Quản trị hiện đại để phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường - từ góc nhìn tỉnh Quảng Ninh
TCCS - Trong cuộc cách mạng tinh - gọn - mạnh, tỉnh Quảng Ninh cùng cả nước quyết tâm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 60-NQ/TW(1). Các mục tiêu phát triển kinh tế biển cũng nằm trong chương trình tổng thể tái cơ cấu tổ chức bộ máy. Việc phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học được đặt trong yêu cầu chung về đổi mới tư duy, tinh gọn tổ chức. Đó là đổi mới tư duy quản lý biển, tái cấu trúc bộ máy thực thi chính sách phát triển kinh tế biển theo hướng tinh gọn, hiệu quả, liên ngành.
Quản lý biển là một lĩnh vực liên ngành, liên vùng, liên cấp với sự tham gia của nhiều bộ, ngành và chính quyền các tỉnh, thành phố ven biển. Sau khi thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, tổ chức bộ máy chính quyền địa phương được sắp xếp lại theo mô hình Trung ương, nhập Sở Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành Sở Nông nghiệp và Môi trường, bỏ cấp huyện… Những thay đổi này góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, phân tán trách nhiệm, thiếu điều phối thống nhất giữa các cơ quan, dẫn đến lúng túng trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và điều phối phát triển kinh tế biển. Bảo đảm nguyên tắc “một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính”. Đồng thời, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp trong các hoạt động như: quy hoạch không gian biển, kiểm soát ô nhiễm, thiết lập và quản lý khu bảo tồn biển, giám sát khai thác tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học.
Việc triển khai hiệu quả Chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn 2045 không thể tách rời khỏi bộ máy tổ chức tinh gọn, hiệu quả. Một hệ thống quản lý tinh gọn, hiện đại, được tổ chức lại theo hướng thống nhất quản lý nhà nước về biển, có thể điều phối hiệu quả các nguồn lực và bảo đảm sự đồng bộ trong thực thi chiến lược biển. Đồng thời, các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực biển (nghiên cứu khoa học, bảo tồn, quan trắc, dự báo biển...) cũng được cơ cấu lại theo hướng tinh giản, tự chủ và kết nối với các chương trình phát triển kinh tế biển. Việc đổi mới cơ chế hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kỹ thuật, nhà khoa học biển cũng có bước chuyển biến.
Xây tạo một nền tảng quản trị hiện đại
Có thể thấy, việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, về “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã tạo ra một nền tảng quản trị quốc gia hiện đại, có khả năng thích ứng với những thách thức mới từ biến đổi khí hậu, cạnh tranh kinh tế biển toàn cầu và nhu cầu phát triển bền vững.
Tỉnh Quảng Ninh đang trong quá trình tổ chức lại bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp (tỉnh và xã) nhằm tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với định hướng cải cách hành chính và nâng cao năng lực quản lý nhà nước. Sự đổi mới này có ý nghĩa quan trọng trong việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế biển bền vững theo chiến lược quốc gia.
Một là, tăng cường vai trò quản lý, điều phối phát triển đồng bộ các khu kinh tế, khu công nghiệp, đô thị sinh thái ven biển
Việc tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp giúp tập trung đầu mối quản lý, giảm chồng chéo giữa các cấp chính quyền, từ đó nâng cao năng lực xây dựng và triển khai các quy hoạch, kế hoạch phát triển khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp và đô thị sinh thái. Các đơn vị hành chính trong tỉnh có vai trò chủ động trong quản lý địa phương, phối hợp chặt chẽ với cấp tỉnh để phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội hiện đại theo mô hình tăng trưởng xanh và đô thị thông minh. Hệ thống này cũng giúp tỉnh nhanh chóng tiếp cận, triển khai các mô hình khu kinh tế sinh thái gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút đầu tư. Việc quản lý thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm tại cấp tỉnh cùng với sự linh hoạt, gần dân của xã, phường góp phần giải quyết tốt các vấn đề về môi trường, xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ven biển.
Hai là, quản lý không gian biển và phát triển vùng dựa trên lợi thế tự nhiên, gắn kết liên vùng
Với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Quảng Ninh có điều kiện thuận lợi trong việc quản lý, quy hoạch không gian biển và vùng ven biển một cách khoa học, phân chia rõ trách nhiệm giữa các địa phương ven biển. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa cấp tỉnh và cấp xã, phường giúp phát huy tối đa lợi thế điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và đa dạng sinh học biển của từng vùng, từng địa phương.
Việc xây dựng và thực hiện các quy hoạch vùng biển - ven biển được thực hiện đồng bộ, liên vùng, bảo đảm các vùng bảo vệ, vùng đệm và vùng phát triển kinh tế - xã hội được cân bằng hài hòa, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế biển quốc gia. Đây cũng là cơ sở để tỉnh Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển trọng điểm phía Bắc, kết nối hiệu quả với các trung tâm kinh tế, du lịch quốc tế trong vùng.
Ba là, tăng cường quản lý, bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và ứng phó biến đổi khí hậu
Bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp với hệ thống tổ chức rõ ràng, trách nhiệm cụ thể sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát, kiểm tra, cảnh báo và ứng phó với các sự cố môi trường biển và thiên tai. Cấp tỉnh chịu trách nhiệm xây dựng chính sách, quy định và đầu tư trang thiết bị hiện đại; cấp cơ sở triển khai các biện pháp quản lý thực tiễn tại địa phương, nhất là trong việc bảo vệ các hệ sinh thái ven biển như rừng ngập mặn, rạn san hô và thảm cỏ biển.
Việc tổ chức bộ máy theo mô hình mới cũng giúp nâng cao hiệu quả trong công tác phòng, chống biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xói lở bờ biển, ngập lụt và các thiên tai liên quan khi chính quyền xã, phường có thể nhanh chóng tổ chức lực lượng phản ứng, tăng cường phối hợp liên ngành, giữa các cấp chính quyền để giảm thiểu thiệt hại và đảm bảo an toàn cho người dân, tài sản và môi trường.
Bốn là, nâng cao đời sống người dân, xây dựng văn hóa biển gắn bó, thân thiện với biển
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp giúp tạo ra điều kiện tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, phát huy quyền làm chủ của người dân ven biển trong phát triển kinh tế biển bền vững và bảo vệ môi trường ngày càng trực tiếp hơn. Các cấp chính quyền phường, xã có vai trò gần dân, hiểu rõ đặc thù, nhu cầu của cộng đồng, qua đó tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức, phát triển các thiết chế văn hóa biển, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và thúc đẩy sự gắn bó, thân thiện với biển.
Việc tổ chức chính quyền gần dân cũng giúp bảo đảm quyền tiếp cận công bằng các nguồn lực, dịch vụ công, tạo điều kiện để người dân vùng biển và ven biển tham gia quản lý và hưởng lợi từ các chương trình phát triển kinh tế biển, góp phần xây dựng xã hội an toàn, văn minh.
Năm là, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế
Bộ máy chính quyền hai địa phương cấp giúp tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang, công an, biên phòng và chính quyền địa phương trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, an ninh trật tự vùng biển và ven biển. Cấp tỉnh giữ vai trò chỉ đạo, định hướng chính sách, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế biển.
Có thể thấy, thực hiện mô hình tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp mới của tỉnh Quảng Ninh bước đầu tạo ra nền tảng quản lý hiệu quả, linh hoạt và hiện đại, từ đó giúp triển khai đồng bộ và thành công các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững, gắn với bảo vệ môi trường, phát triển đa dạng sinh học và nâng cao đời sống nhân dân vùng ven biển. Đây là bước đi quan trọng để Quảng Ninh khẳng định vai trò trung tâm kinh tế biển và đô thị sinh thái ven biển hiện đại của khu vực Bắc Bộ.
Nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển đặc khu thân thiện
Tỉnh Quảng Ninh với hai đặc khu Vân Đồn và Cô Tô đang triển khai tổ chức bộ máy chính quyền 2 cấp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển bền vững theo chiến lược quốc gia. Chính quyền cơ sở ở hai đặc khu đóng vai trò then chốt trong việc cụ thể hóa các mục tiêu, kế hoạch của tỉnh và quốc gia vào thực tiễn địa phương.
Đặc khu Vân Đồn với mục tiêu phát triển thành trung tâm kinh tế biển quy mô lớn, khu kinh tế sinh thái
Vân Đồn nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là cửa ngõ giao thương quốc tế trên Vịnh Bắc Bộ, có hệ sinh thái biển đa dạng, cảnh quan tự nhiên còn nguyên sơ. Đặc biệt, nằm gần tuyến hàng hải quốc tế và có cảng nước sâu Cái Bầu, sân bay quốc tế Vân Đồn có khả năng kết nối thuận tiện với khu vực ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc và các thị trường trọng điểm. Đây là lợi thế quan trọng giúp Vân Đồn phát triển đô thị sinh thái biển hiện đại, gắn với dịch vụ cao cấp như nghỉ dưỡng, casino, logistics, và trung tâm tài chính quốc tế.
Vân Đồn được định hướng phát triển thành khu kinh tế biển đa ngành, đa lĩnh vực với các trung tâm du lịch, dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao và cảng biển hiện đại. Chính quyền cơ sở tại Vân Đồn có trách nhiệm quan trọng trong việc phối hợp triển khai quy hoạch đồng bộ, bảo vệ môi trường biển và phát triển đô thị sinh thái theo tiêu chí tăng trưởng xanh, đô thị thông minh.
Bộ máy chính quyền địa phương hai cấp giúp đẩy mạnh cải cách hành chính, giảm thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Chính quyền cơ sở cũng là lực lượng chủ chốt trong công tác quản lý đất đai, tài nguyên biển, giám sát các hoạt động khai thác, xây dựng và bảo tồn đa dạng sinh học vùng ven biển. Việc nâng cao năng lực quản lý của chính quyền địa phương giúp phát huy tối đa lợi thế tự nhiên của Vân Đồn, bảo đảm phát triển bền vững, bảo vệ hệ sinh thái biển đa dạng.
Việc thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW tại tỉnh Quảng Ninh nói chung và tại Vân Đồn nói riêng đã mang lại những thuận lợi về mặt tổ chức và quản lý. Bộ máy quản lý cấp huyện và cấp xã được sáp nhập, tinh giản, rút ngắn cấp trung gian, giảm thời gian xử lý thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư và người dân. Chính quyền địa phương chuyển từ “quản lý” sang “kiến tạo - phục vụ”, thúc đẩy mô hình chính quyền số, đô thị thông minh, giúp cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư. Vân Đồn hiện là một trong những địa phương đi đầu của tỉnh trong cải cách thủ tục hành chính, áp dụng mạnh mẽ công nghệ số trong quản lý đất đai, quy hoạch, cấp phép đầu tư - tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư chiến lược phát triển các dự án sinh thái, đô thị ven biển.
Vân Đồn được quy hoạch theo hướng “khu kinh tế biển đa ngành, đa lĩnh vực”, trong đó: Phát triển du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, đô thị sinh thái, trung tâm tài chính, gắn với bảo tồn và phát huy giá trị hệ sinh thái biển, rừng ngập mặn. Quy hoạch đô thị thông minh, thân thiện môi trường, ưu tiên không gian xanh, kiến trúc bền vững, hướng tới đô thị biển xanh - sạch - đẹp. Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển hạ tầng hiện đại (sân bay, đường cao tốc, cảng biển) với bảo vệ hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên. Đây là điểm khác biệt giúp Vân Đồn trở thành hình mẫu “phát triển bền vững gắn với bảo tồn”. Các lợi thế đặc khu giúp Vân Đồn huy động được các nguồn lực đầu tư lớn, đặc biệt từ khu vực tư nhân.
Sau khi tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, chính quyền Vân Đồn hoạt động minh bạch, hiệu quả hơn, tạo lòng tin cho doanh nghiệp. Cơ chế “một cửa tại chỗ” giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, đồng thời thúc đẩy các cơ chế chính sách đặc thù sớm được triển khai thí điểm. Nhiều nhà đầu tư lớn đã đổ vốn vào các lĩnh vực, như Sun Group: Đầu tư vào khu nghỉ dưỡng, sân bay quốc tế, đô thị sinh thái Hạ Long - Vân Đồn; Vingroup, CEO Group, FLC… cũng nghiên cứu phát triển các khu đô thị sinh thái, du lịch biển.
Sau khi thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Đặc khu Vân Đồn đã và đang phát huy hiệu quả mô hình bộ máy tinh gọn, hiện đại, năng động, tạo nền tảng vững chắc để phát triển thành một khu kinh tế sinh thái - đô thị biển hiện đại mang tầm quốc tế. Những thuận lợi về vị trí, cơ chế chính sách, hạ tầng đồng bộ và bộ máy quản lý hiệu quả sẽ giúp Vân Đồn tiếp tục là đầu tàu trong chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững của tỉnh Quảng Ninh và cả nước.
Đặc khu Cô Tô với mục tiêu phát triển du lịch biển và bảo vệ đa dạng sinh học, hướng tới đảo sinh thái thông minh và bền vững
Cô Tô là đặc khu kinh tế nhỏ, nổi bật với tiềm năng phát triển du lịch biển sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học biển. Với mô hình chính quyền hai cấp, chính quyền cơ sở tại Cô Tô được trang bị thêm năng lực tổ chức, điều phối các hoạt động kinh tế - xã hội, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển và phát triển kinh tế biển gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, từ đó nâng cao vai trò trung tâm trong việc xây dựng các mô hình du lịch thân thiện với môi trường, bảo vệ rạn san hô, phát triển nguồn lợi thủy sản bền vững.
Đặc khu Cô Tô là đảo tiền tiêu của tỉnh Quảng Ninh - đang từng bước khẳng định vai trò là một khu kinh tế biển sinh thái, đô thị biển hiện đại, gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Sau khi tỉnh Quảng Ninh thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW về sắp xếp tổ chức bộ máy “tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Cô Tô đã có thêm nhiều thuận lợi nổi bật để hiện thực hóa mục tiêu này. Thuận lợi từ vị trí chiến lược và tiềm năng tự nhiên độc đáo với hơn 50 đảo lớn nhỏ, khí hậu ôn hòa, thiên nhiên còn nguyên sơ và hệ sinh thái biển, rừng phong phú là điều kiện lý tưởng để phát triển kinh tế biển xanh, du lịch sinh thái cao cấp, đô thị biển thông minh, đồng thời giữ vai trò chốt chặn quốc phòng - an ninh trên biển.
Cô Tô nằm trong trục kết nối chiến lược với Vân Đồn - Móng Cái - Hải Phòng, thuận lợi để phát triển dịch vụ logistics, giao thương biển - đảo.
Sau khi sắp xếp lại tổ chức theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, Cô Tô đã sáp nhập các đơn vị hành chính, giảm đầu mối, tinh giản biên chế hợp lý, giúp bộ máy gọn hơn nhưng hiệu quả hơn. Qua đó, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, tập trung vào chuyên môn hóa, đáp ứng yêu cầu quản lý các mô hình đô thị sinh thái biển và kinh tế biển xanh. Xây dựng chính quyền số, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý hành chính công và cung cấp dịch vụ công cho người dân, nhà đầu tư, giúp thu hút đầu tư và nâng cao chất lượng sống cho cư dân đảo.
Những năm qua, hạ tầng kinh tế - xã hội được chú trọng đầu tư đồng bộ. Hệ thống điện lưới quốc gia và cáp ngầm vượt biển đã được đầu tư kết nối từ đất liền ra đảo, bảo đảm nguồn điện ổn định phục vụ phát triển kinh tế và du lịch. Nhiều bến cảng, cầu tàu khách du lịch được nâng cấp, giúp rút ngắn thời gian di chuyển từ đất liền ra đảo. Các công trình công cộng như trường học, bệnh viện, trung tâm hành chính, xử lý rác thải được đầu tư xây dựng theo hướng thân thiện môi trường. Đây là tiền đề để phát triển đô thị thông minh trên nền tảng sinh thái biển, hướng đến một Cô Tô không chỉ đẹp mà còn đáng sống và bền vững.
Trong thời gian tới, Cô Tô tiếp tục định hướng phát triển kinh tế biển theo hướng: Du lịch sinh thái biển, trải nghiệm, nghỉ dưỡng cao cấp - thay vì du lịch đại trà gây áp lực lên môi trường. Nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, thân thiện môi trường, sử dụng lồng bè hiện đại, kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ đa dạng sinh học biển. Ngư nghiệp kết hợp bảo tồn biển, hướng tới khai thác hợp lý, không đánh bắt tận diệt, có các vùng bảo vệ nghiêm ngặt. Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Cô Tô đến năm 2040, tầm nhìn 2050 cũng định hướng: Mật độ xây dựng thấp, kiến trúc thân thiện môi trường, sử dụng năng lượng tái tạo, ưu tiên không gian công cộng, cây xanh, ven biển mở.
Đặc biệt, Cô Tô là một trong những địa phương đầu tiên trong cả nước thực hiện “nói không với rác thải nhựa dùng một lần”, xác định là một “vùng không khói công nghiệp”, không phát triển nhà máy, xí nghiệp công nghiệp nặng - nhằm bảo vệ hệ sinh thái, giữ nguyên giá trị tự nhiên, hướng tới mục tiêu “đảo xanh - bền vững”.
Với lợi thế vị trí, tài nguyên tự nhiên, mô hình quản trị tinh gọn và định hướng phát triển đúng đắn, Cô Tô đang có đầy đủ điều kiện để trở thành khu kinh tế sinh thái - đô thị biển hiện đại đặc thù, vừa là trung tâm du lịch biển cao cấp, vừa là “pháo đài xanh” giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW đã tạo bước đột phá lớn trong đổi mới tổ chức bộ máy, từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội và quản lý tài nguyên môi trường tại huyện đảo này.
Tổng kết, việc tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp mới tại hai đặc khu kinh tế Vân Đồn và Cô Tô không chỉ góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều phối phát triển kinh tế biển mà còn bảo đảm thực hiện hiệu quả các mục tiêu bảo vệ môi trường, phát triển đa dạng sinh học và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân ven biển. Đây chính là bước đệm quan trọng để Quảng Ninh thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững đến năm 2030 và tầm nhìn 2045./.
---------------
(1) Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, về “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12-4-2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã
Xây dựng chính quyền số, kinh tế số - nền tảng để tỉnh Quảng Ninh phát triển thông minh trong bối cảnh mới  (29/11/2025)
Những thuận lợi và thách thức để tỉnh Quảng Ninh trở thành một trong những trung tâm kinh tế biển mạnh của cả nước  (29/11/2025)
Phát triển bền vững các đảo ven bờ của tỉnh Quảng Ninh - Nền tảng chiến lược cho kinh tế biển xanh trong kỷ nguyên số  (25/11/2025)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm