học cổ truyền, sử dụng nguồn tài nguyên y dược tự nhiên đặc sắc của Việt Nam và kết hợp thành tựu y học hiện đại thế giới.

     (iv) Lĩnh vực tham quan du lịch về ban đêm.

     - Lựa chọn, hoàn thiện, nâng cấp và đa dạng các tour tham quan du lịch về đêm (kéo dài đến 24 giờ) trên địa bàn.

- Nâng cấp và đa dạng tour tham quan bằng đường thủy nội địa, tham quan thưởng ngoạn thành phố về đêm; kết nối tổ chức dịch vụ tham quan vào ban đêm từ Tuần Châu tới Bảo tàng Quảng Ninh, các điểm văn hóa lịch sử, các khu điểm du lịch lớn trên địa bàn thành phố Hạ Long.

- Thí điểm mô hình tour du lịch theo giờ đối với tàu đêm ven bờ vịnh Hạ Long kết hợp với ẩm thực, ca nhạc… theo các tuyến: Tuần Châu - Cầu Bãi Cháy và ngược lại.

- Nghiên cứu chương trình tham quan vịnh Hạ Long kết hợp ẩm thực, âm nhạc, giải trí về ban đêm trên vịnh Hạ Long.

- Triển khai tích cực hoạt động của đội tàu nghỉ đêm trên vịnh Hạ Long; thí điểm trải nghiệm lưu trú trên mô hình du thuyền trên cạn - Boatstay (nghỉ dưỡng tàu biển) tại Cô Tô.

- Hình thành từ 3-5 tour du lịch đặc sắc kết hợp dịch vụ ẩm thực, văn hóa phục vụ khách du lịch quốc tế với thời gian lưu trú trung bình từ 3-5 ngày; tour du lịch trên biển kết nối các vịnh Hạ Long - Bái Tử Long - Vân Đồn; tour câu mực đêm; cắm trại đêm tại đảo Thanh Lân và các đảo gần bờ của Cô Tô; ngắm toàn cảnh Cô Tô về đêm bằng kinh khí cầu; trải nghiệm ngắm bình minh tại bãi đá Móng Rồng - Cô Tô, chương trình đi bộ, đạp xe về đêm trên cung đường Tình Yêu - Cô Tô.

(v) Lĩnh vực ẩm thực, dịch vụ ăn uống về ban đêm

- Nghiên cứu xây dựng các khu phố ẩm thực, hình thành chợ hải sản, chợ du lịch, bar, pub ven biển; bảo đảm mỹ quan, hiệu quả và theo quy định, phù hợp với quy hoạch.

- Liên kết hợp tác với các đơn vị sản xuất để đưa các sản phẩm OCOP; các sản phẩm ẩm thực vùng, miền của tỉnh và cả nước trong các khu ẩm thực.

- Tổ chức chương trình trình diễn ẩm thực và hình thành các không gian ẩm thực đặc trưng của tỉnh Quảng Ninh nhằm tạo dấu ấn riêng biệt, đặc sắc.

- Triển khai định kỳ các lễ hội, liên hoan, hội thi ẩm thực kết hợp trải nghiệm, tìm hiểu văn hóa ẩm thực đặc trưng của các vùng, miền, cộng đồng.

  Về cơ chế, chính sách

- Cho phép thí điểm kéo dài thời gian tổ chức các hoạt động dịch vụ ban đêm đến 06 giờ sáng hôm sau tại một số điểm, khu du lịch hấp dẫn và có điều kiện thuận lợi để quản lý rủi ro hoạt động dịch vụ ban đêm ở các địa bàn có đông lượng khách du lịch. Trên cơ sở đó, đánh giá hiệu quả hoạt động và công tác quản lý hoạt động kinh tế đêm ở những nơi đã lựa chọn để xây dựng, hoàn thiện mô hình hoạt động và sau đó sẽ nhân rộng.

- Nghiên cứu, đề xuất ưu tiên đầu tư xây dựng một số khu vực tổ hợp giải trí ban đêm riêng biệt.

- Xây dựng và thực thi các chính sách khuyến khích, ưu đãi các doanh nghiệp, hộ kinh doanh tham gia hoạt động kinh tế ban đêm thông qua nâng cao năng lực, tạo điều kiện cho các cơ sở kinh doanh tiếp cận nguồn tài chính chính thức, đặc biệt là vốn tín dụng ngân hàng.

- Nghiên cứu hỗ trợ các phương tiện vận tải công cộng trên một số tuyến giao thông quan trọng để tăng tuyến, tăng thời gian phục vụ trong đêm nhằm tăng cường kết nối các trung tâm đô thị về đêm, nhất là vào dịp cuối tuần.

- Thiết lập các đường dây nóng cho du khách thông tin kịp thời về các vấn đề an ninh trật tự, vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường,...

- Đẩy mạnh xúc tiến du lịch, quảng bá các hoạt động kinh tế ban đêm. Xây dựng sản phẩm du lịch đêm dựa trên yếu tố văn hóa bản địa, tạo điểm nhấn theo đặc trưng địa phương (lựa chọn các loại hình dịch vụ, các địa điểm mang tính biểu tượng để thu hút khách du lịch).

Nếu chúng ta quyết tâm thay đổi thì “bức tranh” kinh tế di sản nói chung và kinh tế đêm của Quảng Ninh nói riêng sẽ có sự đột phá và khởi sắc, góp phần tạo nên diện mạo mới cho một vùng đất, vùng biển, vùng đảo và những cánh rừng nguyên sinh, một vùng  du lịch sinh thái đầy tiềm năng, triển vọng. Câu hỏi này nằm về phía Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và mỗi người dân Quảng Ninh trong sự quyết tâm để tạo nên một cuộc đổi mới - bước ngoặt mà chúng ta cần tiến đến trong những năm cuối của thập niên này!

---------------

(1) Theo kết quả phỏng vấn chuyên gia và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch