Phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong bảo vệ quyền con người và xây dựng quốc gia hùng cường
TCCS - Văn hóa và con người là trung tâm, mục tiêu và động lực của sự phát triển bền vững. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược và chuyển đổi số toàn diện, Đảng và Nhà nước ta khẳng định, phát triển đất nước phải lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần, lấy con người làm trung tâm chủ thể sáng tạo, bảo vệ quyền con người, góp phần hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển thu nhập cao vào năm 2045.
Văn hóa và con người Việt Nam - nền tảng của phát triển bền vững
Văn hóa là khái niệm phức hợp, đa chiều, được hiểu là hệ thống biểu tượng và ý nghĩa do con người sáng tạo và truyền tải, định hình cách nhìn nhận và hành xử trong xã hội(1). UNESCO bổ sung văn hóa bao gồm các đặc điểm tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm mà con người thu nhận với tư cách thành viên xã hội(2). Văn hóa là yếu tố cấu thành bản sắc dân tộc đồng thời là “sức mạnh mềm” giúp quốc gia nâng cao vị thế trong thời đại toàn cầu hóa(3). Con người là chủ thể trung tâm của hoạt động xã hội và phát triển, là người sáng tạo giá trị vật chất và tinh thần qua lao động(4). Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước(5). Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và con người thể hiện ở việc văn hóa tạo môi trường, khung giá trị cho sự phát triển toàn diện của con người, đồng thời con người là chủ thể sáng tạo, bảo vệ và phát huy văn hóa. Trong phát triển bền vững, phát huy văn hóa và con người chính là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, bao gồm quyền tiếp cận tri thức, quyền sáng tạo và quyền phát triển cá nhân trong môi trường bình đẳng.
Với hàng nghìn năm lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam đã tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Con người là mục tiêu, là động lực của sự nghiệp cách mạng”(6). Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Đảng ta xác định văn hóa là “nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước”(7). Sự kết hợp giữa bản sắc văn hóa đặc trưng và tinh thần sáng tạo, cần cù của con người Việt Nam đã giúp đất nước vượt qua nhiều thử thách, xây dựng nền tảng cho phát triển bền vững trong thời đại mới. Văn hóa và con người không chỉ giữ vai trò then chốt trong việc bảo vệ chủ quyền, độc lập mà còn là sức mạnh mềm nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa(8). Chính sự kế thừa và phát huy truyền thống ấy sẽ tiếp tục là nền tảng để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển thịnh vượng vào giữa thế kỷ XXI.
Thứ nhất, văn hóa được xác định là “kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam”(9). Văn hóa không chỉ là kết tinh của lịch sử và bản sắc dân tộc, mà còn giữ vai trò định hướng tư tưởng, đạo đức, lối sống, hành vi xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong môi trường toàn cầu hóa, bản sắc văn hoá là điều kiện tiên quyết cho sự ổn định và phát triển để định vị quốc gia, củng cố sự thống nhất trong đa dạng.
Thứ hai, con người được khẳng định là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của mọi chiến lược phát triển. Từ các văn kiện đại hội Đảng đến Hiến pháp năm 2013, quan điểm “phát triển vì con người, do con người và lấy con người làm trung tâm” được xác lập là nguyên lý cốt lõi của mô hình phát triển hiện đại, nhân văn(10). Truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, yêu hòa bình, tinh thần hiếu học, sáng tạo, đoàn kết là những giá trị bền vững của con người Việt Nam, là nguồn lực giúp đất nước vượt qua thử thách và vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Thứ ba, phát triển văn hóa và con người đồng nghĩa với việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong đó, cần nhấn mạnh ba nhóm quyền cơ bản: quyền tiếp cận tri thức và đời sống văn hóa, quyền sáng tạo và thụ hưởng sáng tạo, quyền phát triển toàn diện trong một môi trường khai phóng, công bằng và nhân văn(11). Đầu tư cho văn hóa và con người là đầu tư cho tương lai của đất nước, qua đó tạo nền tảng bền vững để bảo đảm quyền con người một cách thực chất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia bằng “sức mạnh mềm” và giá trị bản sắc.
Bảo vệ quyền con người - trụ cột của chiến lược phát triển quốc gia
Trong chiến lược phát triển của Việt Nam, quyền con người được đặt ở vị trí trung tâm, xuyên suốt trong mọi lĩnh vực: từ giáo dục, y tế, lao động, công nghệ, an sinh xã hội đến chuyển đổi số,... Đây không chỉ là một cam kết pháp lý quốc tế, mà còn là lựa chọn chiến lược thể hiện bản chất nhân văn của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân”.
Việt Nam đã đạt được những bước tiến rõ rệt trong bảo đảm quyền con người, được ghi nhận bởi các tổ chức quốc tế. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm mạnh, hệ thống bảo hiểm y tế bao phủ toàn dân, tuổi thọ trung bình và chất lượng sống được nâng cao. Giáo dục phổ cập mở rộng, bình đẳng giới tiến triển rõ nét, các nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật được bảo vệ tốt hơn. Chỉ số phát triển con người (HDI) và thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng cho thấy thành tựu cụ thể trong việc bảo đảm quyền phát triển.
Trên trường quốc tế, Việt Nam là thành viên tích cực của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nghiêm túc thực hiện các công ước quốc tế quan trọng về quyền con người như ICCPR, ICESCR, CRC, CEDAW, CAT... Đồng thời, hệ thống pháp luật trong nước cũng không ngừng được cập nhật và hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập, tiêu biểu như: Luật Trẻ em, Luật Bình đẳng giới, Luật An toàn vệ sinh lao động, Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi), Luật Việc làm (sửa đổi)… đã nhấn mạnh bảo vệ quyền lợi người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, Việt Nam chủ động trong công tác đối ngoại và truyền thông chiến lược, làm rõ các thông tin sai lệch về nhân quyền, đồng thời lan tỏa hình ảnh một quốc gia nhân văn, hiện đại, hội nhập, đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển. Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tạo nên “sức mạnhmềm”, góp phần củng cố vị thế quốc tế, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định, vững chắc để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường vào năm 2045.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số toàn diện đang mở ra cơ hội mang tính lịch sử để Việt Nam vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”, từng bước vươn lên trở thành quốc gia phát triển có bản sắc và tầm ảnh hưởng toàn cầu. Với tư cách là chủ thể sáng tạo, là trung tâm của mọi chính sách, con người Việt Nam đang trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng.
Thứ nhất, với tầm nhìn chiến lược lấy con người là trọng tâm của hiện đại hóa đất nước, Đảng ta khẳng định rõ: “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số”(12). Tuyên bố này không chỉ thể hiện cam kết phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, mà còn khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển bền vững. Trong đó, phát triển con người gắn liền với việc bồi dưỡng các giá trị văn hóa, đạo đức và bản lĩnh dân tộc, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới trên nền tảng độc lập, tự chủ và giàu bản sắc.
Việc triển khai chương trình chuyển đổi số quốc gia gắn với “phổ cập kỹ năng số” cho thanh niên, người lao động không chỉ là giải pháp công nghệ, mà còn là hành động cụ thể nhằm bảo đảm quyền tiếp cận tri thức số và giảm bất bình đẳng trong cơ hội phát triển.
Thứ hai, con người trong thời đại số đứng trước nhiều yêu cầu phát triển mới. Trước hết, việc ứngdụng công nghệ vào giáo dục, y tế, sản xuất và quản trị nhà nước, giúp nâng cao năng suất, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và thúc đẩy học tập suốt đời. Bên cạnh đó, đào tạo kỹ năng số, tư duy phản biện, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng thích ứng trở nên cấp thiết trước những biến động toàn cầu như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, xung đột công nghệ. Phát triển kinh tế số và kinh tế sáng tạo đặt ra yêu cầuchuyển mô hình tăng trưởng từ tài nguyên sang tri thức và bản sắc, trong đó con người là trung tâm sản xuất giá trị gia tăng, từ trí tuệ, đổi mới và di sản văn hóa. Một số doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đang từng bước chuyển từ gia công sang làm chủ công nghệ lõi (AI, dữ liệu lớn, phần mềm lõi), đồng thời đầu tư vào kỹ năng nhân lực số, tham gia ngày càng sâu vào nền kinh tế tri thức thế giới.
Thứ ba, một quốc gia lớn mạnh là nơi con người được bảo đảm quyền phát triển toàn diện. Trong thế kỷ XXI, sức mạnh quốc gia không còn được đo lường chỉ bằng quy mô GDP, GNI hay tiềm lực quốc phòng, mà phải bao gồm năng lực trao quyền cho con người được sống trong tự do, an toàn, hạnh phúc, được phát triển năng lực, được cống hiến và khẳng định giá trị bản thân. Điều này đòi hỏi sự đầu tư nhất quán vào hệ thống giáo dục khai phóng, y tế toàn dân, chính sách lao động công bằng và một môi trường sống thúc đẩy sáng tạo.
Chiến lược phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên số không chỉ là chính sách xã hội, mà là một lựa chọn chiến lược, mang tính quyết định đối với thành công của quá trình hiện đại hóa và hội nhập. Đây là cơ hội vàng để Việt Nam kiến tạo một xã hội tri thức, công bằng và bao trùm, nơi “không ai bị bỏ lại phía sau” và mỗi người đều có cơ hội phát triển.
Từ nền tảng văn hóa - con người đến khát vọng Việt Nam trở thành cường quốc
Dấu mốc 100 năm thành lập nước năm 2045 không chỉ đặt mục tiêu về tăng trưởng kinh tế hay thu nhập đầu người, mà còn khẳng tầm nhìn chiến lược về một Việt Nam phát triển toàn diện: có thu nhập cao, xã hội nhân văn, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế.
Thứ nhất, văn hóa là hệ điều tiết cho phát triển bền vững. Văn hóa không chỉ là “nền tảng tinh thần của xã hội” mà còn là “hệ điều tiết” tinh thần quốc gia, định hướng và cân bằng sự phát triển. Một nền văn hóa hiện đại, nhân văn, giàu bản sắc sẽ là bệ phóng để Việt Nam hội nhập sâu rộng mà không hòa tan, khẳng định giá trị riêng trong thế giới đa dạng.
Thứ hai, con người là động lực chủ lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Con người Việt Nam trong kỷ nguyên số cần được phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, năng lực số, tư duy toàn cầu và tinh thần khai phóng. Đây chính là lực lượng nòng cốt thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, quyền con người là thước đo tiến bộ và mục tiêu phát triển. Để phát triển bền vững, quyền con người không thể chỉ dừng lại ở nguyên tắc pháp lý mà cần được thể chế hóa sâu rộng trong mọi chính sách.
Thứ tư, văn hóa, con người là “sức mạnh mềm” chiến lược của Việt Nam. Trong cạnh tranh toàn cầu, “sức mạnh mềm” đến từ văn hóa và con người ngày càng trở thành lợi thế chiến lược. Việt Nam cần định vị hình ảnh một quốc gia nhân văn, hiện đại, có bản lĩnh và bản sắc riêng, vươn lên từ nội lực dân tộc. Đó là con đường đi ra thế giới một cách tự tin, với hành trang là bản sắc Việt.
Để phát huy vai trò của văn hóa và con người trong bảo vệ quyền con người và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045, cần thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp sau:
Một là, xây dựng và phát huy hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam thời đại mới. Tiếp tục triển khai hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Đảng về phát triển văn hóa, xây dựng con người. Khơi dậy và lan tỏa các giá trị cốt lõi: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, cần cù, sáng tạo, khát vọng phát triển,... Đẩy mạnh truyền thông, giáo dục văn hóa, đạo đức, lịch sử dân tộc trong gia đình, nhà trường và xã hội.
Thứ hai, đặt con người vào trung tâm mọi chính sách phát triển. Mọi chiến lược, quy hoạch, chính sách từ Trung ương đến địa phương cần lấy mục tiêu nâng cao chất lượng sống, phát triển con người làm trọng tâm. Thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế, lao động, nhà ở, môi trường sống và quyền tiếp cận thông tin… Hoàn thiện khung pháp lý bảo vệ quyền con người theo chuẩn mực quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thích ứng kỷ nguyên số. Tập trung đầu tư cho giáo dục toàn diện, đào tạo kỹ năng số, tư duy toàn cầu, đổi mới sáng tạo, kỹ năng mềm và năng lực thích ứng. Xây dựng hệ sinh thái học tập suốt đời, gắn kết đào tạo, nghiên cứu, sản xuất, thị trường. Thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, y tế, dịch vụ công và quản trị xã hội để rút ngắn khoảng cách vùng miền.
Thứ tư, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người gắn với hội nhập quốc tế. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Chủ động đối thoại, cung cấp thông tin minh bạch, phản bác các luận điệu xuyên tạc, khẳng định hình ảnh quốc gia nhân văn, hiện đại. Tăng cường vai trò của công tác đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân trong thúc đẩy hợp tác nhân quyền, văn hóa, giáo dục, chuyển đổi số.
Thứ năm, huy động sức mạnh toàn xã hội trong phát triển văn hóa và con người. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, giới trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nhân, truyền thông, cộng đồng và mỗi người dân trong xây dựng đời sống văn hóa mới. Đổi mới cách tiếp cận, quản lý và đầu tư văn hóa theo hướng xã hội hóa, khuyến khích sáng tạo, bảo tồn di sản và phát triển công nghiệp văn hóa. Xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh, chủ động bảo vệ quyền con người trong không gian mạng.
Trong mọi thời kỳ lịch sử, sức mạnh nội sinh từ văn hóa và con người Việt Nam luôn là yếu tố quyết định giúp đất nước vượt qua thử thách, gìn giữ độc lập, hòa bình và phát triển bền vững. Ngày nay, bảo vệ quyền con người không chỉ là việc thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế, mà còn là một giải pháp phát triển nội tại, góp phần nâng cao chất lượng thể chế, củng cố niềm tin xã hội, mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ công và thúc đẩy sự phát triển toàn diện cho mỗi cá nhân, đặc biệt là các nhóm yếu thế./.
------------------------
(1) Clifford Geertz: The Interpretation of Cultures (Tạm dịch: Giải thích các nền văn hóa), Basic Books, 1973
(2) Xem: UNESCO: “Convention Concerning the Protection of the World Cultural and Natural Heritage” (Tạm dịch: Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới), UNESCO, 1972, https://whc.unesco.org/en/conventiontext/
(3) Joseph S. Nye Jr.: Soft Power: The Means to Success in World Politics (Tạm dịch: Quyền lực mềm: Phương thức để thành công trong nền chính trị thế giới), Public Affairs, 1990
(4) Karl Marx: Economic and Philosophic Manuscripts (Tạm dịch: Bản thảo Kinh tế và Triết học), 1844
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1965, t. 2
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1965, t. 4
(7) Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
(8) Joseph S. Nye Jr.: Soft Power: The Means to Success in World Politics (Tạm dịch: Quyền lực mềm: Phương thức để thành công trong nền chính trị thế giới), Public Affairs, 1990, tr. 5
(9) Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị “Về phát triển văn hóa Việt Nam”
(10) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 28-11-2013, của Quốc hội, điều 3, điều 14
(11) Amartya Sen: Development as Freedom (Tạm dịch: Phát triển là quyền tự do), Knopf, 1999
(12) Xem: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, ngày 6-2-2026, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1213702/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang.aspx
Nghiên cứu cơ bản và sứ mệnh phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn chất lượng cao  (10/03/2026)
- Nâng cao tính nhân dân của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn mới
- Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong kỷ nguyên phát triển của dân tộc
- Nâng cao hiệu quả thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”*
- Nâng cao hiệu quả thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”*
- Sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân - “Điểm tựa” vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm