Luật Bảo hiểm xã hội đang phát huy hiệu lực

Bùi Ngọc Thanh
14:08, ngày 13-08-2008

Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006. Đây là đạo luật có hiệu lực thi hành khá đặc biệt với 3 thời điểm hiệu lực khác nhau: từ 01-01-2007 cho các quy định của luật nói chung; từ 01-01-2008 cho chế độ bảo hiểm tự nguyện và từ 01-01-2009 cho chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

Luật gồm 11 chương, 141 điều, trong đó nội dung cốt lõi nhất (cũng là tư tưởng chỉ đạo then chốt nhất) gồm 3 vấn đề: Mở rộng diện đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội; Tăng quy mô của Quỹ; Thực hiện tốt hơn các chế độ đối với người lao động tham gia bảo hiểm.
 
1- Một số kết quả bước đầu

Đối với việc mở rộng diện đối tượng tham gia bảo hiểm

Chỉ một năm sau khi Luật có hiệu lực, số đối tượng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội đã tăng từ 6.750.723 người năm 2006 lên 8.148.123 người năm 2007 (tăng 20,7%). Trong đó, lao động ở các cơ quan, tổ chức hành chính, sự nghiệp tăng 4%; doanh nghiệp dân doanh tăng 25,7%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,3%; doanh nghiệp nhà nước chỉ tăng có 2%. Như vậy, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội tăng thêm trong năm 2007 chủ yếu thuộc khu vực ngoài quốc doanh, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và lực lượng vũ trang. Sáu tháng đầu năm 2008, số người thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội ước tính tăng thêm 1,21 triệu người. Tính chung lại, số người có quan hệ lao động (có hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên) tham gia bảo hiểm xã hội đến giữa năm nay đã lên 9,35 triệu người; trong đó, số mới tăng thêm từ khi Luật có hiệu lực thi hành là hơn 2,6 triệu người. Đây là mức tăng là khá nhanh, thể hiện nội dung các chế độ bảo hiểm mới có sự “hấp dẫn” hơn.

Tăng quy mô Quỹ Bảo hiểm xã hội

Theo Điều 92 của Luật, Quỹ Bảo hiểm xã hội được hình thành từ nguồn đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, tiền sinh lời của các hoạt động đầu tư của Quỹ, sự hỗ trợ của Nhà nước và nguồn khác. Nếu trong một thời kỳ dài trước đây, nguồn Quỹ để thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội chủ yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm, thì đến nay, nguồn Quỹ này chủ yếu do các bên tham gia bảo hiểm xã hội đóng góp. Năm 2004 thu bảo hiểm xã hội mới đạt 10.704 tỉ đồng, năm 2005 đạt 14.491 tỉ đồng, năm 2006 đạt khoảng 19.000 tỉ đồng, đến năm 2007 đạt tới 23.000 tỉ đồng và 6 tháng đầu năm 2008: trên 12.495 tỉ đồng. Quỹ tăng nhanh có nguyên nhân cơ bản là do đối tượng tham gia bảo hiểm tăng nhanh theo tư tưởng chỉ đạo của Luật. Nếu trước đây, Quỹ Bảo hiểm xã hội chỉ tồn tại trên danh nghĩa thì đến nay Quỹ tồn tại thực, với số kết dư khá lớn. Cuối năm 2007, số kết dư đã lên tới 68.000 tỉ đồng. Khoản tiền sinh lời từ phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư theo quy định của Luật cũng khá lớn. Năm 2004 mới chỉ thu lời được 2.604 tỉ đồng, đến năm 2007 - năm đầu tiên thi hành Luật Bảo hiểm xã hội, khoản tiền sinh lời của Quỹ đã lên tới 4.536 tỉ đồng... Có thể nói đến nay, về cơ bản, Quỹ Bảo hiểm xã hội đã đủ sức bảo đảm cho các khoản chi theo chế độ mới cho người lao động theo quy định của Luật, về cơ bản đã xóa bỏ được chế độ bao cấp từ ngân sách nhà nước đối với bảo hiểm xã hội.

Thực hiện các chế độ đối với người lao động

Các chế độ bảo hiểm xã hội được quy định tại Điều 4 của Luật, bao gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hưu trí, tử tuất và dưỡng sức. Khi đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tăng lên, Quỹ Bảo hiểm xã hội trên đà phát triển thì đối tượng được chi bảo hiểm xã hội cũng sẽ mở rộng. Đó là một tất yếu.

Trong năm 2007, các tỉnh, thành phố trong cả nước đã chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội nói trên với số kinh phí lên tới 33.951 tỉ đồng, trong đó chi cho chế độ hưu trí là 27.702 tỉ đồng, chiếm 81.5% tổng chi. Trong năm có thêm 120.315 người hưởng chế độ hàng tháng, 208.710 người hưởng chế độ một lần, hơn 2 triệu người hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, 750.000 lượt người hưởng trợ cấp dưỡng sức và 35.000 người qua đời được trợ cấp mai táng phí. Sáu tháng đầu năm 2008, số người hưởng các chế độ tăng nhanh. Có 51.604 người được hưởng bảo hiểm xã hội hàng tháng, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2007, trong đó hưởng chế độ hưu trí là 41.061 người, 173.849 người hưởng trợ cấp một lần, tăng 145% so với cùng kỳ năm 2007 (số này tăng cao là do số người nghỉ việc chờ giải quyết chế độ trong năm 2007 sang năm 2008 mới đủ thời gian); 1,3 triệu người được hưởng trợ cấp ốm đau; gần 200.000 lượt người được trợ cấp thai sản và 150.000 người được hưởng trợ cấp dưỡng sức...

Nhìn chung, Luật Bảo hiểm xã hội đã quy định cụ thể về điều kiện hưởng và mức hưởng của người lao động trên cơ sở thời gian đóng bảo hiểm xã hội, tuổi đời, mức suy giảm khả năng lao động, tính chất công việc và điều kiện làm việc của người lao động. Các chế độ bảo hiểm đã được cải tiến, hoàn thiện và được quy định rõ ràng, phù hợp với tình hình thực tiễn hơn trước đây. Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã xử lý khá kịp thời các chế độ, chính sách theo các quy định của luật.

2- Những vấn đề cần được xem xét, “tháo gỡ” sớm trong quá trình thực hiện Luật

Trong khâu tổ chức thực hiện Luật, mặc dù hệ thống bảo hiểm xã hội từ trung ương đến địa phương, các ngành, các cấp đã nỗ lực tuyên truyền, vận động thực hiện luật nhưng cho đến nay cũng mới chỉ có 70% số người có quan hệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội. Trong số 30% lao động chưa tham gia, chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hợp tác xã. Nguyên nhân của sự việc này thuộc về cả hai phía (người lao động và người sử dụng lao động). Nhiều người lao động chỉ lo cuộc sống trước mắt mà chưa tính đến cuộc sống mai sau, hơn nữa, thu nhập lại không cao nên họ phải “ưu tiên” cho các khoản chi để bảo đảm cuộc sống hiện tại nên chưa đóng bảo hiểm xã hội.
 
Bên cạnh đó, nhiều chủ doanh nghiệp (người sử dụng lao động) còn có biểu hiện trốn tránh đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động như việc không ký kết hợp đồng lao động hoặc chỉ ký hợp đồng dưới 3 tháng trở xuống và nói là đã trả vào tiền lương hằng tháng cho công nhân. Hay việc một số doanh nghiệp có ký kết hợp đồng lao động nhưng dây dưa, nợ đọng. Chỉ riêng năm 2007, trên phạm vi cả nước, một số doanh nghiệp còn nợ tới 1.200 tỉ đồng tiền bảo hiểm xã hội. Tình hình đó, đòi hỏi việc chỉ đạo thực hiện phải “rốt ráo” hơn, trong đó phải xem xét, sửa đổi nội dung và mức phạt vi phạm hành chính theo hướng truy thu, yêu cầu nộp đủ các khoản nợ đọng, tiếp đó là phạt với mức đủ sức răn đe vi phạm chứ không chỉ nộp phạt tối đa 20 triệu đồng là xong như hiện nay. Ngoài ra còn phải nộp thêm một khoản ít nhất bằng lãi suất ngân hàng đối với số tiền nợ đọng.

Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực từ 01-01-2007 nhưng cho đến nay, các văn bản hướng dẫn chưa đủ, chưa đồng bộ; một số nội dung hướng dẫn chưa sát với luật, chưa phù hợp với thực tiễn, có ảnh hưởng đến chất lượng triển khai thực hiện luật (luật có 141 điều thì có hơn 30 điều với hơn 40 vấn đề phải được hướng dẫn cụ thể mới có thể thi hành được), nhưng đến nay mới có 5 Nghị định của Chính phủ, 13 Thông tư và Thông tư liên tịch của các Bộ, ngành, hữu quan hướng dẫn hơn 20 vấn đề. Để tiếp tục triển khai thực hiện thì Chính phủ, các bộ, ngành phải nhanh chóng hướng dẫn tiếp một nửa số vấn đề còn nợ đọng. Trong đó, đáng quan tâm là phải tiếp tục hướng dẫn đầy đủ các vấn đề về bảo hiểm xã hội tự nguyện (có hiệu lực thi hành từ 01-01-2008) và khẩn trương hướng dẫn thi hành bảo hiểm thất nghiệp (sẽ có hiệu lực thi hành vào ngày 01-01-2009).

Cần tiếp tục tuyên truyền Luật tới tận từng người lao động rằng con người có lúc khoẻ mạnh, nhưng biết đâu cũng sẽ có lúc ốm đau; sống và làm việc hôm nay phải nghĩ đến ngày mai, không thể duy trì mãi cách nghĩ “tay vo, miệng lũm”. Tham gia bảo hiểm xã hội là tích luỹ một khoản tiền để phòng khi ốm đau, để một khi đã bước ra khỏi quá trình lao động thì mỗi người hoàn toàn có thể chủ động được cuộc sống bình thường của mình. Đối với người sử dụng lao động, đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ cho người lao động (theo luật định) là thể hiện trách nhiệm cao cả của mình, là biểu hiện cách làm ăn đúng đắn, nghiêm chỉnh và trung thực của của bản thân đối với xã hội./.