Quan điểm “không ai bị bỏ lại phía sau” trong bảo đảm quyền của người khuyết tật ở Việt Nam
TCCS - Quan điểm “không ai bị bỏ lại phía sau” là cam kết chính trị nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong lĩnh vực bảo đảm quyền của người khuyết tật, quan điểm ấy được thể chế hóa đồng bộ, tổ chức thực thi hiệu quả và kiểm chứng bằng thực tiễn sinh động, qua đó khẳng định tính ưu việt của mô hình phát triển “tăng trưởng bao trùm”, đồng thời bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về quyền con người ở Việt Nam.
“Không ai bị bỏ lại phía sau”: Từ tư duy nhân đạo cách mạng đến hệ giá trị phát triển bao trùm
Quan điểm “không ai bị bỏ lại phía sau” trong bảo đảm quyền của người khuyết tật ở Việt Nam là kết tinh của tư duy lý luận cách mạng, bản chất nhân văn sâu sắc của chế độ xã hội chủ nghĩa và của quá trình phát triển nhận thức chính trị xuyên suốt qua các thời kỳ lịch sử. Nếu nhìn từ chiều sâu lịch sử, ngay từ buổi đầu cách mạng, khi nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu, Đảng ta đã sớm thể hiện một tư duy nhất quán về chăm lo con người, trong đó có các nhóm yếu thế. Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (tháng 11-1940) đã nêu yêu cầu “bảo vệ nhi đồng và tàn tật”; đến Hội nghị Trung ương VIII (tháng 5-1941) khẳng định trách nhiệm của chính quyền cách mạng trong chăm nom người già, người tàn tật về cả thể chất và tinh thần. Những luận điểm này, trong bối cảnh đất nước còn trong vòng nô lệ, chính quyền cách mạng chưa được thiết lập, mang ý nghĩa chính trị - tư tưởng đặc biệt sâu sắc, phản ánh tầm nhìn vượt trước về một nhà nước lấy con người làm trung tâm, nơi quyền được sống, được bảo vệ và được phát triển không bị giới hạn bởi hoàn cảnh cá nhân.
Sau khi giành độc lập và đặc biệt là sau khi thống nhất đất nước năm 1975, trong điều kiện hậu chiến với những tổn thất nặng nề về con người, kinh tế - xã hội, số lượng người bị thương tật, suy giảm khả năng lao động và người khuyết tật trong cộng đồng gia tăng nhanh chóng, Đảng và Nhà nước đã xác định rõ trách nhiệm chăm lo đối với nhóm đối tượng này. Báo cáo chính trị tại Đại hội IV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu quan tâm đầy đủ đến những người tàn tật gặp nhiều khó khăn với cách tiếp cận chủ yếu mang tính nhân đạo - bảo trợ, gắn với đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”. Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách khách quan và biện chứng rằng, đó không phải là hạn chế về bản chất chính sách mà là sự lựa chọn phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế, với cơ chế kế hoạch hóa tập trung và với yêu cầu cấp thiết của công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh. Trong điều kiện nguồn lực hết sức hạn hẹp, việc duy trì và mở rộng các chính sách bảo trợ đối với người yếu thế đã biểu hiện rõ ràng tính ưu việt và bản chất nhân văn của chế độ.
Bước ngoặt căn bản trong tư duy lý luận về người khuyết tật gắn liền với tiến trình đổi mới toàn diện đất nước. Từ chỗ coi người khuyết tật chủ yếu là đối tượng cần trợ giúp xã hội, Đảng ta từng bước chuyển sang cách tiếp cận dựa trên quyền con người, coi họ là chủ thể của đời sống xã hội, có quyền được tham gia, được phát triển và được thụ hưởng thành quả của tăng trưởng. Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã đặt nền tảng cho sự chuyển dịch này khi nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hội tiếp cận các nguồn lực kinh tế và dịch vụ công thiết yếu. Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định rõ hơn việc chuyển từ hỗ trợ mang tính nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh xã hội của công dân, mở rộng bao phủ hệ thống an sinh đến mọi người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Đây không đơn thuần là sự điều chỉnh chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà là bước phát triển về chất trong tư duy lý luận: người khuyết tật không còn được nhìn nhận dưới góc độ khiếm khuyết cần được bù đắp mà được đặt trong chỉnh thể quyền con người, quyền công dân với đầy đủ các chiều cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển đó, quan điểm “không ai bị bỏ lại phía sau” đã vượt ra khỏi phạm vi định hướng chính sách cụ thể để trở thành một hệ giá trị cốt lõi trong quan điểm an sinh xã hội của Đảng. Hệ giá trị này thể hiện rõ ở nguyên tắc phát triển bao trùm, bảo đảm mọi người dân, trong đó có người khuyết tật, đều được tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển; tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, không đánh đổi quyền con người lấy tốc độ tăng trưởng; Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong thiết kế, điều tiết và bảo đảm thực hiện các chính sách an sinh; đồng thời huy động sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội và đặc biệt là người khuyết tật vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách liên quan. Chính những nguyên tắc này đã tạo nên nền tảng lý luận cho mô hình an sinh xã hội đa tầng gắn với định hướng tăng trưởng bao trùm - một mô hình phát triển vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, vấn đề quyền con người, trong đó có quyền của người khuyết tật, thường bị một số thế lực lợi dụng để đưa ra những đánh giá phiến diện, thậm chí xuyên tạc về tình hình Việt Nam. Một biểu hiện phổ biến là việc áp đặt máy móc các tiêu chuẩn phương Tây, tách rời khỏi điều kiện lịch sử, trình độ phát triển và đặc thù thể chế của từng quốc gia. Cách tiếp cận của Việt Nam là tiếp cận thực chất, toàn diện và phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Việt Nam chủ động tiếp thu các nguyên tắc tiến bộ của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật, nhưng không sao chép cơ học mà lựa chọn lộ trình và mô hình chính sách gắn với khả năng nguồn lực, yêu cầu phát triển và mục tiêu ổn định chính trị - xã hội. Do đó, lấy những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực thi để phủ nhận bản chất chính sách không chỉ thiếu khách quan mà còn đi ngược lại thực tiễn sinh động đang diễn ra. Việc thẳng thắn nhìn nhận hạn chế, từng bước hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi lại là minh chứng cho tính năng động, cầu thị và trách nhiệm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quan điểm “không ai bị bỏ lại phía sau” đã trở thành trụ cột tư tưởng trong chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước, là nền tảng cho việc bảo đảm quyền của người khuyết tật, là biểu hiện tập trung, sinh động bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ mới.
Thực tiễn bảo đảm quyền của người khuyết tật ở Việt Nam
Thực tiễn bảo đảm quyền của người khuyết tật ở Việt Nam trong những năm qua là minh chứng sinh động, có sức thuyết phục cao đối với trong nước và quốc tế. Những kết quả đạt được không chỉ phản ánh nỗ lực của hệ thống chính trị mà còn cho thấy rõ sự vận hành hiệu quả của mô hình phát triển theo định hướng “tăng trưởng bao trùm”, nơi quyền con người không bị tách rời khỏi điều kiện phát triển, được bảo đảm bằng các thiết chế cụ thể, nguồn lực thực chất và cơ chế thực thi đồng bộ.
Trước hết, việc bảo đảm quyền của người khuyết tật ở Việt Nam không diễn ra một cách tự phát mà được đặt trên nền tảng của một khung thể chế pháp lý ngày càng hoàn thiện và có tính hệ thống. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã chế định đầy đủ các quyền con người, quyền công dân; Luật Người khuyết tật năm 2010 - văn bản pháp lý trung tâm quy định toàn diện về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật; Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật được Quốc hội phê chuẩn năm 2014 đã tạo nên một nền tảng pháp lý vững chắc. Các chương trình, kế hoạch hành động của Chính phủ, như Kế hoạch thực hiện Công ước, Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021 - 2030, cùng hàng loạt quy định liên quan trong các lĩnh vực lao động, y tế, giáo dục, bảo hiểm, trợ giúp pháp lý…, đã cụ thể hóa quyền của người khuyết tật và được triển khai trong thực tiễn.
Trong lĩnh vực an sinh xã hội, những con số cụ thể cho thấy rõ mức độ bao phủ và hiệu quả của chính sách. Theo báo cáo mới nhất của Ủy ban Quốc gia về Người khuyết tật Việt Nam năm 2025, công tác chăm sóc sức khỏe đã đạt được bước tiến lớn khi khoảng 96% người khuyết tật trên cả nước đã có thẻ bảo hiểm y tế. Đây là nền tảng quan trọng giúp giảm bớt gánh nặng kinh phí cho các hộ gia đình và bảo đảm quyền được chăm sóc y tế cơ bản của người yếu thế. Đây là minh chứng cho việc Đảng ta luôn ưu tiên bảo vệ nhóm yếu thế trong phân bổ nguồn lực xã hội. Theo Quyết định số 569/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình phát triển hệ thống phục hồi chức năng giai đoạn 2023 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam đã đạt được bước tiến đáng kể khi mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đã hỗ trợ tiếp cận cho khoảng 85% người khuyết tật có nhu cầu, góp phần quan trọng vào việc cải thiện chất lượng cuộc sống và khả năng hòa nhập của họ; riêng các chương trình hợp tác quốc tế, như INCLUSION(1) đã mang lại hiệu quả cụ thể thông qua việc hỗ trợ hàng nghìn người khuyết tật tiếp cận dịch vụ, đồng thời đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn. Những kết quả này cho thấy chính sách không chỉ dừng ở hỗ trợ tài chính mà đã đi vào chiều sâu dịch vụ, nâng cao chất lượng cuộc sống và năng lực tự chủ của người khuyết tật.
Trong lĩnh vực giáo dục, việc thúc đẩy giáo dục hòa nhập đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tỷ lệ trẻ em khuyết tật đi học đúng độ tuổi ở cấp tiểu học đạt khoảng 88,7%(2), phản ánh nỗ lực mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cơ bản cho mọi trẻ em, không phân biệt tình trạng khuyết tật. Tuy tỷ lệ này giảm ở các cấp học cao hơn nhưng nếu đặt trong bối cảnh xuất phát điểm thấp và những rào cản về hạ tầng, nhân lực và nhận thức xã hội thì vẫn là bước tiến quan trọng. Đáng chú ý, hệ thống chính sách không chỉ dừng ở việc “đưa trẻ đến trường” mà còn chú trọng nâng cao năng lực của hệ thống giáo dục thông qua đào tạo giáo viên giáo dục đặc biệt, phát triển học liệu phù hợp và ứng dụng công nghệ hỗ trợ, qua đó từng bước nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập.
Trong lĩnh vực lao động và việc làm, định hướng chuyển từ hỗ trợ sang trao cơ hội cho người khuyết tật được thể hiện khá rõ nét. Tính đến cuối năm 2025, cả nước có khoảng 1.900 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (bao gồm trường cao đẳng, trung cấp và các trung tâm giáo dục nghề nghiệp) có khả năng và tham gia đào tạo nghề cho người khuyết tật. Chính phủ đang đẩy mạnh quy hoạch lại hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt. Đến năm 2030, dự kiến sẽ hình thành mạng lưới gồm 12 cơ sở giáo dục chuyên biệt công lập và 94 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập cấp tỉnh để nâng cao chất lượng đào tạo chuyên sâu(3). Những con số này cho thấy chính sách đã tạo điều kiện để họ tham gia vào thị trường lao động, từng bước khẳng định giá trị của mình. Bên cạnh đó, sự phát triển của các doanh nghiệp xã hội, như Kym Việt, Vụn Art đã mở ra những mô hình sinh kế bền vững, không chỉ tạo việc làm mà còn góp phần thay đổi nhận thức xã hội về năng lực của người khuyết tật. Giá trị lớn nhất của các mô hình này không nằm ở quy mô mà ở khả năng phá vỡ định kiến, chuyển hóa cách nhìn từ “gánh nặng xã hội” sang “nguồn lực phát triển”.
Ở góc độ đầu tư, theo báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố cuối năm 2025, Việt Nam hiện dành khoảng 0,2% GDP(4) cho các chính sách bảo trợ xã hội liên quan đến khuyết tật. Đây là một con số đáng chú ý đối với một quốc gia đang phát triển. Trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế và phải giải quyết đồng thời nhiều bài toán phát triển, việc duy trì mức đầu tư này cho thấy rõ ưu tiên chính trị của Nhà nước đối với các nhóm yếu thế. Đây không chỉ là vấn đề tài chính mà là sự lựa chọn mang tính chiến lược, thể hiện quan điểm phát triển vì con người, đặt con người ở vị trí trung tâm.
Một điểm nhấn quan trọng khác là tiến trình xây dựng môi trường tiếp cận và thúc đẩy chuyển đổi số hòa nhập. Theo kết quả khảo sát về mức độ sẵn sàng công nghệ được công bố trong khuôn khổ ngày Người khuyết tật Việt Nam năm 2025, smartphone là phương tiện tiếp cận thông tin quan trọng nhất khi chiếm tới 92,2% lưu lượng truy cập internet của người khuyết tật có sử dụng mạng(5) cho thấy công nghệ đang trở thành công cụ hữu hiệu để phá bỏ các rào cản vật lý, mở rộng cơ hội học tập, làm việc và tiếp cận dịch vụ công. Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, đây có thể được xem là một “đòn bẩy” quan trọng để thúc đẩy thực hiện quyền con người hiệu quả và ít tốn kém hơn so với các giải pháp truyền thống.
Từ những kết quả nêu trên có thể thấy rõ một đặc điểm nổi bật của mô hình Việt Nam: không dừng ở việc cung cấp các gói trợ cấp xã hội mang tính phúc lợi tối thiểu mà từng bước kiến tạo điều kiện để người khuyết tật trở thành chủ thể của phát triển. Khi người khuyết tật được tiếp cận bảo hiểm y tế, phục hồi chức năng, học tập trong môi trường hòa nhập, đào tạo nghề, hỗ trợ tiếp cận công nghệ và có cơ hội việc làm, thì chính sách là “trao quyền”. Đây chính là sự khác biệt căn bản giữa hệ thống an sinh xã hội mang tính thụ động và hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hướng tới phát triển bao trùm.
Nhìn tổng thể, thực tiễn bảo đảm quyền của người khuyết tật ở Việt Nam cho thấy sự kết hợp tương đối hài hòa giữa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, toàn dân và nỗ lực vươn lên của chính người khuyết tật. Chính sự kết hợp này đã tạo nên nền tảng một xã hội bao trùm - bảo đảm quyền trên văn bản và từng bước hiện thực hóa quyền trong đời sống. Đây cũng là minh chứng rõ nét cho tính ưu việt, nhân văn và định hướng vì con người của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Kiến tạo xã hội bao trùm trong giai đoạn mới
Bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, việc tiếp tục nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người khuyết tật không chỉ là nhiệm vụ an sinh thuần túy mà trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những thành tựu bảo đảm quyền cho người khuyết tật là nền tảng quan trọng, song thực tiễn cũng đặt ra yêu cầu phải chuyển mạnh từ “mở rộng bao phủ” sang “nâng cao chất lượng”, từ “bảo đảm tiếp cận” sang “bảo đảm tham gia thực chất”, từ “chính sách hỗ trợ” sang “kiến tạo môi trường phát triển toàn diện”. Đây chính là hướng tiếp cận phù hợp theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Thứ nhất, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, hiện đại và tương thích đầy đủ hơn với các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật. Việc sửa đổi, bổ sung Luật Người khuyết tật cần được đẩy nhanh theo hướng cụ thể hóa rõ hơn quyền tiếp cận trong các lĩnh vực then chốt như giáo dục, y tế, việc làm, hạ tầng và công nghệ; đồng thời làm rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cơ chế phối hợp liên ngành và chế tài xử lý vi phạm. Một hệ thống pháp luật dù đúng đắn về nguyên tắc nhưng nếu thiếu tính khả thi trong thực thi thì khó có thể tạo ra chuyển biến thực chất. Do đó, cùng với hoàn thiện luật, cần chú trọng xây dựng các văn bản dưới luật rõ ràng, dễ áp dụng, tránh tình trạng “luật đúng nhưng thi hành lỏng”, làm giảm hiệu lực của chính sách.
Thứ hai, việc bảo đảm sự tham gia thực chất của người khuyết tật trong quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách là yêu cầu then chốt. Một chính sách dù được thiết kế khoa học, nhân văn nhưng nếu thiếu tiếng nói của chính đối tượng thụ hưởng thì khó tránh khỏi những “khoảng trống” so với thực tiễn. Do đó, cần thiết lập cơ chế tham vấn thường xuyên, có tính ràng buộc với các tổ chức đại diện người khuyết tật, đồng thời hỗ trợ nâng cao năng lực cho các tổ chức này trong việc phản biện chính sách, giám sát thực thi và kết nối cộng đồng. Việc chuyển từ “làm thay” sang “làm cùng”, từ “đại diện gián tiếp” sang “tham gia trực tiếp” không chỉ giúp nâng cao hiệu quả chính sách mà còn là biểu hiện cụ thể của việc thực hiện quyền con người trong thực tiễn.
Thứ ba, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của cơ chế giám sát, thanh tra và đánh giá chính sách. Thực tiễn cho thấy nhiều quy định tiến bộ chưa được thực hiện đầy đủ do thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát và chế tài đủ mạnh. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống chỉ số quốc gia về mức độ hòa nhập của người khuyết tật làm cơ sở cho việc đánh giá khách quan, định lượng và so sánh giữa các địa phương, lĩnh vực. Đồng thời, cần thiết lập các kênh phản ánh, kiến nghị thân thiện, dễ tiếp cận đối với người khuyết tật; tăng cường công khai, minh bạch kết quả thanh tra, kiểm tra; kịp thời biểu dương các mô hình tốt và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền tiếp cận. Không có cơ chế giám sát hiệu quả thì các quy định dù tiến bộ đến đâu cũng có nguy cơ dừng lại ở văn bản.
Thứ tư, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, việc thúc đẩy chuyển đổi số hòa nhập cần được xác định là một đột phá chiến lược trong bảo đảm quyền của người khuyết tật. Công nghệ số không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà có thể trở thành “cánh cửa thứ hai” giúp người khuyết tật vượt qua các rào cản về không gian, thời gian và điều kiện thể chất để tham gia vào đời sống kinh tế - xã hội. Do đó, cần ưu tiên phát triển hạ tầng số thân thiện, thiết kế các dịch vụ công trực tuyến dễ tiếp cận, thúc đẩy các giải pháp công nghệ hỗ trợ trong giáo dục, y tế, việc làm và giao tiếp xã hội. Đồng thời, việc phổ cập kỹ năng số cho người khuyết tật cần được coi là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực nhằm bảo đảm họ “không bị bỏ lại phía sau” trong tiến trình chuyển đổi số.
Thứ năm, bảo đảm nguồn lực tài chính bền vững cũng là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa các mục tiêu chính sách. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, việc phân bổ ngân sách cần thực hiện theo hướng trọng tâm, trọng điểm, gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội lớn, đồng thời tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực. Bên cạnh vai trò chủ đạo của ngân sách nhà nước, cần đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội thông qua cơ chế hợp tác công - tư, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và các đối tác phát triển. Tuy nhiên, xã hội hóa không đồng nghĩa với “thoái lui” vai trò của Nhà nước mà ngược lại, đòi hỏi Nhà nước phải giữ vững vai trò định hướng, điều tiết và bảo đảm công bằng trong phân bổ nguồn lực.
Thứ sáu, tiếp tục hoàn thiện môi trường tiếp cận, từ hạ tầng vật chất đến môi trường xã hội. Các công trình công cộng, hệ thống giao thông, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa cần được thiết kế và cải tạo theo hướng bảo đảm khả năng tiếp cận hòa nhập cho mọi đối tượng. Đồng thời, đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục nhằm thay đổi nhận thức xã hội, giảm thiểu định kiến, kỳ thị, xây dựng văn hóa tôn trọng sự khác biệt và đề cao giá trị của mỗi cá nhân./.
-----------------
(1) Chương trình INCLUSION (Đa dạng và Hòa nhập) là các sáng kiến chiến lược được thiết kế để tạo ra môi trường làm việc hoặc xã hội tôn trọng, bình đẳng, và chào đón mọi cá nhân. Chương trình này nhằm mục đích thu hút tài năng đa dạng, nâng cao sáng tạo và đảm bảo cơ hội công bằng, thường được áp dụng trong doanh nghiệp để giảm thiên vị và trong giáo dục/xã hội để hỗ trợ người khuyết tật, nhóm yếu thế
(2) Xem: Hà Nhân, “Chú trọng quyền của người khuyết tật”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 09-10-2024, https://nhandan.vn/chu-trong-quyen-cua-nguoi-khuyet-tat-post835666.html
(3) Xem: Thông cáo báo chí về kết quả điều tra người khuyết tật năm 2023, Cục Thống kê - Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê Việt Nam, https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2024/11/thong-cao-bao-chi-ve-ket-qua-dieu-tra-nguoi-khuyet-tat-nam-2023/
(4) Xem: Minh Đức: “Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội đến người khuyết tật”, An sinh xã hội điện tử, Chuyên trang của Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ngày 18-4-2026, https://ansinh.tapchikinhtetaichinh.vn/mo-rong-bao-phu-bao-hiem-xa-hoi-den-nguoi-khuyet-tat-154049.html
(5) Xem: Vũ Thơ: “90% người khuyết tật Việt Nam sở hữu thiết bị số và truy cập internet thường xuyên”, Báo Thanh Niên điện tử, ngày 18-4-2026, https://thanhnien.vn/90-nguoi-khuyet-tat-viet-nam-so-huu-thiet-bi-so-va-truy-cap-internet-thuong-xuyen-185260418103935049.htm#:~:text=90%25%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20khuy%E1%BA%BFt%20t%E1%BA%ADt%20Vi%E1%BB%87t,truy%20c%E1%BA%ADp%20internet%20th%C6%B0%E1%BB%9Dng%20xuy%C3%AAn
Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền con người trong kỷ nguyên số và những kiến nghị hoàn thiện  (28/06/2026)
- Tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước: Khái niệm, nội hàm và định hướng đối ngoại
- Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chỉ dẫn quan trọng cho giai đoạn hiện nay
- Nhận diện và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong giai đoạn hiện nay
- Ngoại giao nguồn nước trong bối cảnh mới tại Tiểu vùng sông Mekong: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- An ninh phi truyền thống trong bối cảnh toàn cầu: Thách thức và định hướng chính sách của Việt Nam hiện nay
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Văn hóa - Xã hội
Văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống trong phát triển nhân cách quân nhân -
Kinh tế
Công nghiệp hóa bền vững để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nhanh và bền vững ở Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam