Tỉnh Quảng Ninh thúc đẩy mô hình tăng trưởng đa trục, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số

Nguyễn Huy Vinh
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
01:04, ngày 03-12-2025

TCCS - Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số bền vững trong giai đoạn tới, Quảng Ninh cần khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế để phát triển kết hợp kinh tế biển và kinh tế miền núi, tạo ra mô hình tăng trưởng đa trục, liên hoàn và mang tính bổ trợ lẫn nhau.

Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII, “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" đánh giá: Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, nhận thức của toàn hệ thống chính trị, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài về vị trí, vai trò của biển, đảo đối với phát triển kinh tế,... Kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành động lực phát triển đất nước; hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư; đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển được cải thiện. Những kết quả này có sự đóng góp của tỉnh Quảng Ninh, một địa phương có vị trí địa kinh tế chiến lược, có bờ biển dài hơn 250km, trên 2.000 hòn đảo lớn nhỏ, có một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới, có di sản thiên nhiên thế giới (cùng với Hải Phòng), có Khu Di tích và danh thắng Yên Tử (cùng với Hải Dương (nay là tỉnh Hưng Yên), Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh) tạo nên những đặc quyền kinh tế riêng biệt, đồng thời cũng đặt ra thách thức trong bảo vệ di sản. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số bền vững trong giai đoạn tới, tỉnh Quảng Ninh cần khai thác hiệu quả lợi thế “hai trong một” của mình - đó là tiềm năng phát triển kết hợp kinh tế biển và kinh tế miền núi, tạo ra mô hình tăng trưởng đa trục, liên hoàn và mang tính bổ trợ lẫn nhau. Đây cũng là cơ sở, nền tảng quan trọng để tỉnh phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tới.

Việc đồng thời đẩy mạnh các ngành kinh tế biển, như du lịch biển đảo cao cấp, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, dịch vụ cảng biển - logistics, kinh tế miền núi như du lịch sinh thái - văn hóa, nông - lâm nghiệp hữu cơ, năng lượng tái tạo, giúp đa dạng hóa động lực tăng trưởng, giảm phụ thuộc vào một ngành hay một khu vực địa lý, giúp tỉnh Quảng Ninh có thể ứng phó linh hoạt hơn trước các biến động kinh tế, khí hậu và thị trường quốc tế, từ đó, khai thác tối đa hiệu quả kinh tế từ biển.

Ngoài ra, nhờ hạ tầng kết nối vùng núi - vùng biển ngày càng hoàn thiện và chính sách điều phối không gian phát triển đồng bộ, tỉnh có thể hình thành các cụm liên kết ngành theo chuỗi giá trị, giúp nâng cao năng suất lao động, mở rộng quy mô sản xuất - dịch vụ, thu hút dòng vốn đầu tư lớn, nhất là FDI và các doanh nghiệp chiến lược.

Quan trọng hơn, mô hình phát triển biển - núi song hành còn cho phép tỉnh Quảng Ninh gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và an sinh xã hội, phù hợp với định hướng phát triển xanh, bền vững của tỉnh. Đây là tiền đề để tỉnh Quảng Ninh duy trì mức tăng trưởng GRDP hai con số một cách ổn định, chất lượng và lâu dài, không chỉ dựa vào tài nguyên sẵn có, mà dựa vào đổi mới mô hình phát triển và khai thác tối ưu các lợi thế tổng hợp mà thiên nhiên và văn hóa vùng miền mang lại.

Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, khu vực di sản liên tỉnh “Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà” được UNESCO công nhận vào tháng 9-2023 cho thấy sự liên kết địa lý chặt chẽ giữa hai khu vực này. 

Dãy Yên Tử thuộc cánh cung Đông Triều, một trong bốn cánh cung núi chính của vùng Đông Bắc Bộ. Dãy núi có địa hình thấp dần từ đông sang tây, nơi cao nhất là đỉnh Yên Tử (1.068m) còn nơi thấp nhất là khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc (200 - 238m). Sườn núi phía nam (còn gọi là sườn Đông Yên Tử) chủ yếu thuộc tỉnh Quảng Ninh và một phần nhỏ thuộc tỉnh Hải Dương (cũ - nay là tỉnh Hưng Yên), còn sườn núi phía bắc (còn gọi là sườn Tây Yên Tử) thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang (cũ - nay là tỉnh Bắc Ninh).

Sự liên kết địa lý này tạo ra những thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho các địa phương liên quan trong quá trình phối hợp bảo vệ di sản, di tích. Với vai trò chính (do căn bản di sản, di tích nằm trên địa phận tỉnh Quảng Ninh), nên tỉnh Quảng Ninh trở thành địa phương quan trọng, mang tính trung tâm trong quá trình này.

1. Vịnh Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh) và quần đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng) là di sản có giá trị sinh thái đặc biệt cả về đa dạng sinh học, cảnh quan, và du lịch. Năm 2023, UNESCO đã công nhận “Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà” là di sản thiên nhiên thế giới. Do vậy, việc bảo vệ môi trường sinh thái khu vực này muốn hiệu quả tích cực cần sự phối hợp chặt chẽ giữa hai tỉnh. Trong thời gian tới, hai địa phương cần quan tâm, chú ý một số vấn đề trong phối hợp để quản lý hiệu quả.

Trước hết, hai địa phương cần xây dựng một quy hoạch liên vùng tổng thể, thống nhất về định hướng phát triển du lịch, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm sinh kế cho cộng đồng. Việc phối hợp cần được thể chế hóa thông qua cơ chế liên kết chính quyền địa phương trong việc cấp phép, kiểm soát tàu du lịch, bảo vệ môi trường biển và quản lý tài nguyên chung.

Hai là, cùng phối hợp kiểm soát rác thải du lịch, tàu thuyền, nước thải ven biển thông qua thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, hạn chế du lịch đại trà gây quá tải và ô nhiễm, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn chung về môi trường và chất lượng dịch vụ. Thống nhất các quy chuẩn về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, trong đó tập trung vào việc kiểm soát ô nhiễm ánh sáng, tiếng ồn và chất thải, những yếu tố đang ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái tự nhiên và trải nghiệm của du khách.

Ba là, hai địa phương cần phối hợp xây dựng và áp dụng một bộ tiêu chuẩn chung về vận hành tàu du lịch, nhà hàng nổi, cơ sở lưu trú và các dịch vụ giải trí. Cụ thể, cần quy định rõ giới hạn cường độ ánh sáng ban đêm từ tàu, bến cảng, cơ sở lưu trú ven biển để giảm thiểu tác động tới các loài sinh vật biển, đặc biệt là chim biển và rùa biển. Quy định về tiếng ồn từ tàu thuyền, hoạt động ca nhạc, giải trí ngoài trời, tránh làm xáo trộn đời sống sinh học dưới nước cũng như ảnh hưởng đến sự thanh bình, nguyên sơ vốn là đặc trưng thu hút của vùng di sản này. Quy định thống nhất về chất thải, xử lý nước thải và rác thải sinh hoạt trên tàu và tại các điểm tham quan, tiến tới yêu cầu tất cả tàu du lịch phải trang bị hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn, không xả thải trực tiếp ra vịnh. Cùng áp dụng các chế tài mạnh đối với các hành vi vi phạm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát liên ngành. Việc thống nhất và thực thi nghiêm túc những quy chuẩn này không chỉ góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên mà còn tạo dựng hình ảnh một điểm đến du lịch văn minh, hấp dẫn, đủ tiêu chuẩn quốc tế về du lịch bền vững.

Bốn là, hai địa phương cần phối hợp kiểm soát chặt chẽ hoạt động giao thông thủy, quy hoạch bến cảng và tuyến tham quan hợp lý để tránh chồng chéo, lộn xộn. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho du khách và cộng đồng, xây dựng hệ thống giám sát môi trường chung, chia sẻ dữ liệu và thông tin giữa hai địa phương là rất cần thiết. Danh hiệu Di sản thiên nhiên thế giới vừa được UNESCO công nhận là cơ hội để tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng hợp tác thu hút nguồn lực quốc tế, nâng cao vị thế du lịch và hướng đến phát triển bền vững lâu dài. Sự phối hợp hiệu quả giữa hai địa phương sẽ là yếu tố then chốt để gìn giữ giá trị cảnh quan, sinh thái và văn hóa của vùng vịnh - đảo độc đáo này cho các thế hệ mai sau.

Năm là, tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng cần thiết lập một quy chế quản lý liên vùng cụ thể, rõ ràng và có tính ràng buộc pháp lý, nhằm tránh tình trạng chồng lấn hoặc bỏ sót trách nhiệm giữa hai địa phương. Trước hết, cần phân định ranh giới quản lý không gian biển, đảo, luồng tuyến giao thông thủy và các điểm du lịch theo địa giới hành chính, đồng thời xác định trách nhiệm cụ thể của từng địa phương trong từng khu vực chức năng: bảo tồn, phát triển du lịch, quản lý hạ tầng, xử lý môi trường…

Sáu là, thành lập ban điều phối liên tỉnh cấp vùng, gồm đại diện của cả hai tỉnh, các sở, ngành liên quan (Du lịch, Giao thông, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng...), có chức năng điều hành, giám sát và xử lý các vấn đề phát sinh trong hoạt động du lịch vùng giáp ranh. Ban này cần được trao quyền phối hợp kiểm tra, thanh tra liên ngành, xử phạt vi phạm và điều phối các hoạt động đầu tư, bảo tồn, truyền thông trong toàn vùng di sản.

Bảy là, xây dựng cơ sở dữ liệu sử dụng chung với cơ chế chia sẻ dữ liệu, thông tin và cảnh báo sớm về môi trường, giao thông, an ninh, an toàn du lịch, cùng các công cụ phối hợp ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra sự cố tràn dầu, tai nạn tàu thuyền, cháy rừng, hoặc thiên tai bất thường. Quan trọng hơn, quy chế này cần được xây dựng trên cơ sở tham vấn chuyên gia, cộng đồng và doanh nghiệp, bảo đảm tính khả thi và đồng thuận cao, hướng đến mục tiêu chung là bảo vệ giá trị di sản thiên nhiên thế giới, đồng thời khai thác du lịch một cách hợp lý, hài hòa và bền vững cho cả hai địa phương.

2. Khu danh thắng Yên Tử trải dài trên hai tỉnh Quảng Ninh và tỉnh Bắc Giang. Phần phía Tây Yên Tử (thuộc Bắc Giang) và phần Đông Yên Tử (thuộc Quảng Ninh) cùng tạo thành một quần thể văn hóa - tâm linh - sinh thái đặc biệt. Đây là vùng núi có hệ sinh thái rừng nhiệt đới, nhiều loài quý hiếm, đồng thời là nơi lưu giữ di sản Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử có giá trị lớn về lịch sử và du lịch. Vì vậy, công tác bảo vệ môi trường sinh thái Yên Tử cần phối hợp đồng bộ của hai tỉnh Quảng Ninh và Bắc Giang trong cả quy hoạch, giám sát, phát triển du lịch sinh thái…

Một là, phối hợp quy hoạch không gian sinh thái - tâm linh theo hướng không phá vỡ cảnh quan rừng; hạn chế phát triển ồ ạt các khu du lịch thương mại làm tổn hại hệ sinh thái và văn hóa gốc: Đối với Khu danh thắng Yên Tử - di tích lịch sử, văn hóa và tâm linh đặc biệt quan trọng trải dài trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh và Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh)- việc phối hợp quản lý và phát triển giữa hai địa phương cần được đặt trong tầm nhìn dài hạn, dựa trên nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá trị sinh thái - tâm linh đặc thù của khu vực. Cụ thể, hai tỉnh cần phối hợp chặt chẽ trong việc quy hoạch tổng thể không gian Yên Tử như một chỉnh thể thống nhất, bảo đảm giữ gìn cảnh quan rừng núi, vốn là phần hồn không thể tách rời của di sản. Quy hoạch phát triển hạ tầng du lịch cần tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc không xâm lấn rừng tự nhiên, không phá vỡ cấu trúc cảnh quan - địa hình đặc trưng, đặc biệt là tại những khu vực có giá trị sinh thái và tín ngưỡng cao.

Hai là, hai địa phương cần thống nhất trong việc hạn chế và kiểm soát sự phát triển ồ ạt của các khu du lịch thương mại, lưu trú cao tầng hoặc dịch vụ giải trí thiếu chọn lọc, tránh biến Yên Tử thành một điểm đến tiêu dùng, làm phai nhạt giá trị văn hóa. Thay vào đó, nên ưu tiên các mô hình phát triển du lịch sinh thái, thiền định, du lịch chậm (slow tourism) phù hợp với trải nghiệm văn hóa Phật giáo Trúc Lâm, giúp du khách thực sự kết nối với thiên nhiên và chiều sâu tâm linh của Yên Tử. Việc phát triển cần dựa trên nghiên cứu đánh giá sức chứa du lịch, khả năng phục hồi của hệ sinh thái và khả năng tiếp nhận của cộng đồng địa phương.

Ba là, cần thiết lập quy chế phối hợp quản lý liên tỉnh, xác định rõ trách nhiệm bảo tồn, đầu tư, quảng bá, kiểm tra giám sát giữa Quảng Ninh và Bắc Giang; đồng thời thống nhất tiêu chuẩn về thiết kế công trình, vật liệu sử dụng, cảnh quan và lối kiến trúc đặc trưng để tránh tình trạng phát triển chắp vá, lệch chuẩn. Chỉ khi coi Yên Tử “là một”, không bị chia cắt bởi ranh giới hành chính, thì việc quản lý và phát triển mới thực sự hướng tới sự bền vững, hài hòa giữa con người, thiên nhiên và chiều sâu lịch sử - tâm linh mà di sản này đang mang trong mình.

Bốn là, bảo vệ môi trường, cần thiết lập và thực thi quy định chung về vệ sinh môi trường trong toàn khu di tích, bao gồm việc bố trí hệ thống thu gom, phân loại rác thải thông minh tại các điểm tập trung đông người như bến xe, chùa, am, đường lên núi và khu nghỉ dưỡng. Cần có lực lượng giám sát, tuyên truyền và xử phạt vi phạm xả rác nơi công cộng để nâng cao ý thức của du khách và hộ kinh doanh. Thống nhất lộ trình giảm và tiến tới loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần (như túi nylon, chai nhựa, hộp xốp...) trong toàn bộ khu vực Yên Tử. Các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, lưu trú, bán hàng lưu niệm cần được yêu cầu chuyển sang sử dụng các loại bao bì thân thiện với môi trường, như giấy, tre, nứa...

Năm là, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, giáo dục môi trường theo hướng linh hoạt và phù hợp với không gian tâm linh: sử dụng bảng hiệu có nội dung ý nghĩa ngắn gọn, gần gũi với triết lý nhà Phật như “Giữ sạch rừng thiêng - Tâm an tịnh”, “Không rác thải - Không nghiệp xấu”, tổ chức các chiến dịch “Yên Tử không rác nhựa”, “Một bước chân - Một hành động xanh” với sự tham gia của tăng ni, phật tử, cộng đồng địa phương và doanh nghiệp du lịch…

Sáu là, việc phối hợp quản lý cần được lồng ghép chặt chẽ vào các chính sách quản lý liên tỉnh, với cơ chế kiểm tra, giám sát, báo cáo định kỳ, bảo đảm các nỗ lực bảo vệ cảnh quan, chống ô nhiễm không chỉ mang tính hình thức mà thực sự tạo ra sự thay đổi lâu dài trong nhận thức và hành vi của toàn bộ hệ sinh thái du lịch tại khu danh thắng thiêng liêng.

3. Để gia tăng giá trị kinh tế thông qua khai thác du lịch tại hai vùng di sản đặc biệt là Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà và Khu di tích danh thắng Yên Tử, với vai trò chính, Quảng Ninh cần chủ động đề xuất, chủ động xây dựng và kiến nghị một số cơ chế phù hợp nhằm vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa gìn giữ bền vững giá trị tự nhiên - văn hóa của di sản,

Một là, có cơ chế quản lý liên kết vùng, liên tỉnh

Thành lập Ban điều phối liên tỉnh giữa Quảng Ninh - Hải Phòng với Vịnh Hạ Long - Cát Bà; giữa Quảng Ninh - Bắc Giang với Yên Tử, mô hình tổ chức có thể chung hoặc riêng. Tuy nhiên, cơ quan này phải bảo đảm các chức năng, nhiệm vụ: Điều phối đầu tư, quy hoạch, khai thác du lịch chung; Thống nhất tiêu chuẩn dịch vụ, bảo vệ môi trường và thu phí; Chia sẻ lợi ích kinh tế giữa các địa phương một cách công bằng, dựa trên tỷ lệ đóng góp và ảnh hưởng.

Hai là, có cơ chế thu phí và tái đầu tư bền vững

Xây dựng chính sách thu phí tham quan, dịch vụ và bảo tồn thống nhất, có phần trích lại cho hoạt động: Bảo tồn di sản, hệ sinh thái; hỗ trợ cộng đồng địa phương (đào tạo, khởi nghiệp du lịch xanh); tăng cường sử dụng vé điện tử, thẻ thông minh tích hợp để minh bạch doanh thu và quản lý sức chứa du lịch…

Ba là, khuyến khích đầu tư có chọn lọc, có điều kiện

Ưu tiên các nhà đầu tư có năng lực phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - tâm linh và du lịch cao cấp; áp dụng cơ chế “đổi đất lấy bảo tồn”, cho phép doanh nghiệp khai thác dịch vụ ở khu vực phụ cận nếu cam kết và thực hiện đúng trách nhiệm gìn giữ vùng lõi di sản; không cấp phép cho các dự án có nguy cơ phá vỡ cảnh quan, hoặc gây quá tải hạ tầng, môi trường…

Bốn là, phát triển sản phẩm du lịch đặc thù, gia tăng giá trị chuỗi

Phát triển sản phẩm đặc trưng cho từng vùng: Vịnh Hạ Long - Cát Bà tập trung vào du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, khám phá sinh thái biển, đảo, thể thao mạo hiểm, học thuật về đa dạng sinh học. Du lịch Yên Tử cần tập trung vào: Du lịch thiền - chữa lành, hành hương tâm linh, trải nghiệm văn hóa Trúc Lâm, nghệ thuật Phật giáo. Liên kết sản phẩm theo chuỗi giá trị du lịch xanh: lữ hành - vận chuyển - lưu trú - ẩm thực - trải nghiệm cộng đồng - sản phẩm địa phương. Hỗ trợ cộng đồng địa phương tham gia sâu vào chuỗi giá trị: làm homestay, hướng dẫn viên, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ xe điện, đồ chay - đồ dưỡng sinh...

Năm là, tăng cường xúc tiến, xây dựng thương hiệu vùng di sản

Xây dựng bộ nhận diện thương hiệu chung cho các vùng di sản liên tỉnh (ví dụ: “Hạ Long – Cát Bà: Huyền thoại của đá và nước”; “Yên Tử: Cõi thiền giữa non thiêng Đông Bắc”). Phối hợp tổ chức sự kiện du lịch cấp quốc gia và quốc tế thường niên (festival, giải chạy trail, lễ hội thiền, tuần lễ văn hóa xanh…). Đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quảng bá, đặt dịch vụ, hướng dẫn trải nghiệm bằng công nghệ thực tế ảo (VR/AR), bản đồ số thông minh…

Sáu là, kiến nghị Chính phủ xem xét cơ chế tài chính đặc thù cho vùng di sản

Ưu đãi tín dụng xanh cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng thân thiện môi trường; hỗ trợ ngân sách trung ương cho hoạt động bảo tồn liên tỉnh; cho phép áp dụng thí điểm mô hình “Quỹ bảo tồn phát triển du lịch vùng di sản” từ nguồn thu dịch vụ; xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng cho quản lý vùng di sản liên tỉnh, tránh chồng lấn quyền hạn và tăng tính chủ động cho các ban điều phối.

Việc khai thác giá trị kinh tế từ du lịch tại Vịnh Hạ Long - Cát Bà và Yên Tử không thể chỉ dừng lại ở việc đón đông du khách, mà phải hướng tới mô hình kinh tế du lịch dựa trên chất lượng, bản sắc và tính bền vững. Những cơ chế liên kết vùng, quản lý thống nhất, đầu tư có chọn lọc và sự hỗ trợ từ trung ương sẽ là nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu vừa phát triển kinh tế, vừa bảo tồn lâu dài các vùng di sản quý giá của quốc gia./.