Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số - Nhìn từ thực tiễn tỉnh Khánh Hòa
TCCS - Di sản văn hóa là nguồn lực đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển, góp phần hình thành bản sắc dân tộc và nâng cao “sức mạnh mềm” văn hóa quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu trong quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch. Đối với tỉnh Khánh Hòa - địa phương có địa hình đa dạng với biển - đồng bằng - đồi núi - sa mạc; có đường bờ biển dài nhất cả nước, nhiều vịnh biển đẹp, đa dạng về văn hóa, việc ứng dụng chuyển đổi số trong khai thác các giá trị di sản văn hóa để phát triển du lịch sẽ góp phần bảo tồn các giá trị di sản, gia tăng giá trị kinh tế, đóng góp vào sự phát triển bền vững của địa phương.
Vai trò của di sản văn hóa trong phát triển du lịch
Trong Tuyên bố Mexico năm 1982 về Chính sách văn hóa, UNESCO đề xuất định nghĩa: “Di sản văn hóa của một dân tộc bao gồm các tác phẩm của các nghệ sĩ, kiến trúc sư, nhạc sĩ, nhà văn và nhà khoa học của dân tộc đó, cũng như các tác phẩm của các nghệ sĩ vô danh, các biểu hiện về tinh thần của dân tộc và toàn bộ các giá trị mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Nó bao gồm cả các tác phẩm hữu hình và vô hình mà qua đó sự sáng tạo của dân tộc đó được thể hiện: ngôn ngữ, nghi lễ, tín ngưỡng, địa điểm và di tích lịch sử, văn học, tác phẩm nghệ thuật, kho lưu trữ và thư viện”(1).
Tại Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003, UNESCO định nghĩa cụ thể về di sản văn hóa phi vật thể: “Di sản văn hóa phi vật thể có nghĩa là các hoạt động, hình ảnh, biểu đạt, kiến thức, kỹ năng cũng như các công cụ, đồ vật, hiện vật và không gian văn hóa liên quan mà các cộng đồng, nhóm và trong một số trường hợp, cá nhân công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Di sản văn hóa phi vật thể này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được các cộng đồng và nhóm tái tạo để đáp ứng với môi trường của họ, mang lại cho họ cảm giác về bản sắc và tính liên tục, do đó thúc đẩy sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của con người…”(2).
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, di sản văn hóa nổi lên như một nguồn lực quan trọng. Di sản văn hóa không chỉ nâng cao sức hấp dẫn của một điểm đến mà còn nuôi dưỡng niềm tự hào và bản sắc địa phương. Khi cạnh tranh toàn cầu giữa các điểm đến ngày càng gay gắt, khả năng cung cấp những trải nghiệm độc đáo, đáng nhớ đóng vai trò quan trọng. Trong bối cảnh này, “di sản văn hóa đã nổi lên như một động lực quan trọng thúc đẩy khả năng cạnh tranh du lịch, cho phép các điểm đến tạo sự khác biệt thông qua lịch sử, truyền thống, kiến trúc, nghệ thuật và lối sống của mỗi địa phương, khu vực”(3). Trong đó, du lịch di sản tập trung vào việc tham quan các địa điểm có ý nghĩa lịch sử và văn hóa cho thấy sự tăng trưởng ổn định, đem lại cho du khách những trải nghiệm chân thực và ý nghĩa về điểm đến, đóng góp vào sự phát triển du lịch bền vững(4). Khi được quản lý đúng cách, nó khuyến khích việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và đem lại giá trị kinh tế(5).
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, di sản văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh du lịch. Các điểm đến tích cực đầu tư vào bảo tồn di sản và tích hợp cộng đồng địa phương vào chuỗi giá trị du lịch sẽ đạt được sự hài lòng của du khách và lợi nhuận kinh tế cao hơn. Di sản văn hóa còn góp phần tạo sự khác biệt cho thương hiệu, giúp các điểm đến trở nên nổi bật, khác biệt trong thị trường du lịch toàn cầu cạnh tranh khốc liệt. Tuy nhiên, những rủi ro tiềm tàng, như tình trạng quá tải du lịch, thương mại hóa văn hóa, mai một bản sắc, chưa đáp ứng nhu cầu trải nghiệm của du khách.... cũng phát sinh. Do đó, cần có tiếp cận cân bằng, kết hợp bảo vệ di sản với các chính sách du lịch có trách nhiệm.
Bên cạnh đó, di sản văn hóa còn có đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế địa phương. Việc đầu tư vào bảo tồn di sản giúp cải thiện chất lượng địa điểm, nâng cao chất lượng và góp phần vào sự tăng trưởng của các lĩnh vực liên quan, như nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ, ẩm thực và dịch vụ khách sạn quy mô nhỏ. Hơn nữa, di sản văn hóa mang lại khả năng phục hồi kinh tế bằng cách đa dạng hóa các dịch vụ du lịch vượt ra ngoài các phương thức du lịch truyền thống.
Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Di sản văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển bền vững đất nước, là “sức mạnh mềm” trong đối ngoại, hội nhập quốc tế. Phát huy giá trị di sản văn hoá chính là khai thác sức mạnh nội sinh để phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng và bền vững”(6). Đối với lĩnh vực du lịch, di sản văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh trong nhiều bối cảnh khác nhau. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, các điểm đến có đa dạng di sản vật thể và phi vật thể luôn vượt trội hơn so các điểm đến khác về thu hút khách du lịch, chi tiêu, sự hài lòng và xây dựng thương hiệu điểm đến. Có thể khẳng định, di sản văn hóa không đơn thuần là một “tài sản thụ động”, “di tích của quá khứ” mà còn đóng vai trò động lực năng động góp phần định hình bản sắc, kinh tế và tính bền vững của các điểm đến du lịch. Khi được bảo tồn, khai thác và phát huy một cách hiệu quả trong các chiến lược phát triển du lịch, di sản văn hóa có thể trở thành nền tảng bảo đảm lợi thế cạnh tranh.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế số và tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đang đối mặt với nhiều thách thức. “Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống, các di tích di sản văn hoá chưa được coi trọng đúng mức. Đầu tư của Nhà nước trong lĩnh vực văn hoá còn thấp, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của văn hóa. Chủ trương xã hội hóa hoạt động bảo tồn di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng”(7). Bên cạnh đó là nguy cơ mai một giá trị truyền thống, “thương mại hóa” di sản, sự gia tăng và quá tải du lịch tại các điểm đến cũng như những hạn chế của phương thức quản lý truyền thống. Bối cảnh chuyển đổi số với các công nghệ mới như số hóa, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và thực tế ảo đang mở ra những cơ hội mới cho bảo tồn và phát huy giá trị di sản, đồng thời đặt ra yêu cầu nghiên cứu một cách hệ thống nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững.
Khai thác giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch thời kỳ chuyển đổi số
Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa và du lịch được hiểu là quá trình ứng dụng các công nghệ số mới nhằm thay đổi toàn diện cách thức quản lý, vận hành, bảo tồn và khai thác tài nguyên văn hóa - du lịch, hướng tới một hệ sinh thái số linh hoạt, hiệu quả và bền vững. Chuyển đổi số thể hiện ở việc ưu tiên sử dụng các công cụ công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất, hợp nhất các quy trình vận hành truyền thống sang môi trường số, phát triển sản phẩm và dịch vụ du lịch văn hóa tương tác cao. Đặc điểm nổi bật của chuyển đổi số là tính liên kết đa chiều giữa dữ liệu, công nghệ và con người; việc số hóa các giá trị văn hóa, như bảo tàng số, mô hình 3D di sản, hệ thống bản đồ số điểm đến…, tạo nền tảng cho việc khai thác và truyền tải thông tin linh hoạt, xuyên biên giới và đa ngôn ngữ. Các xu hướng công nghệ chủ đạo bao gồm số hóa dữ liệu di sản và điểm đến, sử dụng dữ liệu lớn (big data) để phân tích hành vi du khách và dự báo nhu cầu thị trường, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong gợi ý trải nghiệm cá nhân hóa và quản lý khách hàng, triển khai thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) để thúc đẩy trải nghiệm tương tác sâu, tăng hấp dẫn tại các di tích và không gian văn hóa. Các triển lãm 3D, tour số hóa VR/AR tại các di sản và công nghệ hướng dẫn tự động bằng AI đang được áp dụng tại nhiều bảo tàng, điểm du lịch hiện đại, giúp du khách tiếp cận sâu hơn với giá trị văn hóa trong môi trường số hóa trực quan và thúc đẩy phát triển du lịch thông minh, bền vững.
Chuyển đổi số còn đóng vai trò then chốt trong việc định hình mối quan hệ mới giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững. Trước hết, việc số hóa di sản bao gồm dữ liệu văn bản, ảnh, mô hình 3D và nội dung tương tác sẽ giúp lưu giữ tri thức, giảm thiểu rủi ro mất mát và tạo lập cơ sở dữ liệu tham chiếu phục vụ nghiên cứu, bảo tồn và giáo dục công chúng. Công nghệ số còn tạo điều kiện để phát triển các sản phẩm du lịch tương tác, đa chiều như VR/AR, giúp du khách trải nghiệm di sản trong môi trường ảo, từ đó nâng cao mức độ hấp dẫn và hàm lượng trải nghiệm văn hóa. Sự hỗ trợ của Big Data và AI trong phân tích hành vi khách du lịch giúp các cơ quan quản lý, doanh nghiệp hiểu rõ nhu cầu người dùng, từ đó định hình sản phẩm, nội dung quảng bá và chính sách phát triển phù hợp hơn. Bên cạnh đó, chuyển đổi số còn thúc đẩy hình thành mô hình du lịch thông minh, nơi hành trình du lịch được cá nhân hóa, thông tin được chuẩn hóa và dịch vụ được tối ưu hóa theo từng nhóm du khách, nâng cao hiệu quả kinh doanh và nâng tầm trải nghiệm văn hóa. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng này, cần tăng cường liên kết dữ liệu giữa các cơ quan, doanh nghiệp và cộng đồng, đào tạo nhân lực số, đồng thời xây dựng các quy chuẩn và chiến lược chuyển đổi số đồng bộ, đảm bảo hài hòa giữa giá trị di sản và lợi ích kinh tế - xã hội. Có thể thấy, chuyển đổi số là xu thế tất yếu và là động lực quan trọng trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch.
Để thích ứng với xu thế cách mạng số trong lĩnh vực du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1671/QĐ-TTg, ngày 30-11-2018, “Về việc phê duyệt Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025”. Đây là cơ sở để ngành du lịch đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh, tạo môi trường cho cộng đồng, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo phù hợp với xu hướng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam.
Năm 2022, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Đề án “Ứng dụng công nghệ của công nghiệp 4.0 để phát triển du lịch thông minh, thúc đẩy du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”. Trong giai đoạn ngành du lịch bị ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, tốc độ chuyển đổi số càng diễn ra nhanh chóng, thể hiện sự chủ động và thích ứng linh hoạt của ngành du lịch Việt Nam. Nhờ đó, hoạt động kết nối, xúc tiến quảng bá du lịch được đổi mới, tăng cường triển khai mạnh mẽ trên nền tảng số; thông tin, dữ liệu trong ngành từng bước được kết nối liên thông, tạo lập cơ sở dữ liệu chung; sản phẩm du lịch ứng dụng công nghệ mới, như thực tế ảo, thực tế tăng cường, trí tuệ nhân tạo, mang lại giá trị gia tăng lớn hơn và trải nghiệm độc đáo hơn cho khách du lịch; giao dịch thương mại điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt trong du lịch ngày càng phổ biến...
Đặc biệt, Quyết định số 4220/QĐ-BVHTTDL, ngày 5-11-2025, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về việc “Ban hành Chiến lược chuyển đổi số của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2025 - 2030” xác định: “Chuyển đổi số là xu thế tất yếu và động lực chiến lược”(8) nhằm xây dựng hạ tầng số, phát triển cơ sở dữ liệu chuyên ngành và nâng cao hiệu quả quản lý, quảng bá cũng như trải nghiệm du lịch - văn hóa cho người dân và du khách. Những định hướng này thể hiện tầm nhìn chiến lược, là cơ sở pháp lý, chính sách quan trọng để thúc đẩy ứng dụng công nghệ số vào bảo tồn di sản và phát triển du lịch theo hướng hiện đại, hội nhập và bền vững.
Thực trạng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa gắn với du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số ở tỉnh Khánh Hòa
Tỉnh Khánh Hòa sở hữu nhiều di sản văn hóa đặc sắc phục vụ du lịch, nổi bật là các di tích lịch sử quốc gia như Tháp Bà Ponagar, vịnh Nha Trang, thành Diên Khánh; di sản phi vật thể, như Lễ hội Tháp Bà Ponagar, nghệ thuật chế biến yến sào, cùng nhiều làng nghề truyền thống (gốm, chiếu), ẩm thực đa dạng (nem nướng, bún sứa), nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ, nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, các điểm văn hóa tâm linh (Am Chúa, Văn Miếu Diên Khánh),… tạo nên sức hút đa dạng, kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp thiên nhiên và giá trị văn hóa lịch sử. Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, Khánh Hòa hiện có nhiều di tích quốc gia đặc biệt, gồm 28 di tích quốc gia và 241 di tích cấp tỉnh. Về di sản văn hóa phi vật thể, toàn tỉnh sở hữu 3 di sản được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, cùng 13 di sản phi vật thể cấp quốc gia(9). Các di sản văn hóa vật thể không chỉ là chứng nhân lịch sử mà còn là “tài sản văn hóa” gắn với đời sống du lịch. Các di sản văn hóa phi vật thể góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo cho điểm đến này.
Trong những năm gần đây, tỉnh Khánh Hòa đạt được nhiều kết quả tích cực trong bảo tồn và khai thác di sản văn hóa phục vụ du lịch. Sau khi sáp nhập hành chính và mở rộng không gian tỉnh, du lịch Khánh Hòa ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ. Năm 2025, du lịch Khánh Hòa ghi nhận sự tăng trưởng tốt. Năm 2025, Khánh Hòa đón 16,4 triệu lượt khách, tăng gần 14,4% so với năm 2024, trong đó khách quốc tế đạt 5,5 triệu lượt, tăng hơn 13,4%. Tổng doanh thu du lịch ước đạt 66,7 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 16,8% so với năm 2024, đạt 100% chỉ tiêu(10). Nhiều di tích lịch sử, di sản văn hóa được bảo tồn và đưa vào khai thác hiệu quả thông qua các sự kiện văn hóa và sản phẩm trải nghiệm du lịch. Những năm gần đây, Khánh Hòa đã tích cực đẩy mạnh ứng dụng các giải pháp số như mã QR cung cấp thông tin di tích, công nghệ VR360 tại các điểm đến du lịch, nâng cao trải nghiệm du khách và quản lý di sản hiệu quả. Việc số hóa di sản không chỉ giúp bảo tồn tài nguyên văn hóa mà còn mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, gia tăng thu hút khách du lịch đến với Khánh Hòa trong bối cảnh cạnh tranh điểm đến toàn cầu và xu hướng du lịch thông minh ngày càng phát triển.
Khánh Hòa đã bước đầu triển khai nhiều giải pháp chuyển đổi số để hỗ trợ bảo tồn, quản lý và quảng bá di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch. Tại nhiều di tích, đặc biệt là di tích Tháp Bà Ponagar, du khách có thể quét mã QR để truy cập thuyết minh song ngữ và thông tin chi tiết về thông tin lịch sử - văn hóa của di tích ngay trên thiết bị di động, giúp nâng cao trải nghiệm tham quan di sản văn hóa trong không gian số. Trang web khanhhoa360.vn cung cấp thông tin du lịch bằng ba ngôn ngữ, tích hợp công nghệ VR360 cho phép du khách tham quan di tích từ xa và hình dung không gian kiến trúc một cách trực quan. Ngoài ra, các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và nền tảng số được một số khu nghỉ dưỡng cao cấp triển khai để hỗ trợ đặt phòng, gợi ý lịch trình, thanh toán không tiền mặt và phân tích hành vi khách hàng. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã hoàn thành trung tâm điều hành thông tin hỗ trợ du khách và đang triển khai dự án ứng dụng hướng dẫn viên ảo trên thiết bị di động với vốn đầu tư công, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và quảng bá.
Mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa gắn với du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số tại Khánh Hòa vẫn còn một số hạn chế, thách thức. Trước hết, nguy cơ mất cân bằng giữa bảo tồn và khai thác kinh tế, khi việc thúc đẩy du lịch nhanh chóng nhằm thu hút lượng khách lớn có thể dẫn đến thương mại hóa di sản, làm giảm giá trị văn hóa truyền thống và ảnh hưởng đến môi trường di tích. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ số vẫn còn chênh lệch về mức độ giữa các khu vực và đơn vị quản lý, phần lớn tập trung ở các trung tâm du lịch lớn như Nha Trang, trong khi vùng sâu, vùng xa và di sản phi vật thể ít được chú trọng đầu tư.
Hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân lực có trình độ số và hạ tầng công nghệ cũng là thách thức lớn, ảnh hưởng đến khả năng số hóa toàn diện và tích hợp dữ liệu di sản trong hệ thống quản lý chung. Việc kết nối bảo tồn với phát triển sản phẩm du lịch có tính bản sắc và dài hạn còn hạn chế. Một số sản phẩm du lịch văn hóa vẫn mang tính tuyến tính, thiếu đầu tư về nội dung chuyên sâu và chưa tạo được sự khác biệt rõ rệt so với các điểm đến khác trong nước. Sự phối hợp giữa quản lý di sản, kinh doanh du lịch và phát triển sản phẩm vẫn chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến tính bền vững trong khai thác di sản.
Đặc biệt, việc triển khai chuyển đổi số vẫn còn chưa đồng đều giữa các khu di tích và doanh nghiệp du lịch; nhiều dự án số hóa đang trong giai đoạn nghiên cứu hoặc chưa được duy trì lâu dài; hạ tầng dữ liệu liên thông vẫn cần trong quá trình hoàn thiện, củng cố để đáp ứng yêu cầu quản lý và khai thác hiệu quả hơn trong tương lai. Do đó, cần phát triển các chính sách, tiêu chuẩn và chiến lược rõ ràng hơn để bảo đảm chuyển đổi số vừa tạo điều kiện quảng bá di sản, vừa bảo tồn giá trị di sản văn hóa một cách bền vững.
Một số giải pháp trọng tâm nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch trong thời gian tới
Theo UNESCO, di sản văn hóa được chia thành di sản hữu hình (tài sản di động và bất động), có thể được bảo tồn và phục hồi bằng một số hình thức can thiệp(11) và di sản vô hình, “được thể hiện trong số những thứ khác ở các lĩnh vực sau: (a) truyền thống và biểu đạt bằng miệng, bao gồm ngôn ngữ như một phương tiện của di sản văn hóa vô hình; (b) nghệ thuật biểu diễn; (c) các hoạt động xã hội, nghi lễ và sự kiện lễ hội; (d) kiến thức và thực hành liên quan đến thiên nhiên và vũ trụ; (e) nghề thủ công truyền thống”(12). Theo Timothy và Boyd, “việc bảo tồn di sản văn hóa có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau: bằng cách bảo tồn, phục hồi, cải tạo hàng hóa và tái tạo đô thị”(13).
Trên cơ sở đó, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số, cần chú trọng một số giải pháp sau:
Một là, cần coi công tác bảo tồn di sản văn hóa là nền tảng, nguyên tắc xuyên suốt trong phát triển du lịch. Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ là nhiệm vụ mang tính gìn giữ quá khứ mà còn là nền tảng để bảo đảm cho sự phát triển bền vững của du lịch trong hiện tại và tương lai. Thực tiễn cho thấy, nhiều điểm đến du lịch hấp dẫn của Việt Nam và thế giới đều được hình thành trên cơ sở khai thác các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc. Tuy nhiên, nếu quá chú trọng khai thác kinh tế mà xem nhẹ công tác bảo tồn, di sản rất dễ bị xuống cấp, biến dạng, thậm chí bị “thương mại hóa”, làm mất đi giá trị nguyên gốc và sức hấp dẫn lâu dài. Quan điểm này đòi hỏi việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch tại các khu, điểm di sản phải dựa trên đánh giá khoa học về sức chịu tải của di sản, không gian văn hóa và môi trường sinh thái. Các dự án du lịch cần được thẩm định chặt chẽ về tác động văn hóa - xã hội, tránh tình trạng xây dựng công trình hiện đại làm phá vỡ cảnh quan, không gian văn hóa truyền thống. Không thể bảo tồn di sản một cách máy móc, “đóng băng” di sản, mà cần gắn với việc duy trì sức sống của di sản trong đời sống đương đại thông qua các hình thức khai thác hợp lý, có kiểm soát, dựa trên giá trị cốt lõi và bản sắc đặc trưng của từng loại hình di sản.
Hai là, hoàn thiện thể chế, chính sách về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa gắn với du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số. Một trong những giải pháp trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách pháp luật về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong bối cảnh phát triển du lịch. Mặc dù Luật Di sản văn hóa và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đã được ban hành, song trên thực tế vẫn còn những khoảng trống, sự chồng chéo hoặc thiếu đồng bộ giữa chính sách văn hóa, du lịch, đầu tư, xây dựng và quản lý đất đai. Điều này gây khó khăn trong quá trình triển khai các mô hình phát triển du lịch dựa trên di sản, đặc biệt ở cấp địa phương. Do đó, cần rà soát, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng làm rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong bảo tồn và khai thác di sản phục vụ du lịch; đồng thời xây dựng các cơ chế khuyến khích xã hội hóa, thu hút nguồn lực từ doanh nghiệp và cộng đồng cho công tác bảo tồn. Chính sách cần bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng cư dân và du khách, tránh tình trạng lợi ích kinh tế ngắn hạn lấn át mục tiêu bảo tồn lâu dài.
Bên cạnh đó, việc cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, cũng như phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cần được thể chế hóa thành các chương trình, đề án, kế hoạch hành động thiết thực, phù hợp với đặc thù của từng vùng, từng địa phương có di sản.
Ba là, gắn bảo tồn di sản văn hóa với bảo đảm sinh kế và lợi ích của cộng đồng địa phương nơi có di sản. Cộng đồng cư dân địa phương vừa là chủ thể sáng tạo, lưu giữ di sản, vừa là đối tượng chịu tác động trực tiếp từ hoạt động du lịch. Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là công việc thường xuyên của cộng đồng”(14). Do đó, giải pháp có ý nghĩa then chốt là phải gắn bảo tồn, phát huy giá trị di sản với vấn đề bảo đảm sinh kế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng cư dân nơi có di sản. Khi người dân thực sự được hưởng lợi từ di sản, họ sẽ có ý thức tự giác và trách nhiệm hơn trong việc gìn giữ, truyền dạy và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Điều này đòi hỏi việc phát triển các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch dựa vào di sản phải đặt người dân vào vị trí trung tâm. Người dân cần được tham gia vào quá trình ra quyết định, tổ chức và quản lý hoạt động du lịch. Các giá trị di sản phi vật thể như lễ hội truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian, nghề thủ công, ẩm thực, tập quán xã hội cần được khai thác một cách tôn trọng, đúng bản chất, tránh “sân khấu hóa” quá mức để chiều theo thị hiếu du khách. Đồng thời, có chính sách đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng làm du lịch, kỹ năng giao tiếp, quản lý cho cộng đồng địa phương, giúp họ vừa bảo tồn được bản sắc văn hóa, vừa thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế du lịch hiện đại.
Bốn là, nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý điểm đến du lịch di sản. Quy hoạch và quản lý điểm đến đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm sự hài hòa giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch. Thực tế cho thấy, nhiều di sản đã bị quá tải do thiếu quy hoạch tổng thể, thiếu sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong quản lý. Vì vậy, cần xây dựng quy hoạch phát triển du lịch di sản trên cơ sở tiếp cận tổng thể, liên ngành và dài hạn, gắn kết giữa bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Trong công tác quản lý, cần áp dụng các công cụ khoa học và công nghệ hiện đại để giám sát tình trạng di sản, lượng khách, tác động môi trường và xã hội. Việc phân luồng khách tham quan, điều tiết thời gian, không gian khai thác di sản là giải pháp cần thiết để giảm áp lực lên các khu, điểm di sản nổi tiếng, đồng thời mở ra cơ hội phát triển cho các điểm đến. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa và du lịch cần được đào tạo chuyên sâu, có kiến thức liên ngành và năng lực thực tiễn, đủ khả năng xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển du lịch di sản.
Năm là, đẩy mạnh truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức về giá trị di sản. Cần đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ, về ý nghĩa, vai trò và trách nhiệm trong việc gìn giữ di sản. Các hoạt động giáo dục di sản trong trường học, bảo tàng, không gian văn hóa cộng đồng cần được đổi mới về nội dung và phương pháp, gắn với trải nghiệm thực tế và ứng dụng công nghệ số. Trong lĩnh vực du lịch, cần chú trọng nâng cao nhận thức của du khách về ứng xử văn hóa tại các điểm di sản, khuyến khích du lịch có trách nhiệm. Các sản phẩm truyền thông, thuyết minh di sản cần được xây dựng một cách khoa học, hấp dẫn, phản ánh đúng giá trị lịch sử, văn hóa, tránh việc cung cấp thông tin sai lệch hoặc đơn giản hóa quá mức. Qua đó, di sản không chỉ là đối tượng tham quan mà còn trở thành phương tiện giáo dục văn hóa, lịch sử, góp phần bồi đắp bản sắc và niềm tự hào dân tộc.
Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Đại hội XIV của Đảng đề ra yêu cầu: “Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong xây dựng, phát triển và quản lý văn hoá, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”(15). Theo đó, việc ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch. Công nghệ số cho phép số hóa di sản, lưu trữ và phổ biến thông tin một cách hệ thống, góp phần bảo vệ di sản trước nguy cơ xuống cấp hoặc mai một. Các ứng dụng như thực tế ảo, thực tế tăng cường, thuyết minh tự động, vé điện tử… giúp nâng cao trải nghiệm của du khách, giảm áp lực trực tiếp lên di sản gốc. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ cần được triển khai một cách có chọn lọc, phù hợp với đặc thù của từng loại hình di sản, tránh lạm dụng công nghệ làm mất đi cảm xúc và trải nghiệm văn hóa của du khách. Chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản và du lịch cần được đặt trong chiến lược tổng thể, có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp công nghệ và các tổ chức văn hóa - khoa học.
Từ thực tiễn của tỉnh Khánh Hòa cho thấy, việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số cần thực hiện đồng bộ, có định hướng chiến lược.
Thứ nhất, cần chủ động xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách mang tính đặc thù để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch của tỉnh Khánh Hòa. Trọng tâm là hoàn thiện chính sách hỗ trợ bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nhất là các lễ hội truyền thống, tri thức dân gian, nghề thủ công, văn hóa biển, đảo gắn với đời sống của cộng đồng cư dân ven biển và đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ hai, có cơ chế khuyến khích xã hội hóa công tác bảo tồn di sản, thu hút sự tham gia của doanh nghiệp du lịch vào việc đầu tư bảo tồn, tôn tạo và khai thác di sản theo hướng bền vững, có kiểm soát. Các chính sách này cần bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng; tăng cường vai trò quản lý, giám sát của chính quyền địa phương, tránh tình trạng “thương mại hóa” di sản một cách cực đoan. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý văn hóa và du lịch có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và tư duy liên ngành.
Thứ ba, cần chú trọng và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cần gắn với yêu cầu thực tiễn của địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển du lịch di sản trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số của tỉnh Khánh Hòa. Đẩy mạnh số hóa di sản, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về di sản văn hóa của tỉnh; ứng dụng công nghệ trong trưng bày, thuyết minh, giới thiệu di sản tại các khu, điểm đến du lịch.
Thứ tư, đẩy mạnh liên kết vùng trong phát triển du lịch di sản của tỉnh Khánh Hòa, nhất là với các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, nhằm hình thành các tuyến, sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử - sinh thái mang tính đồng bộ, hỗ trợ lẫn nhau. Tăng cường hợp tác với các tổ chức, đối tác trong và ngoài nước để học hỏi kinh nghiệm, tranh thủ nguồn lực cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa./.
---------------------------
(1) UNESCO: Về lĩnh vực Văn hóa, https://whc.unesco.org/archive/convention-en.pdf
(2) UNESCO: Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural, (Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể), 2003, https://ich.unesco.org/doc/src/01852-EN.pdf
(3) Elza Mammadova, Asif Abdullayev: The Role of Cultural Heritage in Tourism Competitiveness (tạm dịch: Vai trò của di sản văn hóa trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch), Porta Universorum (Vol. 1, No. 5), https://egarp.lt/index.php/JPURM/article/view/331/330
(4) Briedenhann, J., & Wickens, E. (2004): Tourism routes as a tool for the economic development of rural areas vibrant hope or impossible dream? (tạm dịch: Các tuyến du lịch như một công cụ phát triển kinh tế cho khu vực nông thôn: niềm hy vọng tươi sáng hay giấc mơ bất khả thi?), Tourism Management, 25(1), pp.71-79, https://doi.org/10.1016/S0261-5177(03)00063-3
(5) Elza Mammadova, Asif Abdullayev: The Role of Cultural Heritage in Tourism Competitiveness (tạm dịch: Vai trò của di sản văn hóa trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch), Porta Universorum (Vol. 1, No. 5), https://egarp.lt/index.php/JPURM/article/view/331/330
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 53
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 126
(8) Quyết định số 4220/QÐ-BVHTTDL, ngày 5-11-2025, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ban hành Chiến lược chuyển đổi số của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2025 - 2030, https://bvhttdl.mediacdn.vn/document/2025/11/18/qd-4220-1763432228126890206039.pdf
(9) Hữu Long: Di sản văn hóa tạo nền tảng bền vững cho du lịch Khánh Hòa, Báo Lao động, ngày 17-8-2025, https://laodong.vn/du-lich/tin-tuc/di-san-van-hoa-tao-nen-tang-ben-vung-cho-du-lich-khanh-hoa-1557491.html
(10) Xuân Thành: Du lịch Khánh Hòa năm 2025 đạt doanh thu khoảng 66,7 nghìn tỷ đồng, Báo Khánh Hòa, ngày 25-12-2025, https://baokhanhhoa.vn/du-lich/202512/du-lich-khanh-hoa-nam-2025-dat-doanh-thu-khoang-667-nghin-ty-dong-cc45997/
(11) UNESCO: Convention concerning the protection of the world cultural and natural herita (tạm dịch: Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới), 1982, https://whc.unesco.org/archive/convention-en.pdf
(12) UNESCO: Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural (tạm dịch: Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể), https://ich.unesco.org/doc/src/01852-EN.pdf
(13) Dallen J. Timothy: Cultural Heritage and Tourism: An Introduction (tạm dịch: Di sản văn hóa và du lịch: Lời giới thiệu), Chanel View: Bristol, London, 2011, https://books.google.com.vn/books?hl=vi&lr=&id=oADPBQAAQBAJ&oi=fnd&pg=PR5&ots=uU4f6330mN&sig=H6mBsIWKVkUvD1y93JnwYUtWlX4&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 53
(15) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 54
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực chính cho mô hình tăng trưởng mới nâng tầm bứt phá của tỉnh Quảng Ninh  (21/07/2026)
Hệ thống chính sách thích ứng già hóa dân số: Yếu tố duy trì động lực phát triển bền vững ở Việt Nam  (14/07/2026)
- Tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước: Khái niệm, nội hàm và định hướng đối ngoại
- Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chỉ dẫn quan trọng cho giai đoạn hiện nay
- Nhận diện và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong giai đoạn hiện nay
- Ngoại giao nguồn nước trong bối cảnh mới tại Tiểu vùng sông Mekong: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- An ninh phi truyền thống trong bối cảnh toàn cầu: Thách thức và định hướng chính sách của Việt Nam hiện nay
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Văn hóa - Xã hội
Văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống trong phát triển nhân cách quân nhân -
Kinh tế
Công nghiệp hóa bền vững để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nhanh và bền vững ở Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam