Ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số trong bảo tồn giá trị văn hóa và xây dựng bản sắc con người Quảng Ninh hiện đại

TS Hồ Thành Tâm - GS, TS Nguyễn Văn Kim
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội - Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản Văn hóa quốc gia, Thành viên Ủy ban Di sản thế giới
09:51, ngày 25-07-2026

TCCS - Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu phát triển đất nước, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số không chỉ là động lực tăng trưởng mà đang trở thành phương thức tái cấu trúc không gian văn hóa và định hình con người thời đại mới. Với vị thế là địa phương tiên phong trong đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tỉnh Quảng Ninh đứng trước cơ hội chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực nội sinh cho phát triển, đồng thời kiến tạo hình mẫu con người hiện đại, hài hòa giữa truyền thống, hiện đại và hội nhập.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật,… không chỉ là công cụ mà đã trở thành nền tảng định hình phương thức tồn tại và phát triển của con người trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, văn hóa trở thành một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng sâu sắc. 

Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đã khẳng định rõ vai trò của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là yêu cầu về phát triển lực lượng sản xuất mà còn là yêu cầu về tái cấu trúc toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa.  

Học sinh sử dụng ứng dụng số hóa trong việc tra cứu, xem thông tin về Bảo tàng Quảng Ninh_Ảnh: baoquangninh.vn

Tỉnh Quảng Ninh với vị thế là một trong những địa phương đi đầu cả nước về đổi mới tư duy và hành động đã chủ động tiếp cận, triển khai chuyển đổi số một cách toàn diện. Tỉnh xác định chuyển đổi số là công cụ quan trọng trong bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa và xây dựng bản sắc con người hiện đại. Đây là hướng đi mang tính chiến lược, thể hiện tầm nhìn phát triển dài hạn của địa phương.

Về cơ sở lý luận và thực tiễn

Thứ nhất, văn hóa - nền tảng tinh thần và nguồn lực nội sinh.   

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và số hóa ngày càng sâu rộng, các nền văn hóa không còn tồn tại biệt lập mà liên tục tương tác, giao thoa và lan tỏa. Những hiện tượng văn hóa đương đại cho thấy tốc độ phổ biến nhanh chóng của các giá trị văn hóa trong môi trường số, đồng thời cũng đặt ra thách thức lớn đối với việc bảo tồn bản sắc văn hóa. Bản sắc không chỉ là dấu hiệu nhận diện mà còn là nền tảng để mỗi cộng đồng định vị mình trong thế giới toàn cầu hóa, tránh nguy cơ bị hòa tan và đánh mất chính mình. Trong bối cảnh đó, bản sắc văn hóa trở thành yếu tố có ý nghĩa sống còn của mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam, quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của phát triển đã được khẳng định nhất quán. Văn hóa không chỉ “soi đường” cho sự phát triển mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, có khả năng tạo ra sức mạnh mềm và giá trị bền vững.

Tỉnh Quảng Ninh là địa phương hội tụ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, từ di sản thiên nhiên, di tích lịch sử đến các giá trị văn hóa dân gian phong phú. Đây là nền tảng quan trọng để địa phương phát triển văn hóa như một nguồn lực nội sinh, đồng thời là cơ sở để ứng dụng khoa học - công nghệ trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.

Thứ hai, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số - động lực phát triển mới.

Trong kỷ nguyên số, khoa học - công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đóng vai trò quyết định trong phát triển. Các công nghệ mới không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất mà còn tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa và xã hội. Đối với lĩnh vực văn hóa, chuyển đổi số mở ra khả năng lưu giữ, tái hiện và lan tỏa các giá trị văn hóa trên quy mô rộng lớn. Các công nghệ như 3D, VR/AR cho phép tái hiện không gian văn hóa một cách sinh động, vượt qua giới hạn của thời gian và không gian.

Tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ vào quản lý và phát triển. Việc xây dựng chính quyền số, đô thị thông minh cùng với các dự án số hóa di sản, phát triển du lịch thông minh,… đã tạo nền tảng vững chắc để tích hợp văn hóa vào hệ sinh thái số.

Thứ ba, lấy người dân làm trung tâm.

Một nguyên tắc quan trọng trong phát triển hiện nay là lấy con người làm trung tâm. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong lĩnh vực văn hóa, nơi con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng.

Trong quá trình chuyển đổi số, công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi phục vụ đời sống của người dân, giúp họ tiếp cận và thụ hưởng tốt hơn các giá trị văn hóa. Đồng thời, người dân cũng cần được trang bị kỹ năng số để tham gia tích cực vào quá trình sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa.

Ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số trong bảo tồn văn hóa

Một là, số hóa di sản và xây dựng dữ liệu văn hóa.

Trong kỷ nguyên số, số hóa đã trở thành công cụ quan trọng và hiệu quả hàng đầu trong bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa. Đối với tỉnh Quảng Ninh, việc số hóa các loại hình di sản, từ di sản vật thể đến phi vật thể không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là giải pháp mang tính chiến lược. Các công nghệ như quét 3D, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) cho phép tái hiện một cách sinh động các di tích, hiện vật, nghi lễ và lễ hội truyền thống, qua đó góp phần lưu giữ lâu dài các giá trị văn hóa, hạn chế nguy cơ mai một do tác động của thời gian, thiên tai và con người.

Không dừng lại ở chức năng bảo tồn, số hóa còn mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận của công chúng. Thông qua các nền tảng số, du khách ở bất kỳ khu vực nào trên thế giới cũng có thể khám phá vịnh Hạ Long, trải nghiệm không gian văn hóa Yên Tử hay chiêm ngưỡng các hiện vật tại Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả quảng bá hình ảnh mà còn mở ra các mô hình khai thác giá trị mới, đặc biệt là các dịch vụ văn hóa trực tuyến. Đáng chú ý, việc xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa số theo hướng mở, có khả năng kết nối và liên thông với hệ thống dữ liệu quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp và cộng đồng khai thác, phát triển các sản phẩm mới trên nền tảng di sản. Qua đó, văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn được “kích hoạt” như một nguồn lực nội sinh gắn với kinh tế di sản và kinh tế sáng tạo.

Thực tiễn quốc tế cho thấy, việc ứng dụng khoa học - công nghệ trong số hóa di sản đã mang lại những hiệu quả rõ nét. Thành phố Kyoto (Nhật Bản) là một điển hình tiêu biểu. Là trung tâm di sản với hệ thống chùa cổ, vườn cảnh và lễ hội truyền thống đặc sắc, Kyoto đã triển khai các chương trình trải nghiệm thực tế ảo (VR Kyoto) cho phép du khách toàn cầu tham quan các địa danh nổi tiếng như chùa Kinkaku-ji hay đền Fushimi Inari thông qua các nền tảng số. Theo các nghiên cứu của Cơ quan Du lịch Nhật Bản, những trải nghiệm trực tuyến này không làm thay thế mà ngược lại còn kích thích nhu cầu du lịch thực tế, góp phần gia tăng lượng khách quốc tế. Năm 2024, Kyoto đón 10,88 triệu lượt khách quốc tế, tổng số khách đạt 56,06 triệu lượt, mức cao kỷ lục(1). Đây là minh chứng rõ ràng cho khả năng kết hợp hiệu quả giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế trên nền tảng công nghệ số, đồng thời gợi mở nhiều kinh nghiệm có giá trị đối với tỉnh Quảng Ninh trong quá trình chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa.

Hai là, du lịch thông minh gắn với di sản.

Tỉnh Quảng Ninh từ lâu được xác định là “thủ phủ du lịch” của Việt Nam, với vịnh Hạ Long ba lần được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Theo Báo cáo tổng kết ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, năm 2025 đánh dấu cột mốc tăng trưởng kỷ lục với tổng lượng khách đạt 21,28 triệu lượt, tăng 12% so với năm 2024. Trong cơ cấu khách du lịch, thị trường quốc tế ghi nhận sự phục hồi và bứt phá mạnh mẽ khi chạm mốc 4,5 triệu lượt, tương ứng mức tăng trưởng 18,4%; trong khi đó, lượng khách nội địa chiếm tỷ trọng lớn với 16,78 triệu lượt. Đặc biệt, hiệu quả kinh tế từ du lịch đạt mức tăng trưởng ấn tượng khi tổng doanh thu toàn ngành ước đạt 57.000 tỷ đồng, tăng tới 22% so với năm trước(2). Kết quả này cho thấy sự chuyển dịch đúng đắn của tỉnh trong việc thu hút dòng khách chi tiêu cao và kéo dài thời gian lưu trú. Những con số này không chỉ phản ánh sức hút của điểm đến mà còn cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của du lịch trong cơ cấu kinh tế của địa phương. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng và bảo đảm phát triển bền vững, tỉnh Quảng Ninh đang chủ động chuyển đổi mô hình, lấy du lịch thông minh làm hướng đi chiến lược trên nền tảng công nghệ số, đồng thời chú trọng phát triển văn hóa số gắn với giữ gìn bản sắc dân tộc, xây dựng chuẩn mực ứng xử trên không gian mạng và hạn chế các tác động tiêu cực của công nghệ đối với xã hội.

Những năm gần đây, tỉnh đã từng bước triển khai đồng bộ nhiều giải pháp công nghệ như ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) và các nền tảng di động trong quản lý và vận hành du lịch. Hệ thống phần mềm hỗ trợ du khách tra cứu thông tin, đặt dịch vụ, định vị tuyến điểm và phản hồi chất lượng được đưa vào sử dụng rộng rãi; trung tâm giám sát lượng khách theo thời gian thực giúp kiểm soát tải lượng tại các điểm nhạy cảm như Vịnh Hạ Long; đồng thời, các giải pháp phân luồng và gợi ý hành trình thay thế được triển khai nhằm giảm áp lực lên môi trường sinh thái. Cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển dịch từ quản lý truyền thống sang quản trị thông minh, dựa trên dữ liệu và công nghệ.

Ở góc độ văn hóa, việc phát triển du lịch thông minh không chỉ nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế mà còn góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa khai thác và bảo tồn. Công nghệ trở thành công cụ hỗ trợ quan trọng để vừa nâng cao trải nghiệm du khách, vừa bảo vệ giá trị di sản một cách bền vững. Đáng chú ý, các ứng dụng thực tế ảo và thực tế tăng cường (VR/AR) đang được thí điểm nhằm xây dựng các “tour du lịch số”, cho phép du khách trải nghiệm không gian văn hóa, lễ hội và cảnh quan từ xa. Đây là xu hướng phát triển tất yếu trên thế giới, đồng thời cũng là lĩnh vực mà tỉnh Quảng Ninh có nhiều điều kiện thuận lợi.

Ba là, đô thị thông minh và không gian văn hóa số.

Tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, phát triển theo mô hình đô thị thông minh, bền vững. Thực tế cho thấy, hạ tầng cho mục tiêu này đang từng bước được hình thành, với 13/13 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới, tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 67%, cao hơn đáng kể so với mức bình quân chung của cả nước.

Quá trình xây dựng đô thị thông minh ở tỉnh Quảng Ninh không chỉ dừng lại ở các lĩnh vực, như giao thông, y tế, giáo dục mà đã mở rộng sang lĩnh vực văn hóa, hình thành các không gian văn hóa số ngày càng rõ nét. Các quảng trường, bảo tàng, trung tâm nghệ thuật đã từng bước ứng dụng công nghệ trình chiếu 3D, thực tế ảo và các nền tảng tương tác trực tuyến, qua đó đưa di sản đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Xây dựng bản sắc con người Quảng Ninh hiện đại

Thứ nhất, tầm nhìn phát triển con người Quảng Ninh.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc xây dựng bản sắc con người Quảng Ninh hiện đại cần được đặt trên nền tảng kết hợp hài hòa giữa ba trụ cột truyền thống - hiện đại - hội nhập. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của phát triển mà còn là định hướng chiến lược nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững, có bản sắc.

Về phương diện truyền thống, Quảng Ninh là vùng đất có bề dày lịch sử - văn hóa đặc biệt, nơi hội tụ và giao thoa của ba không gian đặc trưng biển, vùng mỏ và núi rừng. Sự gắn bó lâu dài với biển đã hình thành nên cộng đồng cư dân cần cù, kiên cường, giàu bản lĩnh; trong khi đó, truyền thống công nghiệp khai thác than đã hun đúc nên tinh thần “kỷ luật và đồng tâm”, tinh thần tiên phong, sáng tạo và ý chí vượt khó của người công nhân vùng mỏ. Không gian văn hóa Yên Tử - Đông Triều, cái nôi của Phật giáo Trúc Lâm lại bồi đắp chiều sâu tư tưởng với triết lý nhập thế và tinh thần “Tam hòa” (hòa giải, hòa hợp, hòa bình) của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Bên cạnh đó, hệ thống di sản phong phú, từ Vịnh Hạ Long, Bạch Đằng đến các lễ hội truyền thống, dân ca và tri thức dân gian của các cộng đồng dân tộc thiểu số, đã tạo nên một nền tảng văn hóa đa dạng, bền vững. Những giá trị đó không chỉ là “ký ức lịch sử” mà còn là “mã di truyền văn hóa”, là cội nguồn tinh thần để con người Quảng Ninh tự tin hội nhập và phát triển.

Về phương diện hiện đại, quá trình chuyển đổi số và đô thị hóa đang đặt ra yêu cầu hình thành một lớp công dân mới có năng lực thích ứng với môi trường công nghệ, tư duy sáng tạo và khả năng đổi mới liên tục. Việc tỉnh ban hành và triển khai Đề án chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy quá trình này. Thông qua việc phát triển hạ tầng số, cải cách hành chính điện tử và ứng dụng công nghệ trong quản trị, tỉnh Quảng Ninh đang từng bước hình thành một môi trường sống và làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, góp phần định hình những phẩm chất mới của con người trong kỷ nguyên số.

Về phương diện hội nhập, trong bối cảnh toàn cầu hóa, con người Quảng Ninh không chỉ là công dân của một địa phương mà còn cần trở thành công dân toàn cầu, có khả năng thích ứng với môi trường đa văn hóa, có năng lực ngoại ngữ, kỹ năng số và khả năng hợp tác quốc tế. Với vị trí địa kinh tế - chính trị đặc biệt, là cửa ngõ kết nối giữa Việt Nam với Trung Quốc, ASEAN và khu vực Đông Bắc Á, tỉnh Quảng Ninh có điều kiện thuận lợi để phát triển con người theo hướng mở, linh hoạt và hội nhập. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc kết hợp giữa phát triển công nghiệp văn hóa và chiến lược số, như trường hợp Hàn Quốc, không chỉ góp phần nâng cao vị thế quốc gia mà còn tạo ra một thế hệ trẻ có tư duy toàn cầu, năng động và sáng tạo. Đây là bài học quan trọng để tỉnh Quảng Ninh vừa thúc đẩy hội nhập, vừa giữ vững bản sắc văn hóa và các giá trị cốt lõi.

Thứ hai, công nghệ, đổi mới sáng tạo - môi trường phát triển con người toàn diện.

Ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số không chỉ nhằm bảo tồn di sản văn hóa mà sâu xa hơn, còn góp phần kiến tạo một môi trường mới cho giáo dục, lao động và sáng tạo, qua đó định hình những phẩm chất của con người Quảng Ninh trong kỷ nguyên số. Nói cách khác, công nghệ không còn là công cụ hỗ trợ đơn thuần mà đang trở thành “không gian phát triển” của con người hiện đại.

Trong lĩnh vực giáo dục, quá trình chuyển đổi số đã tạo ra những thay đổi căn bản về phương thức dạy và học. Đến năm học 2024 - 2025, tỉnh Quảng Ninh có hệ thống cơ sở giáo dục phát triển tương đối đồng bộ, với hơn 360.000 học sinh ở các cấp học; ngành giáo dục đã số hóa hơn 2.000 học liệu và gần 5.000 bài giảng điện tử phục vụ dạy học trực tuyến. Đồng thời, 100% cơ sở giáo dục đã triển khai phần mềm quản lý trực tuyến, thực hiện học bạ và hồ sơ điện tử. Những kết quả này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý, từng bước hình thành môi trường học tập số, nơi người học được tiếp cận tri thức một cách linh hoạt, chủ động và sáng tạo hơn.

Trong lĩnh vực lao động, công nghệ mở ra những không gian nghề nghiệp mới, đặc biệt trong các lĩnh vực như du lịch số, sáng tạo nội dung văn hóa, truyền thông số. Việc khuyến khích phát triển các startup công nghệ, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu trong quản lý du lịch đã giúp Quảng Ninh chuyển từ khai thác tài nguyên sang khai thác dữ liệu, biến thông tin về hành vi và nhu cầu của du khách thành nguồn lực quan trọng cho hoạch định chính sách và định hướng phát triển. Đây là bước chuyển có ý nghĩa không chỉ về kinh tế mà còn về phương thức phát triển.

Trong đời sống xã hội, các nền tảng số đang từng bước thay đổi cách thức người dân tiếp cận các dịch vụ công, từ y tế, giáo dục đến hành chính và du lịch. Việc triển khai các dịch vụ công trực tuyến, y tế điện tử và các ứng dụng phục vụ đời sống đã góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả quản lý, đồng thời tạo thuận lợi cho người dân trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ. Qua đó, một môi trường sống văn minh, hiện đại, dựa trên nền tảng số đang dần được hình thành ở địa phương. Chuyển đổi số không chỉ tác động đến từng lĩnh vực riêng lẻ mà đang tạo ra một hệ sinh thái phát triển mới, trong đó con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể thích ứng và sáng tạo. Chính trong môi trường đó, những phẩm chất của con người Quảng Ninh hiện đại - năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với công nghệ được hình thành và bồi đắp bền vững.

Thứ ba, xây dựng cộng đồng văn hóa số.

Xây dựng cộng đồng văn hóa số là một yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển con người Quảng Ninh hiện đại, đồng thời là một nội dung trọng yếu của chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Đây không chỉ là giải pháp nhằm bảo tồn và lan tỏa các giá trị di sản trong môi trường mới mà còn là quá trình hình thành những năng lực căn bản của con người trong kỷ nguyên số, từ kỹ năng số, khả năng tiếp cận và xử lý thông tin đến năng lực sáng tạo và tương tác trên không gian mạng.

Công nghệ thực tế ảo VR 360 độ tại đảo Cô Tô_Ảnh: vneconomy.vn

Tính đến tháng 1-2024, Việt Nam có 78,44 triệu người dùng Internet, tương đương 79,1% dân số, với thời gian sử dụng trung bình gần 7 giờ mỗi ngày(3), Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ của xã hội số. Điều này mở ra những cơ hội to lớn để lan tỏa các giá trị văn hóa, nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức đối với việc xây dựng một môi trường văn hóa số lành mạnh, nhân văn và giàu bản sắc.

Quá trình xây dựng cộng đồng văn hóa số đã được triển khai thông qua nhiều giải pháp cụ thể. Hệ thống thư viện, bảo tàng và các thiết chế văn hóa đã từng bước số hóa hàng nghìn đầu sách, hiện vật và học liệu, phục vụ hiệu quả cho nhu cầu học tập, nghiên cứu và tiếp cận tri thức của người dân. Bên cạnh đó, việc phát triển các nền tảng tương tác trực tuyến, như mô hình “Bảo tàng số Quảng Ninh” hay hệ thống thông tin du lịch thông minh, đã góp phần hình thành các không gian kết nối mở, tạo điều kiện để chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia vào quá trình sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa.

Tuy nhiên, yếu tố quyết định của một cộng đồng văn hóa số không nằm ở công nghệ, mà ở vai trò chủ thể của con người. Một cộng đồng văn hóa số bền vững chỉ có thể được hình thành khi người dân trở thành chủ thể sáng tạo, chia sẻ và định hình các giá trị văn hóa trong môi trường số. Điều này đòi hỏi phải đồng thời nâng cao năng lực số, ý thức văn hóa và trách nhiệm xã hội của mỗi cá nhân.

Như thế, xây dựng cộng đồng văn hóa số là một quá trình kiến tạo môi trường xã hội mới, trong đó các giá trị truyền thống được bảo tồn, các giá trị hiện đại được tiếp nhận có chọn lọc và bản sắc văn hóa địa phương được khẳng định trong không gian toàn cầu. Đây chính là nền tảng để tỉnh Quảng Ninh vừa hội nhập sâu rộng, vừa giữ vững “căn cước văn hóa” đặc thù trong kỷ nguyên số.

Giải pháp thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong bảo tồn di sản văn hóa, xây dựng bản sắc con người Quảng Ninh thời kỳ mới

Trước hết, đặt sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong tổng thể chiến lược phát triển của địa phương, coi văn hóa là một trong những trụ cột quan trọng của mô hình phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, tỉnh Quảng Ninh cần sớm xây dựng và ban hành “Chiến lược văn hóa số” với hệ mục tiêu rõ ràng, lộ trình cụ thể, nguồn lực bảo đảm và cơ chế giám sát hiệu quả. Chiến lược này không chỉ định hướng cho hoạt động bảo tồn mà còn tạo nền tảng để phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trong kỷ nguyên số.

Thứ hai, ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ cho lĩnh vực văn hóa - du lịch theo hướng đồng bộ, hiện đại và có khả năng liên thông. Trọng tâm là xây dựng hệ thống dữ liệu văn hóa số thống nhất, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ tiên tiến như thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), công nghệ số hóa 3D trong bảo tàng, di tích và các khu du lịch. Đây là điều kiện nền tảng để nâng cao hiệu quả bảo tồn, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận và khai thác giá trị di sản.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực số gắn với tri thức văn hóa là yếu tố then chốt. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trẻ không chỉ về kỹ năng công nghệ mà còn về hiểu biết văn hóa địa phương, qua đó hình thành lớp công dân số có bản sắc. Đồng thời, xây dựng cơ chế khuyến khích sự tham gia của đội ngũ nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ trong việc đồng sáng tạo các sản phẩm văn hóa số có giá trị cao, có khả năng thương mại hóa và góp phần hình thành tài sản văn hóa trong môi trường số.

Thứ tư, tăng cường hợp tác công - tư, huy động đa dạng các nguồn lực xã hội tham gia vào quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Doanh nghiệp công nghệ cần được tạo điều kiện tham gia sâu vào các dự án số hóa di sản, phát triển nền tảng du lịch thông minh và các sản phẩm văn hóa số. Sự kết hợp giữa khu vực công và khu vực tư không chỉ giúp nâng cao hiệu quả đầu tư mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo ra các mô hình phát triển mới cho kinh tế di sản.

Thứ năm, đẩy mạnh hoạt động quảng bá hình ảnh Quảng Ninh trong không gian số và trên trường quốc tế thông qua các sự kiện văn hóa - công nghệ quy mô quốc gia và quốc tế. Việc xây dựng và lan tỏa thương hiệu “Quảng Ninh: Miền di sản - Đô thị thông minh - Con người hiện đại” không chỉ góp phần nâng cao vị thế địa phương, mà còn tạo động lực thu hút đầu tư, phát triển du lịch và thúc đẩy hội nhập sâu rộng./.

----------------------------

(1) Số liệu được công bố chính thức bởi Chính quyền thành phố Kyoto (Kyoto City Government) tháng 6-2025
(2)Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh
(3) Xem: “Internet Việt Nam: Ba mươi năm phát triển thần tốc”, Bộ Khoa học và Công nghệ, https://mst.gov.vn/internet-viet-nam-ba-muoi-nam-phat-trien-than-toc-197241227122858638.htm