Ngày 21-08-2008, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo: “Đánh giá vai trò, năng lực của các tổ chức hội, hiệp hội, khuyến ngư trong lĩnh vực quản lý chất lượng, kinh doanh, tiếp thị thủy sản và nhu cầu đào tạo của các tổ chức này” do Dự án hợp phần quản lý chất lượng sau thu hoạch và xúc tiến thị trường (POSMA) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, và Chương trình hỗ trợ ngành thủy sản giai đoạn 2 (DANIDA/FSPS II) đồng tổ chức.
 
Đây là hội thảo thứ hai dành cho khu vực trung Trung bộ và miền Bắc, kế tiếp hội thảo thứ nhất dành cho các tỉnh Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long đã được tổ chức tại thành phố Cần Thơ trước đó. Đại biểu tham dự hội thảo là các chuyên gia, các nhà quản lý trong ngành và đại diện các hội, hiệp hội, trung tâm khuyến ngư của các địa phương miền Trung và miền Bắc.

Thủy sản là một ngành mũi nhọn kinh tế của Việt Nam trong quá trình mở cửa kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Trong những năm qua, mặt hàng thủy, hải sản Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, khẳng định nhiều thương hiệu có uy tín lớn trên thị trường thế giới, nhất là thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản và sắp tới là thị trường Nga.

Vấn đề đặt ra hiện nay là, tuy tiềm năng nước mặn và lao động nông nghiệp Việt Nam còn rất dồi dào, nhưng chưa được khai thác triệt để hiệu quả vì phần đông các hộ gia đình nuôi trồng và đánh bắt hiện chưa được tiếp cận nhiều tới các tiêu chuẩn chất lượng, cũng như thông tin thị trường. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (VASEP) là tổ chức rất mạnh về tầm ảnh hưởng trong việc tiếp cận thị trường quốc tế, nhưng được đánh giá chỉ dành riêng cho “người giàu”, tức là cho khối các doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu lớn.
 
Số hộ nuôi trồng thủy sản nhỏ lẻ tuy yếu, nhưng số lượng lại rất đông, thường là các hộ nghèo, yếu thế, nên thường bị thua thiệt, khó tiếp cận thị trường thu mua, chế biến, xuất khẩu. Trong khi đó, hệ thống khuyến nông, khuyến ngư phân bố theo ngành dọc và rộng khắp các địa phương, vùng miền, với hàng vạn khuyến nông, khuyến ngư viên và cộng tác viên đến từng xã, thôn, bản thì chưa phát huy hiệu quả; hàng ngàn hội và hiệp hội nghề cá vẫn đang trong tình trạng yếu kém, số tổ chức phát huy tốt chức năng nhiệm vụ, làm lợi cho các hội viên còn ít. Bởi vậy, nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ các hộ gia đình nghèo, yếu thế trong việc tiếp cận kiến thức, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, kỹ thuật nuôi trồng thủy sản còn bị hạn chế, chưa phát huy hiệu quả và hiệu lực... Đặc biệt là các mạch thông tin giữa hộ nuôi với quy hoạch vùng nguyên liệu, hộ nuôi với thông tin thị trường và liên kết, với các doanh nghiệp chế biến còn quá lỏng lẻo.
 
Sự khuyến khích liên kết “bốn nhà” trong ngành thủy sản còn yếu, nhiều lúc nhiều nơi còn bỏ trống và tách biệt, lỏng lẻo, có “liên” mà thực chất vẫn chưa “kết”. Bởi vậy, nguyên liệu thủy sản phục vụ chế biến xuất khẩu chưa ổn định cả về số lượng và chất lượng, lúc thừa làm hộ nuôi điêu đứng, lúc thiếu thì các doanh nghiệp khó khăn; chủng loại hàng hóa còn nghèo nàn. Không ít hộ nuôi và vùng nuôi gặp nhiều khó khăn trong việc tìm thị trường tiêu thụ. Trong khi đó với uy tín xuất khẩu hiện nay, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản đang rất bức xúc trước nhu cầu nhập khẩu hàng tỉ USD thủy sản nguyên liệu để chế biến - xuất khẩu nhằm giữ uy tín với khách hàng và thị trường. Nhiều loại nguyên liệu VASEP đang có nhu cầu nhập khẩu để chế biến - xuất khẩu có thể nuôi trong nước, nhưng nhiều trung tâm khuyến ngư vẫn chưa tiếp cận được những thông tin đó, hoặc có nơi biết thì không xin được kinh phí để triển khai các biện pháp khuyến ngư thích hợp để phát triển nguyên liệu thủy sản...

Một vấn đề lớn đang đặt ra, Việt Nam có nhiều hệ thống tổ chức ngành dọc khá mạnh, như VASEP, các trung tâm khuyến ngư, hội nghề cá, nhưng chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, thương hiệu của các mặt hàng thủy còn rất yếu, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Từ thực trạng trên các ý kiến tại hội thảo đã tập trung:
- Đóng góp xây dựng cho bản báo cáo điều tra tổng thể 9 tỉnh trọng điểm, đại diện cho các địa phương cả nước, gồm: Quảng Ninh, Sơn La, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Bình Định, Đắc Lắc, Bến Tre, An Giang, Cà Mau về vấn đề nêu trên.

- Bàn các biện pháp nâng cao hơn nữa vai trò và năng lực của các tổ chức khuyến ngư, các hội và hiệp hội trong việc đào tạo, hỗ trợ kiến thức về lĩnh vực thủy sản, nhất là tiêu chuẩn chất lượng, bảo quản sau thu hoạch, an toàn vệ sinh thực phẩm và các kiến thức về thương mại thị trường, hướng tới các hộ sản xuất nghèo, yếu thế trên tất cả các vùng miền của cả nước, nhất là vùng cao, vùng sâu và vùng xa.

- Đề xuất những nội dung cụ thể cần tiến hành đào tạo trong thời gian tới, như kỹ năng: tiếp thị và xúc tiến thương mại; tiếp xúc và làm việc với ngư dân của cán bộ khuyến ngư; quản lý cộng đồng; đào tạo chuyên sâu về nuôi và chế biến một số mặt hàng thủy sản truyền thống, kỹ thuật bảo quản thủy sản sau thu hoạch,...

Về cách thức đào tạo, các đại biểu tham dự nhấn mạnh đến kỹ thuật truyền đạt, xác định sát thực các chuyên đề, chú trọng các khóa đào tạo ngắn ngày, tăng cường các công cụ trực quan và các cuộc tập huấn, hội thảo đầu bờ; nếu có điều kiện thì tăng cường thêm các hình thức tham quan, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm...

- Đề xuất nghiên cứu việc hình thành một trung tâm học tập và thông tin cấp vùng; tận dụng những tiềm lực và điều kiện hiện có của trung tâm khuyến ngư; hỗ trợ để hiệp hội đóng vai trò tích cực hơn nữa; thị trường hóa một số hoạt động khuyến ngư; hỗ trợ hình thành các mối liên kết, hợp tác giữa trung tâm khuyến ngư, hiệp hội với các đơn vị nghiên cứu và các tổ chức xã hội; tổ chức một khóa tập huấn, đào tạo về các kỹ năng, kiến thức điều hành và quản lý hội đối với những người đang công tác tại các tổ chức này./.