Hệ thống chính sách thích ứng già hóa dân số: Yếu tố duy trì động lực phát triển bền vững ở Việt Nam

NGÔ QUỲNH AN - ĐINH THÁI HÀ - DOÃN THỊ MAI HƯƠNG
Đại học Kinh tế quốc dân - Bộ Y tế - Trường Đại học Lao động và Xã hội
22:51, ngày 14-07-2026

TCCS - Việt Nam là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh, với tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ mức 11,9% năm 2019 lên hơn 25% năm 2050. Dự báo đến năm 2036, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già. Già hóa dân số tạo nên những thách thức lớn nhưng cũng mang lại cơ hội, nhất là những cơ hội gắn với nhóm dân số cao tuổi khỏe mạnh, giàu có, là nguồn lực đầu tư và động lực tiêu thụ mới trong xã hội. Ngoài ra, một xã hội khi đạt chuẩn thân thiện với người cao tuổi cũng trở nên thân thiện và đáng sống với tất cả mọi người, điều này khiến quốc gia phát triển thịnh vượng và bền vững hơn. Để tận dụng cơ hội, hiện đang là thời điểm “vàng” để triển khai các giải pháp thích ứng với già hóa dân số.

Người cao tuổi giải trí bằng hoạt động thủ công mỹ nghệ tại một trung tâm dưỡng lão ở Hà Nội_Nguồn: phunuonline.com.vn

Động lực phát triển bền vững trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam

Già hóa dân số là hiện tượng tỷ trọng người cao tuổi trong tổng dân số có xu hướng liên tục tăng so với với các nhóm dân số trẻ theo thời gian. Đây là xu thế không thể đảo ngược của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học, khi mức sinh giảm liên tục và tuổi thọ tăng cao. Ngoài ra, già hóa dân số tăng nhanh còn do sự chuyển dịch thế hệ thời kỳ bùng nổ dân số những năm 1960 - 1970, bây giờ trở thành thế hệ người cao tuổi lớn nhất. Tỷ lệ người già trong dân số ngày càng tăng tạo nên những thách thức lớn, như tình trạng nghèo đói có xu hướng tăng theo độ tuổi, nguy cơ già hóa gắn với thiếu an toàn về thu nhập, về việc làm và về sức khỏe thể chất, tinh thần của người cao tuổi. Đồng thời, già hóa dân số cũng mang lại cơ hội, với nhóm dân số cao tuổi có trình độ, kỹ năng tốt, khỏe mạnh và giàu có sẽ trở thành nguồn lực lao động cũng như động lực tiêu thụ mới trong xã hội với nhiều nhu cầu cần được đáp ứng. Đây chính là những động lực cho phát triển bền vững trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam. Để tận dụng được động lực này, cần chuẩn bị hệ thống chính sách đồng bộ và nguồn lực phù hợp nhằm thích ứng với quá trình già hóa dân số.

Thích ứng với già hóa dân số là quá trình điều chỉnh để làm chậm lại tiến trình già hóa, giúp phát huy lợi thế của thời kỳ cơ cấu dân số vàng và giảm thiểu tác động của già hóa dân số. Khuôn khổ đồng bộ 3 nhóm chính sách thích ứng già hóa được thiết kế như sau:

Nhóm chính sách thích ứng thứ nhất 

Các chính sách giúp ổn định mức sinh ở mức thay thế, ngăn chặn xu hướng giảm thấp mức sinh, góp phần giảm tốc độ già hóa dân số trong tương lai. Các can thiệp hạn chế giảm sinh phải được tiến hành khi tổng tỷ suất sinh (TFR) chưa giảm xuống quá thấp. Kinh nghiệm cho thấy mức sinh còn có thể duy trì khi đang ở ngưỡng an toàn từ 1,5 con đến 1,8 con/1 phụ nữ.

Chính sách điều tiết di dân góp phần điều hòa lao động giữa các vùng. Lao động nhập cư sẽ là cần thiết để bù đắp cho dân số đang già, đồng thời làm tăng nhóm dân số trong độ tuổi sinh sản, khiến mức sinh có thể gia tăng, góp phần hạn chế tốc độ già hóa. Thế hệ trẻ di dân ngày càng nhiều làm gia tăng tình trạng người già neo đơn không sống cùng con cháu. Vì vậy, giảm bớt các động lực di dân lao động quá mức thông qua phát triển đồng đều các trung tâm công nghiệp, tăng cường sử dụng lao động tại địa phương là cần thiết.

Nâng cao chất lượng dân số góp phần nâng cao tuổi thọ khỏe mạnh của dân số cũng là một chiến lược dài hạn, từng bước giảm nhẹ áp lực của già hóa dân số liên quan tới chi phí khám, chữa bệnh, đặc biệt là trong nhưng năm tuổi già.

Nhóm chính sách thích ứng thứ hai

Các chính sách nhằm tận dụng thời kỳ cơ cấu dân số vàng, can thiệp để giảm thiểu các nguy cơ mất an ninh việc làm, mất an ninh thu nhập, rủi ro về sức khỏe thể chất và tinh thần, tạo mọi cơ hội cho các thế hệ người cao tuổi phát triển khỏe mạnh, giàu có và hạnh phúc, khuyến khích người dân chuẩn bị cho tuổi già từ khi còn trẻ. Việc tận dụng thành công lợi thế cơ cấu dân số vàng sẽ là điều kiện tiên quyết để hình thành lợi tức dân số gắn với già hóa thông qua nâng cao năng suất lao động và thu nhập, tăng tiết kiệm và đầu tư theo vòng đời. Do mức sinh giảm, người dân có cơ hội làm việc và tích lũy thu nhập và vì vậy trở nên giàu có hơn. Đồng thời, khi mọi người nhận ra rằng họ có thể sống lâu hơn, họ sẽ có thêm động lực tích lũy của cải để hỗ trợ mình lúc tuổi già, tiết kiệm và đầu tư gia tăng. Người dân cũng có xu hướng đầu tư vào vốn nhân lực khi giàu có hơn, ít con hơn, kỳ vọng sẽ làm việc lâu dài hơn. Cha mẹ cũng đầu tư nhiều nguồn lực hơn cho thế hệ trẻ, cũng như sẽ đầu tư nhiều hơn vào y tế và giáo dục của gia đình. Vì vậy, nhóm này có thể bao gồm các chính sách về giáo dục đào tạo, chính sách chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân, chính sách lao động, việc làm, chính sách hưu trí bền vững và chính sách bảo hiểm chăm sóc sức khỏe dài hạn.

Nhóm chính sách thích ứng thứ ba

Tập trung vào mục tiêu cải tiến các sản phẩm, các dịch vụ kinh tế, xã hội, môi trường, làm cho chúng trở nên thân thiện hơn với người cao tuổi, tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục cống hiến cho xã hội, hỗ trợ họ có thể duy trì cuộc sống độc lập, an toàn ngay cả trong hoàn cảnh có sự suy giảm về thể chất, tinh thần. Nhóm này bao gồm các chính sách ổn định việc làm, thu nhập, bảo vệ an toàn và chăm sóc sức khỏe thể chất, tinh thần cho người cao tuổi, phát triển kết cấu hạ tầng nơi sinh sống thân thiện với người cao tuổi.   

Hệ thống ba nhóm chính sách trên đây có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau và cần được tiến hành đồng thời, không nên tách biệt.

Khám và tư vấn sức khỏe cho người cao tuổi_Nguồn: dantri.com.vn

Thích ứng già hóa dân số ở Việt Nam

Nhóm chính sách giảm nhẹ tốc độ già hóa dân số

Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2010, tốc độ và nguyên nhân già hóa dân số không đồng đều và khác nhau giữa các vùng. Các vùng có chỉ số già hóa thấp, như Tây Nguyên, trung du và miền núi phía Bắc là những vùng có tỷ lệ chết cao, tuổi thọ thấp, trong khi đó vùng Đông Nam Bộ là do tỷ suất di cư thuần dương cao. Các vùng có chỉ số già hóa cao là đồng bằng sông Cửu Long, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung chủ yếu do tỷ suất di cư thuần âm cao, mức sinh giảm thấp. Đồng bằng sông Hồng có chỉ số già hóa cao do có mức sinh khá thấp và có số người nhập cư ở tuổi nghỉ hưu cao hơn nhiều so với số nhập cư ở độ tuổi trẻ. Vì vậy, để giảm tốc độ già hóa dân số, các giải pháp bao gồm:

Một là, các giải pháp giúp ổn định mức sinh ở mức thay thế, ngăn chặn xu hướng giảm mức sinh xuống thấp để góp phần kéo dài thời gian có cơ cấu dân số vàng và giảm nhẹ tốc độ già hóa dân số trong tương lai đã được Chính phủ ban hành và chỉ đạo thực hiện trong Chiến lược dân số Việt Nam đến năm 2030 (Quyết định số 1679/QĐ-TTg, ngày 22-11-2019), Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030 (Quyết định số 588/QĐ-TTg, ngày 28-4-2020). Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” cũng đề ra nhiệm vụ, nghiên cứu, xây dựng khung chính sách tổng thể về dân số, bảo đảm tỷ suất sinh thay thế phù hợp với vùng, miền, đối tượng dân cư và số lượng, chất lượng dân số; sửa đổi, bổ sung Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030, bảo đảm vững chắc mức sinh thay thế của quốc gia.

Hai là, các chính sách giữ chân thanh niên lập nghiệp tại quê hương, làm giảm tình trạng thiếu lao động và “bẫy người già và trẻ em” do di dân lao động trẻ ra khỏi vùng quá lớn như ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn gần đây. Các chính sách này có thể bao gồm chương trình hỗ trợ chuyển dịch việc làm đối với người lao động ở khu vực nông thôn, chính sách tín dụng ưu đãi tạo việc làm. Các chính sách khuyến học, dạy nghề, các mô hình hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp - lập nghiệp, cùng với đó, tận dụng các chính sách đang có của Nhà nước để gắn kết các đơn vị hỗ trợ thanh niên; giải quyết việc làm, thu nhập nhằm giữ chân lao động tại địa phương.

Nhóm chính sách tận dụng cơ cấu dân số vàng và giảm thiểu nguy cơ già hóa rủi ro

Nhóm này trước hết tập trung vào các chính sách toàn dụng lao động và tăng năng suất lao động, tận dụng lợi thế nguồn nhân lực để tăng trưởng và phát triển kinh tế. Theo đó, các luật được ban hành, gồm Bộ luật Lao động 2019, Luật Giáo dục 2019, Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi 2024, Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, Chiến lược Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, Chương trình Sức khỏe Việt Nam, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2014, Luật Việc làm 2013 và các đề án, chương trình được triển khai nhằm mục đích:

Một là, tăng tuổi lao động nhằm tăng cung lao động và cho phép người dân linh hoạt hơn trong việc lựa chọn thời điểm nghỉ hưu. Tuy nhiên, những quy định này sẽ không phát huy tác dụng nếu lực lượng lao động cao tuổi không có đủ sức khỏe và năng lực để tiếp tục tham gia làm việc hoặc về phía cầu không tạo đủ công việc phù hợp với tình trạng sức khỏe và kỹ năng của họ.

Hai là, tăng cường chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân, nâng cao tỷ lệ những người có khả năng lao động. Để chuẩn bị nguồn tài chính bền vững khi về già, cần có cơ chế bảo đảm với “chính sách bảo hiểm chăm sóc dài hạn”. Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, mọi người dân cần đóng góp vào quỹ bảo hiểm chăm sóc dài hạn từ năm 40 tuổi và quỹ sẽ được sử dụng để chi trả các dịch vụ chăm sóc tại nhà, hỗ trợ sinh hoạt, chăm sóc ban ngày cho người lớn tuổi và các lựa chọn khác. Chương trình này cần được triển khai trước khi tỷ trọng người từ 65 tuổi trở lên đạt mức 14 - 18%. Cho tới khi đạt tỷ lệ già hóa 13%, chăm sóc người cao tuổi vẫn còn có thể dựa gần như hoàn toàn vào sự hỗ trợ của gia đình, nhưng sau đó sẽ trở thành gánh nặng cản trở sự phát triển năng suất lao động của các hộ gia đình. Theo dự báo, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già từ năm 2036, khi đó, tỷ trọng nhóm dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm 14,2% tổng dân số. Như vậy, nếu duy trì mức sinh thay thế thành công, Việt Nam sẽ chỉ còn khoảng 11 năm (2025 - 2036) để chuẩn bị cho quá trình này.

Ba là, tập trung nguồn lực đầu tư giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo cơ hội việc làm cho người lao động, đặc biệt là cho thanh niên như các chương trình, đề án đã được phê duyệt trong Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu kéo dài cuộc đời lao động, căn cứ theo Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 - 2030, Chính phủ cũng phê duyệt Chương trình “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong công nhân lao động tại các doanh nghiệp đến năm 2030”. Chương trình đã đề xuất các giải pháp nhằm mục tiêu thúc đẩy lao động tại doanh nghiệp hình thành thói quen tự học, tích cực học tập suốt đời; hỗ trợ, tạo điều kiện để lao động tại các doanh nghiệp học tập nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc, tiếp cận hệ thống giáo dục mở.

Bốn là, thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế - lao động theo hướng hiện đại, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người lao động, nhất là trong khu vực nông nghiệp và nông thôn để nâng cao năng suất lao động, từ đó từng bước cải thiện thu nhập cho người dân.

Năm là, phát triển “kinh tế bạc” để lấp đầy khoảng cách mà các ngành hiện chưa phù hợp với xu thế già hóa dân số. Vẫn còn khoảng cách lớn giữa cung và cầu trong các lĩnh vực dịch vụ chăm sóc, giải trí, quản lý tài chính và đào tạo cho người cao tuổi, mặc dù nhu cầu cấp thiết của người cao tuổi đang hiện hữu.

Nhóm chính sách hướng tới bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi

Các chính sách này nhằm tạo cơ hội cho các thế hệ người cao tuổi có cuộc sống tự chủ, an toàn, lành mạnh, hạnh phúc, và có ích. Tính đến ngày 1-4-2021, số người trên 65 tuổi Việt Nam là 8,16 triệu người, có khả năng tăng lên 16,8 triệu người vào năm 2039 và đạt 25,2 triệu người vào năm 2069. Dự báo cũng cho thấy, trong giai đoạn 2035 - 2040, Việt Nam bước vào thời kỳ cơ cấu dân số già, đây là thời điểm cần hoàn thiện và triển khai đồng bộ hệ thống chính sách thích ứng với già hóa dân số, đặc biệt là nhóm chính sách hướng tới người cao tuổi. Kế hoạch hành động để già hóa thành công cần huy động sự tham gia của các cơ quan nhà nước, các tổ chức phúc lợi tự nguyện và phi lợi nhuận, trường đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và công đoàn hướng tới mục tiêu xây dựng môi trường cộng đồng và nơi làm việc để người Việt Nam già đi một cách tự tin, khỏe mạnh và hạnh phúc hơn.

Các chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi được quy định trong Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12. Tháng 10 được chọn là tháng hành động vì người cao tuổi theo Quyết định số 544/QĐ-TTg, ngày 25-4-2015. Tiếp theo có nhiều văn bản chính sách khác ra đời, như Quyết định số 2156/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt "Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2021 - 2030"; Quyết định số 1579/QĐ-TTg, ngày 13-10-2020, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt "Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030”... Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW cũng đề ra nhiệm vụ, giải pháp xây dựng và hoàn thiện khung chính sách quốc gia thích ứng với quá trình già hóa dân số.

Tổng thể các chương trình, chính sách hướng tới người cao tuổi cần được tiến hành đồng bộ và có thể chia làm các nhóm bảo vệ - chăm sóc và nhóm phát huy.

Về bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi

Một là, hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến bảo vệ, chăm sóc sức khỏe thể chất, tinh thần cho người cao tuổi, bảo đảm nguồn lực thực hiện các chương trình liên quan, như: 1- Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật; hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. 2- Xây dựng hệ thống chỉ báo thống kê, giám sát; thông tin, cơ sở dữ liệu điện tử quản lý công tác chăm sóc người cao tuổi, kiểm soát giảm thiểu tình trạng người cao tuổi bị đối xử tàn tệ bằng nhiều hình thức như lời nói, lạm dụng về thể xác hoặc tinh thần (bắt nạt, đe dọa, không được quan tâm đến sức khỏe). 3- Bảo đảm đủ và đa dạng hóa nguồn lực đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và từng bước tăng mức đầu tư. Huy động sự tham gia của cộng đồng dân cư, cá nhân, tổ chức.        

Hai là, củng cố, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng, chống bệnh không lây nhiễm; khám, chữa bệnh cho người cao tuổi, gồm: 1- Xây dựng cơ chế tài chính bền vững chăm sóc sức khỏe dài hạn cho người cao tuổi tại gia đình và cộng đồng. Xây dựng, phát triển mạng lưới cộng tác viên/tình nguyện viên cộng đồng tham gia các hoạt động, như theo dõi, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, quản lý các bệnh mãn tính, bệnh không lây nhiễm tại gia đình cho người cao tuổi. 2- Nâng cao năng lực cho các bệnh viện thực hiện khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng và hỗ trợ kỹ thuật chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cho tuyến cơ sở. 3- Đưa nội dung lão khoa vào chương trình đào tạo cho sinh viên đại học và sau đại học trong hệ thống các trường y trên cả nước. Đẩy mạnh đào tạo ngành điều dưỡng chăm sóc dài hạn.

Ba là, xây dựng, triển khai các mô hình chăm sóc, gồm: 1- Trung tâm chăm sóc sức khỏe ban ngày; Trung tâm dưỡng lão theo hình thức phù hợp, tiến tới xã hội hóa thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. 2- Xây dựng cộng đồng gắn kết hòa hợp giữa các thế hệ: Việt Nam phải là một cộng đồng gắn kết, nơi người cao tuổi có thể già đi một cách tích cực và vui vẻ. Bảo đảm rằng những người cao tuổi không cảm thấy cô đơn hoặc bị cô lập về mặt xã hội. Áp dụng phương pháp chăm sóc theo nhóm (mô hình câu lạc bộ liên thế hệ) giúp người già giảm cô đơn và tăng cường mối quan hệ xã hội, giúp họ cảm thấy được quan tâm và giúp tăng cường tinh thần lạc quan. 3- Xây dựng thành phố/nông thôn thân thiện với người cao tuổi thông qua tận dụng cơ sở có sẵn để tạo cho người cao tuổi nhiều cơ hội tiếp cận mạng lưới dịch vụ vận chuyển giá thấp, dịch vụ chăm sóc y tế miễn phí, truyền thống kính trọng người cao tuổi và gắn kết gia đình. Thành phố/nông thôn khi đạt chuẩn thân thiện với người cao tuổi cũng thân thiện với mọi người, có cơ hội trở nên thịnh vượng hơn.

Về phát huy vai trò người cao tuổi

Phát huy vai trò người cao tuổi được quy định tại Điều 23 Luật Người cao tuổi năm 2009, tuy nhiên các văn bản chính sách và các hoạt động cụ thể nhằm triển khai mục tiêu này còn khá ít. Nội dung các hoạt động có thể gồm:

Một là, thúc đẩy thái độ và hành vi tích cực, không phân biệt đối xử của cộng đồng xã hội đối với người cao tuổi và nhu cầu đóng góp của họ, tạo môi trường thuận lợi cho sự đóng góp này.

Hai là, thúc đẩy khả năng tiếp cận các cơ hội học tập suốt đời, phát triển nghề nghiệp, phát triển cá nhân để người cao tuổi tiếp tục tham gia hoạt động xã hội: Người cao tuổi cần được đào tạo về cách xử lý thông tin thành tri thức của mình, có đủ các kỹ năng ứng dụng kiến thức đã học để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, góp phần đóng góp ý kiến, truyền đạt kinh nghiệm, kỹ năng trong phát triển kinh tế xã hội tại địa phương. Theo Quyết định số 1373/QĐ-TTg, ngày 30-7-2021, của Thủ tướng Chính phủ, về Phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 - 2030”, tuy không đề cập rõ ràng tới nhóm lao động cao tuổi, nhưng hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội học tập, bảo đảm đến năm 2030 mọi người dân đều có cơ hội, bình đẳng trong việc tiếp cận hệ thống giáo dục mở, đa dạng, linh hoạt, liên thông, hiện đại với nhiều mô hình, phương thức và trình độ đào tạo... Thiết thực hơn, các khóa học miễn phí cho những lao động cao tuổi về cách vận hành các thiết bị thông minh, đặt hàng trên mạng, mua vé xem phim, vé xe bus, quay phim và chỉnh sửa video… cần được tổ chức tại nhiều khu vực. Hoặc đào tạo chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi một cách toàn diện, bao gồm hỗ trợ sức khỏe, hỗ trợ trong ăn uống, vệ sinh và thư giãn để các thế hệ người cao tuổi có thể chăm sóc, hỗ trợ lẫn nhau.

Ba là, tạo điều kiện cho người cao tuổi có cơ hội tiếp tục làm việc, phát triển, bảo đảm thu nhập khi họ tận hưởng thêm nhiều năm sống khỏe mạnh. Ưu đãi về vốn sản xuất hoặc kinh doanh, hỗ trợ mô hình và kỹ thuật, sinh kế tăng thu nhập phù hợp với người cao tuổi. Thành lập những đội tình nguyện viên phát triển kinh tế và các nhóm tăng thu nhập để hỗ trợ thành viên chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm. Hỗ trợ để người cao tuổi nhận được lợi ích tối đa và giảm thiểu tác hại từ sự thay đổi công nghệ, trí tuệ nhân tạo, internet trong mọi lĩnh vực của xã hội. Chính sách ổn định việc làm cho người cao tuổi, bao gồm: Thành lập các trung tâm tìm việc, cung cấp tư vấn, đào tạo miễn phí thường kỳ cho người lao động cao tuổi, đặc biệt khi gặp các vấn đề trong công việc với bên tuyển dụng. Vấn đề thường gặp nhất là làm việc nhiều giờ liên tục hoặc điều kiện làm việc khắc nghiệt, có thể dẫn đến tâm lý tuyệt vọng và đe dọa sức khỏe của những người lao động cao tuổi. Hiện chưa có chính sách cụ thể trong bảo vệ quyền lợi của người lao động cao tuổi. Có thể chia công việc theo mức độ từ đơn giản đến phức tạp để mở rộng cơ hội việc làm cho người cao tuổi. Có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp nhằm thay đổi cách thức sử dụng lao động cao tuổi phù hợp từ khâu tuyển dụng, bố trí, sắp xếp công việc, đào tạo và đãi ngộ xứng đáng./.