Tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước: Khái niệm, nội hàm và định hướng đối ngoại

PGS, TS Đặng Đình Quý
Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
17:55, ngày 04-08-2026

TCCS - Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “...phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước”(1). Đây là yêu cầu mới, thể hiện bước phát triển trong tư duy đối ngoại của Đảng, đồng thời phản ánh yêu cầu nâng tầm nền đối ngoại toàn diện, hiện đại trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Định hướng này không chỉ đặt ra yêu cầu phát huy hiệu quả hơn các nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước, mà còn đòi hỏi đối ngoại phải thể hiện đúng tầm vóc của dân tộc Việt Nam, vị thế ngày càng cao của đất nước và những yêu cầu mới của thời đại.

Tầm vóc quốc gia

Trong tiếng Việt, “tầm vóc” là khái niệm hàm chứa cả ý nghĩa về quy mô, độ lớn và mức độ ảnh hưởng. Theo nghĩa thông thường, “tầm” được hiểu là độ xa có thể vươn tới hoặc mức độ quan trọng; “vóc” gắn với hình thể, kích thước. Kết hợp lại, “tầm vóc” không chỉ phản ánh quy mô hay hình thức biểu hiện bên ngoài, mà còn chỉ mức độ quan trọng, sức lan tỏa và giá trị ảnh hưởng của một sự vật, hiện tượng hay chủ thể trong đời sống xã hội. Trong quan hệ quốc tế, mặc dù tiếng Anh không có thuật ngữ hoàn toàn tương đồng với “tầm vóc” quốc gia, nhưng nhiều khái niệm được sử dụng để phản ánh những phương diện gần gũi như sức mạnh tổng hợp, uy tín, ảnh hưởng và vị trí của quốc gia trong hệ thống quốc tế.

Từ góc độ đó có thể thấy, “tầm vóc” luôn mang tính quan hệ và hàm chứa yếu tố so sánh. Tuy nhiên, đây không phải là sự so sánh trực tiếp theo thứ bậc về quy mô kinh tế hay sức mạnh quân sự, mà là sự so sánh trong tương quan với môi trường quốc tế, bối cảnh lịch sử và các giá trị phổ quát của thời đại. Một quốc gia có thể không lớn về diện tích hay tiềm lực vật chất, nhưng vẫn có “tầm vóc” cao nếu có những đóng góp quan trọng đối với hòa bình, hợp tác và phát triển. Ngược lại, một quốc gia có tiềm lực lớn nhưng ít đóng góp cho các lợi ích chung thì tầm vóc có thể không tương xứng với quy mô. Vì vậy, tầm vóc quốc gia không chỉ được xác định bởi sức mạnh vật chất, mà còn bởi vị trí tương đối, vai trò và mức độ đóng góp của quốc gia đó đối với cộng đồng khu vực và quốc tế.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Hội nghị ngoại giao lần thứ 33 với chủ đề "Phát huy vai trò tiên phong và thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới", ngày 1-8-2026_Ảnh: dantri.com.vn

Việc nhận diện và đánh giá tầm vóc quốc gia thường được đặt trong nhiều tầng nấc so sánh khác nhau. Đó có thể là sự đối chiếu với các chuẩn mực chung của thời đại như hòa bình, hợp tác, phát triển bền vững; với kinh nghiệm và vai trò của các quốc gia có điều kiện tương đồng hoặc trong tương quan chiến lược giữa các nước ở khu vực và trên thế giới. Những cách tiếp cận đó giúp xác định rõ hơn vị trí của quốc gia trong hệ thống quốc tế, đồng thời nhận diện đúng điểm mạnh, điểm hạn chế và dư địa phát triển để hoạch định chính sách phù hợp(2)

Tầm vóc quốc gia không hoàn toàn do một quốc gia tự xác định, nhưng cũng không chỉ phụ thuộc vào đánh giá từ bên ngoài. Đây là kết quả của sự kết hợp giữa tự nhận thức của quốc gia với mức độ thừa nhận của cộng đồng quốc tế. Nếu tự đánh giá quá cao so với khả năng thực tế sẽ dễ dẫn đến chủ quan, duy ý chí và có thể kéo theo những tính toán chiến lược thiếu phù hợp. Ngược lại, nếu tự đánh giá thấp hơn vị trí và tiềm năng của quốc gia thì có thể dẫn đến tâm lý thiếu tự tin, thiếu chủ động trong triển khai chính sách đối ngoại và chưa phát huy đầy đủ các nguồn lực quốc gia(3).

Việc tự đánh giá tầm vóc quốc gia thường dựa trên các yếu tố nền tảng như lịch sử, văn hóa, sức mạnh tổng hợp và tiềm năng phát triển của đất nước. Trong khi đó, đánh giá từ bên ngoài được thể hiện thông qua mức độ cộng đồng quốc tế thừa nhận vai trò của quốc gia tại các thể chế đa phương, cách thức các đối tác định vị quốc gia đó trong chính sách đối ngoại, cũng như mức độ tin cậy và sẵn sàng hợp tác.

Sự kết hợp giữa tự đánh giá và sự thừa nhận từ bên ngoài có thể dẫn tới một số trường hợp sau:

Thứ nhất, quốc gia tự đánh giá cao nhưng không được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Trường hợp này dễ dẫn đến nhận thức chưa đầy đủ về tầm vóc quốc gia, từ đó có thể kéo theo những tính toán hoặc lựa chọn chiến lược thiếu phù hợp.

Thứ hai, quốc gia tự đánh giá thấp trong khi cộng đồng quốc tế lại đánh giá cao hơn vị thế thực tế mà quốc gia đó đang có. Điều này có thể dẫn đến tâm lý thiếu thiếu chủ động trong quan hệ quốc tế và chưa phát huy đầy đủ tiềm năng, lợi thế của đất nước.

Thứ ba, quốc gia tự đánh giá đúng và đồng thời được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Đây là trường hợp thuận lợi nhất, khi tầm vóc quốc gia được xác lập tương đối vững chắc, tạo cơ sở để phát huy hiệu quả các nguồn lực lịch sử, văn hóa và vị thế nhằm phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Tầm vóc lịch sử quốc gia và tầm vóc lịch sử của Việt Nam

Tầm vóc lịch sử của một quốc gia không chỉ được đo bằng chiều dài của tiến trình tồn tại, mà còn bởi ý nghĩa lịch sử của những lựa chọn phát triển, các sự kiện, thành tựu và mức độ đóng góp của quốc gia đó đối với tiến trình phát triển chung của nhân loại. Tầm vóc lịch sử không tồn tại như một giá trị tự thân, mà được xác lập trong tương quan với các chuẩn mực phổ quát của thời đại như độc lập dân tộc, hòa bình và phát triển, cũng như các xu thế lớn của thế giới như giải phóng dân tộc, hội nhập và toàn cầu hóa. Theo đó, tầm vóc lịch sử được cấu thành bởi một số yếu tố cơ bản, bao gồm: Bề dày và tính liên tục của lịch sử; năng lực thích ứng và đổi mới qua các thời kỳ; ý nghĩa và tác động của lịch sử; mức độ đóng góp đối với giá trị và xu thế phát triển chung của nhân loại.

Bề dày và tính liên tục của tiến trình lịch sử là nền tảng cơ bản phản ánh sự hình thành lâu dài của quốc gia, tính bền vững của bản sắc dân tộc và khả năng vượt qua các biến động lớn của lịch sử.

Năng lực thích ứng và đổi mới qua các thời kỳ cũng là một biểu hiện quan trọng của tầm vóc lịch sử. Một quốc gia có tầm vóc lịch sử không chỉ biết gìn giữ truyền thống, mà còn phải có khả năng điều chỉnh chiến lược, thích ứng với bối cảnh mới và chủ động đổi mới để phát triển. Chính năng lực này giúp lịch sử không trở thành gánh nặng của quá khứ, mà trở thành nguồn lực cho hiện tại và tương lai.

Tầm vóc lịch sử là ý nghĩa và tác động của lịch sử đối với môi trường khu vực và quốc tế. Điều này thường thể hiện rõ trong những bước ngoặt lớn như đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước hoặc chuyển đổi mô hình phát triển. Những sự kiện đó không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi quốc gia, mà còn góp phần củng cố các giá trị phổ quát như quyền tự quyết dân tộc, đồng thời tạo ra những kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với các quốc gia khác trong hoàn cảnh tương đồng.

Ngoài ra, mức độ đóng góp vào các giá trị và xu thế phát triển chung của nhân loại cũng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá tầm vóc lịch sử của một quốc gia. Một quốc gia có thể được coi là có tầm vóc lịch sử khi những kinh nghiệm phát triển của mình có ý nghĩa tham khảo rộng hơn, hoặc khi có đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy giá trị chung như hòa bình, hợp tác và phát triển.

Do vậy, có thể nhìn nhận tầm vóc lịch sử của Việt Nam trên một số phương diện chủ yếu sau:

Một là, về bề dày lịch sử, Việt Nam có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước với tính liên tục cao, không bị đứt gãy về bản sắc dân tộc và ý thức quốc gia qua những biến động lớn của lịch sử. Trải qua hơn 1.000 năm Bắc thuộc cùng nhiều giai đoạn chiến tranh, dân tộc Việt Nam vẫn giữ vững được sự thống nhất quốc gia và khẳng định vị trí riêng trong lịch sử khu vực Đông Nam Á.

Hai là, về năng lực thích ứng, qua nhiều thăng trầm của lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn thể hiện khả năng ứng phó và thích ứng cao trước các thách thức bên ngoài. Chính năng lực đó góp phần giúp đất nước bảo tồn được bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất và tạo nền tảng cho công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.

Ba là, về ý nghĩa và tác động lịch sử, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam đã trở thành nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Trong thời kỳ đổi mới, quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng mang lại nhiều kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với các nước đang phát triển.

Bốn là, về đóng góp đối với các giá trị chung của nhân loại, lịch sử Việt Nam gắn liền với khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc và phát triển. Những hy sinh to lớn của nhân dân Việt Nam trong các cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc không chỉ có ý nghĩa đối với riêng dân tộc Việt Nam, mà còn góp phần khẳng định giá trị của hòa bình, tự do và quyền tự quyết của dân tộc.

Tầm vóc văn hóa quốc gia và tầm vóc văn hóa của Việt Nam

Trong quan hệ quốc tế, văn hóa và tầm vóc văn hóa thường được một số học giả tiếp cận như một thành tố của sức mạnh mềm(4) hoặc như một trong những nhân tố tác động sâu xa đến quan hệ giữa các quốc gia(5). Ở trong nước, Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát triển văn hóa Việt Nam” đã nhấn mạnh: “Văn hóa Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam... Đảng ta luôn chú trọng phát triển văn hóa và con người Việt Nam, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới”(6). Nghị quyết cũng xác định nhiều nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy sự lan tỏa của văn hóa Việt Nam ra thế giới. Một số nhà nghiên cứu tiếp cận tầm vóc văn hóa thông qua sức hấp dẫn, chiều sâu lịch sử của văn hóa Việt Nam và tính năng động của văn hóa đương đại(7). Với cách tiếp cận đó, có thể hiểu:

Tầm vóc văn hóa của một quốc gia là sự kết hợp giữa chiều sâu văn hóa, năng lực thích ứng và khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa, qua đó tạo ra ảnh hưởng nhất định đối với nhận thức, hành vi và chuẩn mực trong môi trường khu vực và quốc tế.

Chiều sâu văn hóa phản ánh mức độ các giá trị văn hóa được tích lũy qua lịch sử, được nội hóa trong đời sống xã hội và duy trì bền vững qua thời gian. Điều này thể hiện ở sự kế thừa liên tục giữa các thế hệ, mức độ thẩm thấu của văn hóa vào phương thức tư duy, chuẩn mực ứng xử và đời sống xã hội, cũng như khả năng giữ gìn bản sắc trong quá trình hội nhập với thế giới. Một nền văn hóa có chiều sâu không chỉ bền vững trước biến động, mà còn có khả năng tự điều chỉnh và tái tạo để thích ứng với hoàn cảnh mới.

Khả năng thích ứng cũng là một thành tố quan trọng của tầm vóc văn hóa quốc gia. Đây là năng lực nhận diện, tiếp thu và chuyển hóa các tác động từ bên ngoài thành những điều chỉnh phù hợp bên trong, đồng thời vẫn giữ được các giá trị cốt lõi của dân tộc. Khả năng thích ứng văn hóa của một quốc gia có thể được xem xét trên bốn phương diện chủ yếu: năng lực nhận diện (khả năng hiểu đúng sự thay đổi của môi trường xung quanh); năng lực hấp thụ (khả năng lựa chọn, tiếp thu và ứng xử phù hợp với các yếu tố mới); năng lực chuyển hóa (khả năng biến các yếu tố bên ngoài thành bộ phận của văn hóa dân tộc); năng lực duy trì bản sắc (khả năng giữ vững giá trị cốt lõi, lợi ích và định hướng phát triển trong quá trình giao lưu, hội nhập văn hóa).

Tầm vóc văn hóa là khả năng lan tỏa các giá trị văn hóa ra bên ngoài. Đây là năng lực để các giá trị, biểu tượng và thực hành văn hóa vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, được tiếp nhận và tạo ảnh hưởng trong những không gian xã hội khác. Khả năng lan tỏa văn hóa của một quốc gia có thể được xem xét trên bốn phương diện chủ yếu: mức độ chuyển dịch - khả năng các yếu tố văn hóa được chuyển giao và thích ứng trong những bối cảnh khác nhau; mức độ phổ quát - khả năng tạo sự chia sẻ và đồng cảm đối với các giá trị chung; hiệu quả của các cơ chế truyền tải như giáo dục, truyền thông, công nghiệp văn hóa và nền tảng số; khả năng tái tạo ở bên ngoài - khả năng để các chủ thể khác tiếp nhận, vận dụng và phát triển giá trị văn hóa theo điều kiện cụ thể của họ.

Với cách tiếp cận đó, tầm vóc văn hóa của Việt Nam có thể được nhìn nhận trên một số phương diện chủ yếu sau:

Thứ nhất, về chiều sâu văn hóa, văn hóa Việt Nam có bề dày lịch sử lâu đời, được kế thừa và bồi đắp qua nhiều thế hệ trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước. Chiều sâu đó còn thể hiện ở mức độ thẩm thấu của giá trị văn hóa vào đời sống xã hội với những đặc trưng nổi bật như tinh thần cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, tính linh hoạt trong ứng xử và khả năng dung hợp yếu tố văn hóa tiếp thu từ bên ngoài.

Thứ hai, về khả năng thích ứng, văn hóa Việt Nam thể hiện rõ đặc trưng dung hợp và linh hoạt trong quá trình tiếp nhận cái mới. Việt Nam không lựa chọn cách tiếp cận phủ định cực đoan hay sao chép nguyên trạng các yếu tố bên ngoài, mà chủ yếu tiếp thu có chọn lọc và điều chỉnh phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Điều này góp phần hạn chế đứt gãy văn hóa, duy trì tính liên tục lịch sử và tạo sự ổn định xã hội trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế.

Người dân Brazil hứng khởi tham gia “Ngày Việt Nam tại Brazil 2024”_Ảnh: baochinhphu.vn 

Thứ ba, về khả năng lan tỏa, văn hóa Việt Nam tuy đã có sự hiện diện ngày càng rõ hơn trên trường quốc tế nhưng mức độ ảnh hưởng vẫn chưa thật sự tương xứng với tiềm năng và chiều sâu văn hóa dân tộc. Việt Nam có nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, song công nghiệp văn hóa, hệ sinh thái truyền tải và năng lực xây dựng “câu chuyện Việt Nam” trên không gian quốc tế vẫn còn hạn chế. Nói cách khác, Việt Nam không thiếu nguồn lực văn hóa, nhưng cần tiếp tục nâng cao năng lực truyền tải, quảng bá và chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực của "sức mạnh mềm" quốc gia.

Vị thế quốc gia và vị thế của Việt Nam

Theo một số trường phái lý luận quan hệ quốc tế, vị thế của một quốc gia thường được hiểu là vị trí hoặc thứ bậc tương đối của quốc gia đó trong khu vực và trên thế giới. Vị thế được xác lập bởi nhiều yếu tố như sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự; năng lực thể chế và mức độ ảnh hưởng tại các định chế quốc tế; cũng như sự tương tác và thừa nhận của các quốc gia khác. Ở Việt Nam, vị thế quốc gia thường được hiểu là uy tín, vai trò của quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Cố Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng, có 5 yếu tố cơ bản quyết định vị thế của một quốc gia, bao gồm: điều kiện tự nhiên, nhất là vị trí địa lý; yếu tố lịch sử và những đóng góp đối với sự phát triển của nhân loại; sức mạnh kinh tế; sức mạnh quân sự; đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại phù hợp với lòng dân và xu thế phát triển của thời đại(8). Vị thế quốc gia cũng được hiểu là “vị trí” trên bản đồ chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa,… trên bản đồ khu vực và thế giới(9). Tổng hợp lại, có thể hiểu vị thế quốc gia như sau:

Vị thế quốc gia là vị trí tương đối của một quốc gia trong hệ thống quốc tế, được xác lập thông qua sự kết hợp của bốn thành tố chủ yếu, bao gồm: sức mạnh tổng hợp quốc gia, vai trò của quốc gia trong khu vực và trên thế giới, uy tín quốc tế và mức độ ảnh hưởng đối với các quốc gia khác.

Sức mạnh tổng hợp quốc gia là nền tảng vật chất của vị thế quốc gia. Sức mạnh quốc gia được cấu thành từ sức mạnh cứng (kinh tế, quân sự, công nghệ, quy mô phát triển), sức mạnh mềm (lịch sử, văn hóa, mức độ hấp dẫn của quốc gia) cùng với sức mạnh thông minh (khả năng kết hợp, phát huy hiệu quả các nguồn lực) nhằm phục vụ mục tiêu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Vai trò của quốc gia phản ánh mức độ tham gia, đóng góp và tác động của quốc gia đó đối với các vấn đề khu vực và quốc tế. Vai trò này được thể hiện qua mức độ tham gia cơ chế hợp tác quốc tế, khả năng đóng góp sáng kiến, thúc đẩy đối thoại, hòa giải hoặc dẫn dắt trong một số lĩnh vực phù hợp, cũng như mức độ tác động đối với quá trình xử lý các vấn đề chung.

Uy tín quốc tế là mức độ quốc gia được cộng đồng quốc tế tin cậy, tôn trọng và đánh giá cao. Uy tín quốc tế thể hiện ở tính nhất quán và độ tin cậy của chính sách; hình ảnh của quốc gia như một đối tác có trách nhiệm, có tính xây dựng; cũng như sự coi trọng và thừa nhận của các quốc gia và các tổ chức quốc tế lớn.

Ảnh hưởng quốc tế là khả năng tác động đến quyết định, hành vi của các chủ thể khác hoặc tham gia định hình các quy tắc, chuẩn mực trong quan hệ quốc tế. Mức độ ảnh hưởng được thể hiện qua khả năng tạo tác động đối với lựa chọn của các bên liên quan, tham gia xây dựng “luật chơi” và từng bước tạo xu hướng trong một số lĩnh vực hợp tác quốc tế.

Theo đó, vị thế của Việt Nam hiện nay có thể được nhìn nhận trên một số phương diện chủ yếu sau:

Một là, Việt Nam đang từng bước khẳng định vị thế của một quốc gia tầm trung đang nổi lên. Việt Nam không phải là cường quốc, nhưng cũng không còn là một nước nghèo, yếu như trước đây. Với dân số hơn 100 triệu người, quy mô tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên 500 tỷ USD, tham gia hầu hết tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, đồng thời có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với nhiều quốc gia, trong đó có tất cả các nước lớn, Việt Nam đang ngày càng khẳng định vai trò và vị thế trong khu vực cũng như trên trường quốc tế.

Hai là, Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò của một quốc gia có khả năng kết nối và cân bằng quan hệ. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, Việt Nam duy trì được quan hệ ổn định với nhiều đối tác quan trọng, đồng thời giữ vững độc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại. Điều này tạo điều kiện để Việt Nam phát huy vai trò kết nối, thúc đẩy hợp tác và đóng góp tích cực hơn vào các tiến trình khu vực và quốc tế.

Ba là, vị thế của một đối tác tin cậy ngày càng được củng cố. Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam ngày càng được các đối tác coi trọng nhờ nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế, duy trì chính sách đối ngoại nhất quán, tham gia có trách nhiệm đối với công việc chung của khu vực và thế giới.

Bốn là, Việt Nam đang chuyển từ tham gia tích cực sang từng bước đóng góp vào quá trình định hình các cơ chế hợp tác và “luật chơi” quốc tế. Tuy nhiên, mức độ tham gia sâu vào quá trình xây dựng quy tắc, chuẩn mực quốc tế của Việt Nam vẫn còn hạn chế; khả năng đề xuất sáng kiến và tham gia định hình “luật chơi” tại các thể chế đa phương cần tiếp tục được nâng cao trong thời gian tới.

Một số định hướng phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước

“Tương xứng” cần được hiểu là phù hợp với điều kiện, tiềm lực và yêu cầu phát triển của đất nước; không thấp hơn thực tế nhưng cũng không phô trương hoặc vượt quá khả năng. Nếu coi tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế quốc gia là những nguồn lực nền tảng, thì phát triển đối ngoại tương xứng chính là quá trình chuyển hóa các nguồn lực đó thành năng lực và hành động đối ngoại cụ thể, bảo đảm đối ngoại vừa phản ánh đúng bản sắc, vị thế của đất nước, vừa phục vụ hiệu quả lợi ích quốc gia - dân tộc.

Phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc lịch sử đòi hỏi giữ vững bản lĩnh chiến lược, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; không để đất nước rơi vào thế bị động, lệ thuộc trong cạnh tranh giữa các nước lớn; đồng thời tận dụng hiệu quả các cơ hội từ môi trường quốc tế để phục vụ phát triển đất nước và đóng góp tích cực hơn cho hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu đối ngoại phải chủ động tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, xử lý linh hoạt những tác động từ bên ngoài trên cơ sở bản lĩnh và kinh nghiệm được tích lũy qua chiều dài lịch sử dân tộc.

Phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc văn hóa là làm cho bản sắc và các giá trị văn hóa Việt Nam trở thành nguồn lực của đối ngoại, thẩm thấu trong toàn bộ quá trình triển khai chính sách và xử lý quan hệ quốc tế. Điều này không chỉ thể hiện ở ngoại giao văn hóa, mà còn ở phương thức ứng xử, tinh thần đối thoại, khả năng tạo dựng niềm tin và việc thúc đẩy các giá trị chung như hòa bình, hợp tác, phát triển bền vững, tôn trọng lẫn nhau và bao trùm. Đây cũng là một yêu cầu quan trọng nhằm tăng cường sức mạnh mềm quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng toàn diện.

Phát triển đối ngoại tương xứng với vị thế quốc gia là tận dụng hiệu quả vị thế và uy tín quốc tế của đất nước để mở rộng không gian phát triển và nâng cao ảnh hưởng quốc tế của Việt Nam. Trong quan hệ song phương, cần phát huy vai trò của vị thế quốc gia như một đòn bẩy để đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững hơn. Trong quan hệ đa phương, cần chuyển mạnh từ tham gia tích cực sang chủ động đề xuất sáng kiến, đóng góp thực chất và từng bước tham gia định hình các cơ chế hợp tác, quy tắc và chuẩn mực quốc tế.

Từ cách tiếp cận đó, xin đề xuất một số định hướng chủ yếu sau:

Thứ nhất, trong khi tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, cần chủ động, tích cực trong công việc chung của khu vực và thế giới, đóng góp có trách nhiệm vào hòa bình, hợp tác và phát triển. Đồng thời, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược, quản trị rủi ro; không để bị lôi kéo vào cạnh tranh, đối đầu giữa các nước lớn; thể hiện rõ bản lĩnh trong xử lý các thách thức đối ngoại, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến an ninh và phát triển của đất nước.

Thứ hai, phát triển ngoại giao văn hóa, đẩy mạnh quảng bá giá trị, hình ảnh và “câu chuyện Việt Nam”; chú trọng khai thác nguồn lực văn hóa, lịch sử và bản sắc dân tộc để xây dựng phương thức truyền tải hiệu quả, góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết của thế giới về Việt Nam. Tiếp tục thúc đẩy phong cách đối ngoại linh hoạt, hòa hiếu nhưng kiên định, tăng cường lòng tin chiến lược với các đối tác; gắn kết chặt chẽ văn hóa với kinh tế, du lịch, công nghiệp sáng tạo và phát triển thương hiệu quốc gia nhằm phát huy sức mạnh mềm của đất nước.

Thứ ba, chuyển hóa vị thế quốc tế thành ảnh hưởng và lợi ích thực chất cho phát triển đất nước; đưa quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác lớn và đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu và được khai thác hiệu quả hơn phục vụ mục tiêu phát triển và bảo đảm an ninh quốc gia. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ đối ngoại song phương và đa phương theo hướng bổ trợ lẫn nhau; nâng cao vai trò và mức độ tham gia tại các thể chế đa phương, nhất là ASEAN và Liên hợp quốc; từng bước chuyển từ tham gia tích cực sang chủ động đề xuất sáng kiến, đóng góp vào quá trình xây dựng quy tắc, chuẩn mực trong những lĩnh vực mới mà Việt Nam có lợi thế và lợi ích.

Thứ tư, phát triển ngoại giao công nghệ, từng bước đưa ngoại giao công nghệ trở thành một trụ cột quan trọng của nền đối ngoại toàn diện, hiện đại; góp phần nâng cao hiệu quả của ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Đẩy mạnh thu hút công nghệ, tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao và nguồn lực đổi mới sáng tạo từ bên ngoài; thúc đẩy hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, dữ liệu, an ninh mạng và phát triển bền vững.

Thứ năm, đầu tư nguồn lực thích đáng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đối ngoại; tăng cường năng lực tư duy chiến lược, hiểu biết công nghệ và kỹ năng ngoại giao đa phương. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng làm công tác đối ngoại trên lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng - an ninh, kinh tế và văn hóa; phát huy vai trò của đối ngoại nhân dân, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, các cơ sở nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp trong thúc đẩy hợp tác quốc tế, kết nối tri thức, công nghệ và nguồn lực phát triển, tạo sức mạnh tổng hợp cho công tác đối ngoại trong giai đoạn mới.

Tựu trung, phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước là một định hướng chiến lược quan trọng. Để xứng đáng với tầm vóc lịch sử và chiều sâu văn hóa của dân tộc, đối ngoại Việt Nam cần tiếp tục đạt được những thành tựu có ý nghĩa đối với sự phát triển của đất nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Cùng với đó, phát huy mạnh mẽ các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, lan tỏa hình ảnh và bản sắc Việt Nam, qua đó góp phần gia tăng "sức mạnh mềm" quốc gia. Để tương xứng với vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao, đối ngoại cần tiếp tục phát huy hiệu quả vị thế của đất nước, chuyển hóa vị thế thành nguồn lực phục vụ phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, quan tâm đầu tư nguồn lực phù hợp cho công tác đối ngoại, cả về nhân lực và vật lực, nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, tham mưu chiến lược và tổ chức thực hiện, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn phát triển mới./.

-------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 381. Về ngữ nghĩa, “tầm vóc lịch sử”, “tầm vóc văn hóa” thường được sử dụng để nói về chiều sâu, giá trị và mức độ ảnh hưởng của một dân tộc; trong khi “vị thế” thường được dùng để chỉ vị trí và vai trò của quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Trong định hướng “phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước”, khái niệm “đất nước” được hiểu theo nghĩa quốc gia. Vì vậy, để thuận tiện trong quá trình phân tích, bài viết sử dụng thống nhất các khái niệm tầm vóc lịch sử, tầm vóc văn hóa và vị thế dưới góc độ quốc gia
(2) Lauren Ferry - Cleo O’Brien-Udry: “International status: Concept meets measurement” (Tạm dịch: Vị thế quốc tế: Một số vấn đề về khái niệm và đo lường), ngày 4-3-2022, https://cobrienudry.github.io/files/Status_011222.pdf
(3) Tetyana Deyneka - Olga Shkurupii - Kseniia Verhal - Nataliia Bazavluk: “Global status of countries: determination and interpretation” (Tạm dịch: Xác định và diễn giải vị thế toàn cầu của các quốc gia), Marketing and Management of Innovations, tháng 4-2019, https://mmi.sumdu.edu.ua/wp-content/uploads/mmi/volume-10-issue-4/17_A303-2019_%20Deyneka%20et%20al.pdf
(4) Xem: Joseph Nye: “Soft Power: The Means to Success in World Politics” (Tạm dịch:Quyền lực mềm: Phương thức đạt đến thành công trong nền chính trị thế), Belfercenter, ngày 4-5-2004, https://www.belfercenter.org/sites/default/files/pantheon_files/files/publication/joe_nye_wielding_soft_power.pdf
(5) Xem: Samuel Huntington: The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order (Tạm dịch: Sự va chạm giữa các nền văn minh và sự tái lập trật tự thế giới), Simon & Schuster, 1996
(6) “TOÀN VĂN: Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 21-5-2026, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-119260113133313565.htm
(7) Từ Thị Loan: “Phát huy sức mạnh mềm văn hóa để khẳng định tầm vóc dân tộc Việt Nam”, VOV, ngày 6-11-2025, https://vov.vn/van-hoa/phat-huy-suc-manh-mem-van-hoa-de-khang-dinh-tam-voc-dan-toc-viet-nam-post1243237.vov
(8) Xem: Hoa Nguyễn: “Vị thế Việt Nam trong cục diện mới của khu vực”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 12-12-2020, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-binh-luan/-/asset_publisher/DLIYi5AJyFzY/content/vi-the-viet-nam-trong-cuc-dien-moi-cua-khu-vuc
(9) An Nhi: “Vị thế quốc gia”, Công an nhân dân điện tử, ngày 27-8-2018, https://cand.vn/vi-the-quoc-gia-post488711.html