Quá trình phát triển, hoàn thiện nhận thức lý luận và tổng kết thực tiễn về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam qua các kỳ đại hội Đảng

TS Lại Lâm Anh - TS Lý Hoàng Mai
Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
21:19, ngày 19-06-2026

TCCS - Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình khách quan, gắn liền với xu thế toàn cầu hóa và phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng. Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế không chỉ là yêu cầu tất yếu để phát triển kinh tế, mà còn là lựa chọn chiến lược nhằm tranh thủ nguồn lực bên ngoài, nâng cao nội lực quốc gia, củng cố vị thế đất nước trong hệ thống kinh tế - chính trị toàn cầu. Trải qua các kỳ đại hội Đảng, nhận thức lý luận và tổng kết thực tiễn về hội nhập kinh tế quốc tế không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, thích ứng với yêu cầu của tình hình thế giới, khu vực.

Nhận thức lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế trong các văn kiện của Đảng

Hội nhập kinh tế quốc tế là một chủ trương, chiến lược hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta; là một bước chuyển tư duy mang tính đột phá chiến lược, đem lại cho đất nước điều kiện để phát triển và một vị thế chưa từng có so với giai đoạn trước đây. Tư duy, quan điểm và chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình nhận thức liên tục được bổ sung qua các kỳ đại hội và ngày càng được hoàn thiện để phù hợp với bối cảnh mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Trung tâm Thử nghiệm đường sắt Singapore trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới Singapore, ngày 30-5-2026_Ảnh: TTXVN

Kể từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta đề ra đường lối đổi mới. Tại thời điểm này, cách tiếp cận về hội nhập kinh tế quốc tế mới chỉ dừng lại ở việc “nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế; trước hết và chủ yếu là mở rộng quan hệ phân công, hợp tác toàn diện với Liên Xô, Lào và Campuchia, với các nước khác trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa”; và “Trong toàn bộ công tác kinh tế đối ngoại, khâu quan trọng nhất là đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu”(1).

Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta xác định “Mở rộng, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, thu hút các nguồn lực bên ngoài để phát huy mạnh mẽ các lợi thế và nguồn lực bên trong”(2). Đây là thời kỳ mà hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, buộc Việt Nam thay đổi tư duy và đường lối phát triển.

Tới Đại hội VIII (năm 1996), thuật ngữ “hội nhập” được đề cập nhiều lần trong Văn kiện của Đảng. Trong đó, Đảng ta xác định thực hiện “Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại”(3).

Tại Đại hội IX (năm 2001), Đảng ta đã khẳng định chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”; “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”(4).

Tư duy và đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của Đại hội X (năm 2006) được phát triển một bước khi đặt ra yêu cầu “Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất”; đồng thời, “Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững. Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế”(5).

Tới Đại hội XI (năm 2011), đường lối hội nhập quốc tế của Đảng đã có sự bổ sung, phát triển, Việt Nam không chỉ “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ”, mà còn “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(6). Việc xác định lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu trong chính sách đối ngoại, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện rõ định hướng nhất quán của Đảng trong việc hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc. Việc bổ sung thành tố lợi ích quốc gia, dân tộc thể hiện cách tiếp cận mới của Đảng ta trong định hướng đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Đại hội XII (năm 2016) của Đảng đã chỉ rõ mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế là thực hiện đầy đủ cam kết trong Cộng đồng ASEAN và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2016 - 2020 là “hội nhập kinh tế là trọng tâm”(7).

Văn kiện Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng vừa kế thừa, vừa phát triển nhận thức lý luận về hội nhập quốc tế, trong đó nhấn mạnh định hướng giai đoạn 2021 - 2030 là “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(8). So với các giai đoạn trước, Đại hội XIII đã phát triển và mở rộng nội hàm với chủ trương “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế” theo hướng “toàn diện, sâu rộng”, phản ánh bước tiến mới trong tư duy và định hướng hội nhập quốc tế của Đảng. Trên cơ sở đó, công tác đối ngoại được xác định phải hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả, qua đó tăng cường vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đại hội XIII đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (giai đoạn 2021 - 2030), đưa ra quan điểm về phát triển và hội nhập lên một tầm cao mới, theo đó Việt Nam cần “Xây dựng nền kinh tế tự chủ phải trên cơ sở làm chủ công nghệ và chủ động, tích cực hội nhập, đa dạng hóa thị trường, nâng cao khả năng thích ứng của nền kinh tế. Phải hình thành năng lực sản xuất quốc gia mới có tính tự chủ, tham gia hiệu quả, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng chống chịu hiệu quả trước các tác động lớn, bất thường từ bên ngoài”(9); cùng với đó “Nâng cao mức độ và chất lượng hội nhập quốc tế để mở rộng thị trường, tranh thủ nguồn vốn, công nghệ, kiến thức và kỹ năng quản lý; nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm”(10). Văn kiện Đại hội XIII chỉ rõ, Đảng và Nhà nước ta sẽ “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(11).

Tới Đại hội XIV, việc đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế được xác định là trọng yếu, thường xuyên. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước; đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương; đề cao, bảo vệ và phát huy vai trò của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; vai trò thành viên chủ động, tích cực, quan trọng và có trách nhiệm tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là cơ chế có tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước, như ASEAN, Liên hợp quốc, hợp tác tiểu vùng Mê Công, APEC...; phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể; chủ động tham gia xây dựng, định hình các thể chế đa phương.

Qua các kỳ đại hội, tư duy lý luận của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện theo hướng ngày càng toàn diện, chủ động và sâu rộng hơn. Từ nhận thức ban đầu về “mở cửa, hợp tác kinh tế với bên ngoài” trong thời kỳ Đổi mới, Đảng từng bước chuyển sang quan điểm “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, tiếp đó mở rộng thành “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”, xác định hội nhập “toàn diện, sâu rộng và hiệu quả”. Cùng với quốc phòng, an ninh, việc xác định đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, đưa đến cách nhìn mới về xác định tầm quan trọng ngày càng cao của nhiệm vụ đối ngoại, hội nhập quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh địa - chính trị, cạnh tranh kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt.

Quá trình trên phản ánh sự phát triển nhất quán trong tư duy chiến lược, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm nguyên tắc tối cao, kết hợp chặt chẽ giữa độc lập, tự chủ với hợp tác và hội nhập quốc tế, giữa phát huy nội lực với tranh thủ ngoại lực. Nhờ đó, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu.

Tổng kết thực tiễn về hội nhập kinh tế quốc tế

Về thành tựu

Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam không chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng cao, mà còn hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Trước đổi mới, nền kinh tế Việt Nam không chỉ chịu sự tàn phá bởi chiến tranh, mà còn chịu sự bao vây, cấm vận. Trước bối cảnh đó và từ kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn, tại Đại hội VI, Đảng ta quyết định thực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh hoạt động xuất, nhập khẩu. Đây chính là tiền đề cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, góp phần mang lại những thành tựu nổi bật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ nhất, kim ngạnh xuất, nhập khẩu của Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng, thặng dư cán cân thương mại ngày càng lớn.

Trước thời kỳ đổi mới, thương mại quốc tế của Việt Nam gần như chưa được triển khai đáng kể. Năm 1985, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người chỉ đạt 235,65 USD, thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác(12). Năm 1991, giá trị xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 2,09 tỷ USD thì tới năm 2024, con số này đã lên đến 405,53 tỷ USD (tăng gấp 194 lần). Kể từ năm 2016 tới nay, Việt Nam đã liên tục đạt thặng dư thương mại, đỉnh điểm là năm 2023, Việt Nam đã thặng dư lên tới 28,36 tỷ USD. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam tăng đều từ năm 1991 tới nay, tốc độ tăng trưởng thương mại bình quân đạt 17%/năm. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), năm 2024, Việt Nam là nước đứng thứ 21 trên thế giới và đứng đầu Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa (không kể hàng tái xuất).

Thứ hai, Việt Nam trở thành điểm đến tin cậy của nhà đầu tư quốc tế.

Giai đoạn trước Đại hội VI của Đảng, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam còn khiêm tốn. Tới Đại hội VII, nguồn vốn FDI vào Việt Nam vẫn còn ở mức rất thấp, chỉ đạt 0,43 tỷ USD với 152 dự án thì tới năm 2024, con số này đạt 25,35 tỷ USD với 3.375 dự án; tốc độ trung bình tăng vốn FDI đạt 16%/năm(13). Các quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam có thể kể đến, như Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ... Việt Nam đã thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư quy mô lớn từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó có các tập đoàn đa quốc gia, như Samsung, LG, Amkor, Intel,… Sự hiện diện và mở rộng đầu tư trên không chỉ góp phần gia tăng nguồn vốn FDI, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm, mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và từng bước thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ ba, Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tham gia ký kết nhiều FTA và trở thành thành viên tích cực của nhiều tổ chức kinh tế, tài chính khu vực và quốc tế.

Từ khi mở cửa nền kinh tế tới nay, Việt Nam từng bước bình thường hóa quan hệ với nhiều quốc gia trên thế giới, phá vỡ thế bao vây, cấm vận và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN (năm 1995), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC, năm 1998), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM, năm 1996), WTO (năm 2007) và có quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Kết quả đạt được góp phần củng cố và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển đất nước, đồng thời tăng cường tính chủ động và linh hoạt trong quan hệ đối ngoại, qua đó bảo đảm vững chắc độc lập, tự chủ, an ninh quốc gia và phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

Cho đến nay, Việt Nam đã trở thành đối tác chiến lược toàn diện với 14 quốc gia trên thế giới, trong đó nổi bật là Mỹ, Trung Quốc, Nga, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc. Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký kết 17 FTA; trong đó nổi bật là các FTA thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Các hiệp định này không chỉ mở ra thị trường rộng lớn trên toàn thế giới, mà còn đặt Việt Nam trước cơ hội và thách thức cần tiếp tục cải cách, đổi mới, hoàn thiện thể chế để nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Việt Nam đã chủ động tham gia và phát huy vai trò tại cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực quan trọng. Năm 2020, với vai trò là Chủ tịch ASEAN và là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam đã thể hiện tốt trách nhiệm điều phối, dẫn dắt, đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới. Với chính sách đối ngoại chủ động, tích cực và hiệu quả, vị thế của Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.

Thứ tư, thu nhập của người dân Việt Nam ngày càng tăng, đời sống nhân dân được cải thiện, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Năm 1986, theo số liệu từ báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam nằm trong nhóm nước có thu nhập trung bình thấp, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đạt khoảng 95 USD. Đến năm 2023, Việt Nam chính thức đứng vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình cao, với thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 4.180 USD(14).

Có thể khẳng định, việc triển khai nhất quán đường lối đổi mới, mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, mức độ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, kim ngạch xuất khẩu liên tục gia tăng. Việt Nam từng bước trở thành điểm đến tin cậy của nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời vị thế và uy tín quốc gia trên trường quốc tế được nâng cao rõ rệt, góp phần cải thiện đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người dân.

Một số vấn đề đặt ra trong bối cảnh mới

Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới và mở cửa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế và khu vực đang biến đổi nhanh chóng, nhiều khó khăn, thách thức mới đặt ra, thể hiện trên một số phương diện cụ thể như sau:

Một là, quá trình toàn cầu hóa trên thế giới đang suy giảm, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch gia tăng, cạnh tranh nước lớn ngày càng gay gắt. Điều này có tác động lớn đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thế giới với nguy cơ chịu thuế quan cao và áp lực cạnh tranh ngày càng lớn.

Hai là, xu hướng dịch chuyển đầu tư quốc tế và đứt gãy chuỗi cung ứng. Về cơ bản, quá trình dịch chuyển đầu tư quốc tế có thể dẫn tới đứt gãy chuỗi cung ứng và làm gia tăng chi phí sản xuất. Quá trình cạnh tranh và cơ cấu lại trên thế giới đặt ra thách thức về việc Việt Nam có thể tham gia một cách hiệu quả vào chuỗi sản xuất toàn cầu mà không rơi vào thế phải “chọn phe”.

Ba là, tình hình chính trị, an ninh trên thế giới đang có chiều hướng bất ổn, nhiều cuộc xung đột diễn ra trên thế giới, nguy cơ xung đột ở nhiều nơi gia tăng,... Bối cảnh đó đặt Việt Nam trước nhiều thách thức trong việc cân bằng và duy trì quan hệ đối ngoại với các bên liên quan trong xung đột.

Bốn là, nhiều vấn đề mới đặt ra đối với Việt Nam. Trước hết, sức ép “chọn bên” có xu hướng gia tăng trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn ngày càng gay gắt, buộc Việt Nam thận trọng trong việc cân bằng quan hệ đối ngoại để bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Đồng thời, yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, trở nên cấp thiết hơn khi mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng sâu sắc. Ngoài ra, nguy cơ tụt hậu và thách thức phát triển hiện hữu khi tiến trình hội nhập quốc tế, tham gia toàn cầu hóa và khu vực hóa của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh môi trường quốc tế tiềm ẩn nhiều bất ổn và diễn biến khó lường, có thể làm thu hẹp dư địa tăng trưởng và gia tăng rủi ro đối với nền kinh tế.

Sau 40 năm đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao vị thế quốc gia của Việt Nam. Trong giai đoạn mới, Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, “về hội nhập quốc tế trong tình hình mới” nhấn mạnh định hướng chiến lược mới cho tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và hiệu quả hơn, gắn chặt với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, để phát huy hơn nữa các thành tựu đạt được và chủ động ứng phó với những khó khăn, thách thức mới, cần tập trung triển khai đồng bộ một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh cải cách, hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế, chính sách thúc đẩy sản xuất, thu hút đầu tư, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - đây cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Nghị quyết số 59-NQ/TW đặt ra :“Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế phục vụ xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, đồi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số”; đẩy mạnh mở rộng và nâng cấp kết cấu hạ tầng khu công nghiệp để tận dụng tối đa cơ hội tiếp nhận nguồn đầu tư tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu, chuỗi cung ứng hàng công nghệ cao bởi Việt Nam có vị trí chiến lược thuận lợi, thu hút sự quan tâm và tác động mạnh mẽ từ các nước phát triển.

 Công ty cổ phần Vinatex Hồng Lĩnh (tỉnh Hà Tĩnh) mỗi năm sản xuất hơn 7.000 tấn sản phẩm sợi, đạt doanh thu hơn 500 tỷ đồng, góp phần bảo đảm thu nhập ổn định cho người lao động_Ảnh:  TTXVN

Thứ hai, tình hình biến động của thế giới là thách thức nhưng cũng là cơ hội cho Việt Nam khẳng định trở thành điểm sáng trong tiếp nhận dòng vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh thu hút FDI, trong đó tập trung ưu tiên doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, ít thâm hụt lao động và ít sử dụng tài nguyên. Có thể xem đây là cơ hội phát triển đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Kinh nghiệm từ một số quốc gia, vùng lãnh thổ cho thấy, cần thận trọng trong việc sàng lọc và quản lý dòng vốn FDI, nhất là dự án có điều khoản về việc quốc gia sở tại  đóng vai trò như một điểm trung chuyển trong cạnh tranh thương mại, bởi điều này có thể gây tác động tiêu cực đến uy tín và lợi ích thương mại quốc tế của đất nước.

Thứ ba, tiếp tục thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh doanh hiệu quả, bền vững, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ tư, thống nhất về tư duy, nâng cao nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới. Kết quả nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, hiện nay quá trình toàn cầu hóa không phải đang suy giảm, mà chỉ đang trong quá trình sắp xếp lại, phát triển theo chủ nghĩa đa phương kiểu mới. Do đó, Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc tế trên cơ sở kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời duy trì thế cân bằng chiến lược trong quan hệ quốc tế, bảo đảm tính chính đáng và hợp pháp trong hợp tác phát triển. Theo đó, việc xác định lợi ích cần đặt trong tầm nhìn dài hạn, tránh chạy theo lợi ích trước mắt có thể phương hại đến mục tiêu phát triển bền vững và lợi ích chiến lược lâu dài của đất nước.

Thứ năm, trong bối cảnh khu vực và thế giới xuất hiện nhiều yếu tố bất ổn, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng và cơ cấu lại đầu tư toàn cầu mở ra cơ hội thuận lợi để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn đối với doanh nghiệp và tập đoàn đa quốc gia trong hoạt động hợp tác, đầu tư và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả cơ hội này, Việt Nam cần đặc biệt coi trọng việc duy trì ổn định chính trị - xã hội, xem đây là điều kiện tiên quyết và là nền tảng quan trọng hàng đầu bảo đảm môi trường đầu tư an toàn, tin cậy và phát triển bền vững.

Có thể khẳng định, qua các kỳ đại hội, tư duy lý luận của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế đã phát triển từ “mở cửa” sang “chủ động hội nhập” và hiện nay là “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu…”. Sự phát triển đó không chỉ phản ánh quá trình thích ứng với bối cảnh quốc tế, mà còn thể hiện cách tiếp cận theo hướng bảo đảm độc lập, tự chủ trong hoạch định đường lối phát triển. Trong thời gian tới, hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục là động lực quan trọng để Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, thu nhập cao./.

------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 81, 82
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 119
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 172
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 24, 42
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 39 - 40, 112
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 83 - 84
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 154
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 331 - 332
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 216
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 283
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 331
(12) Xem thêm: Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Khánh Linh: “Đổi mới kinh tế, tạo đột phá tăng trưởng trong Kỷ nguyên mới, ngày 17-1-2025, https://vneconomy.vn/doi-moi-kinh-te-tao-dot-pha-tang-truong-trong-ky-nguyen-moi.htm
(13) Đức Trung: “Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài năm 2024”, Trang điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 6-1-2025, https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2025-1-6/Tinh-hinh-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-nam-2024-5ihdt0.aspx
(14) Việt Nam bứt phá, chính thức vào nhóm thu nhập trung bình cao sau 15 năm, Trang điện tử Trung tâm WTO và Hội nhập, ngày 10-7-2024, https://trungtamwto.vn/chuyen-de/26805-viet-nam-but-pha-chinh-thuc-vao-nhom-thu-nhap-trung-binh-cao-sau-15-nam