Bác Hồ và Bác Tôn trong những năm tháng đầu tiên của phong trào thi đua yêu nước
Lịch sử cách mạng Việt Nam sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công đã ghi lại nhiều sự kiện hoạt động sôi nổi của Tôn Đức Thắng, một chiến sĩ cộng sản kiên cường vừa từ ngục tù Côn Đảo trở về, nhất là trong lĩnh vực thi đua yêu nước.
Ngày 15-10-1945, Xứ ủy Nam Bộ họp tại Mỹ Tho đã bầu Tôn Đức Thắng làm Xứ ủy viên, phụ trách Ủy ban kháng chiến, kiêm chỉ huy các lực lượng vũ trang Nam Bộ. Tháng 12 năm đó, Xứ ủy họp mở rộng ở Đức Hòa (Long An) quyết định thành lập Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và thành lập các khu 7, 8, 9 ở Nam Bộ; ông được giao phụ trách công tác tổ chức và hậu cần.
Ngày 6-1-1946, Tôn Đức Thắng được nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn bầu làm đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của nước ta. Với tài năng và uy tín của mình, tháng 12-1946, ông được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh điều động ra Hà Nội công tác ở Trung ương. Cuối tháng 3-1946, tại Bắc Bộ phủ, lần đầu tiên Bác Tôn gặp Bác Hồ tại buổi gặp mặt thân mật đoàn đại biểu miền Nam ra Bắc công tác. Giữa tháng 4-1946, đồng chí Tôn Đức Thắng được cử làm Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn đi thăm thân thiện nước Pháp.
“Đoàn kết, cẩn thận; làm cho người Pháp hiểu ta, để gây tình hữu nghị giữa hai dân tộc” là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà đồng chí Tôn Đức Thắng và các thành viên trong đoàn luôn quán triệt trước lúc lên đường và trong cả chuyến công tác ngoại giao chính thức đầu tiên dưới chính quyền cách mạng non trẻ”(1).
Theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 29-5-1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) chính thức được thành lập. Sự hiện diện của các nhân vật có tên tuổi đã minh chứng cho ý nghĩa đại đoàn kết và tầm quan trọng của tổ chức này trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Hội trưởng - cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhân sĩ có danh vọng; Phó Hội trưởng - đồng chí Tôn Đức Thắng, nhà cách mạng lão thành có uy tín lớn; Tổng thư ký - ông Cù Huy Cận, một trí thức có tên tuổi; Ủyy viên Trung ương Hội là các ông Trần Huy Liệu, Phạm Ngọc Thạch, Ngô Tử Hạ, Nguyễn Trường Long - những trí thức, nhân sĩ cả nước đều biết tiếng. Chủ tịch Hồ Chí Minh được suy tôn là Hội trưởng danh dự.
Trong các ngày từ 28-10 đến 9-11-1946, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà khoá I đã tiến hành kỳ họp thứ hai tại Nhà hát lớn Thành phố Hà Nội. Tại kỳ họp này, đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Phát biểu tại Lễ bế mạc kỳ họp, đồng chí Tôn Đức Thắng đã nhấn mạnh: “Nếu ai có thành kiến của giai cấp, của đảng phái, của tôn giáo thì đến trong phòng họp này… cũng đã để lòng nghe theo một tiếng gọi cao cả và thiêng liêng hơn cả bấy nhiêu tiếng gọi lúc thường: Tiếng gọi của Tổ quốc. Cái không khí ấy đã hoàn toàn phản chiếu được tình trạng chung của đất nước…, tình trạng thống nhất ý chí và hành động”(2).
Sau kỳ họp Quốc hội, theo thư giới thiệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Tôn Đức Thắng thực hiện chuyến công tác khảo sát một số địa phương thuộc tỉnh Hà Đông và Sơn Tây cũ để chuẩn bị việc di rời các cơ quan trung ương khi tình thế bất trắc. Đồng chí đã tham dự một số cuộc họp của Tỉnh ủy Phú Thọ và Tỉnh ủy Sơn Tây, thăm và nói chuyện với bà con một số địa phương về tình hình, nhiệm vụ trước mắt. Đồng chí đã phân tích để mọi người nhận thức được: cuộc kháng chiến tất yếu sẽ nổ ra, bởi âm mưu của thực dân Pháp là quyết thiết lập lại chế độ thống trị thuộc địa trên đất nước ta một lần nữa. Muốn đi tới thắng lợi, dân tộc ta sẽ phải trải qua cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ. Vì vậy, tất cả mọi người, toàn dân tộc phải đoàn kết, phải quyết tâm, phải cố gắng thi đua tăng gia sản xuất để thực hiện tự lực cánh sinh.
Tháng 4-1947, sau khi di chuyển các cơ quan trung ương lên căn cứ địa Việt Bắc, trong một chuyến công tác, cụ Huỳnh Thúc Kháng - Hội trưởng Hội Liên Việt, Bộ trưởng Bộ Nội vụ lâm bệnh và từ trần. Đồng chí Tôn Đức Thắng được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ cử làm quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đến tháng 1-1948, đồng chí được cử bổ sung làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Chúng tôi điểm lại một số sự kiện lớn, những cương vị trọng trách trong cuộc đời và hoạt động của đồng chí Tôn Đức Thắng trước thời điểm Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc (27-3-1948), là nhằm làm rõ hơn ý nghĩa và tầm quan trọng của cương vị Trưởng ban vận động thi đua ái quốc Trung ương, mà đồng chí được Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó khi phong trào thi đua ái quốc chính thức phát động.
Ngày 27-3-1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc với mục đích “thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công; thi đua ái quốc là vì nước, vì nòi”. Chỉ thị chỉ rõ nội dung của thi đua, hướng dẫn việc lập “kế hoạch thi đua, việc tổ chức, đôn đốc kiểm tra và thưởng, phạt thi đua”.
Ngày 11-6-1948, nhân dịp kỷ niệm 1000 ngày kháng chiến toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi chính thức phát động Cuộc vận động thi đua ái quốc. Lời kêu gọi của Người chỉ rõ:
“Mục đích của thi đua ái quốc là
Diệt giặc đói
Diệt giặc dốt
Diệt giặc ngoại xâm
Cách làm là: dựa vào
Lực lượng của dân
Tinh thần của dân
Để gây hạnh phúc cho dân” (3)
Cần nhắc lại là, trước đó 10 ngày, ngày 1-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 196/SL về việc thành lập Ban Chỉ đạo Cuộc vận động Thi đua ái quốc Trung ương, cử đồng chí Tôn Đức Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội, quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ làm Trưởng ban. Ông Nguyễn Xiển, Tổng Thư ký Đảng Xã hội Việt Nam làm Tổng Thư ký (4). Trong thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên mời đồng chí Tôn Đức Thắng đến nơi ở của mình và hai Bác đã nhiều lần đàm đạo những công việc cụ thể nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc.
Tháng 11-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng chí Tôn Đức Thắng một bức thư khá dài. Lời mở đầu bức thư đã thể hiện sự kính trọng của Người đối với người bạn chiến đấu của mình:
“Kính gửi cụ Tôn Đức Thắng - Trưởng ban Trung uơng vận động Thi đua ái quốc.
Thưa Cụ,… tôi rất đồng ý với Cụ là cần phải có cán bộ được huấn luyện hẳn hoi”.
Và Người gợi ý: “Theo thiển ý của tôi, chúng ta rất cần huấn luyện cán bộ, mà huấn luyện cán bộ xã trước hết. Rồi lựa chọn những cán bộ có năng lực nhất, đưa dần lên làm cán bộ huyện, tỉnh và khu…
- Cần có một chương trình thiết thực.
- Cần có giáo viên có kinh nghiệm.
- Cán bộ chuyên nghiệp của Ban thi đua Trung ương lúc đầu chỉ mười người là đủ.
- Thời gian huấn luyện độ mười ngày là đủ. Sau tiếp tục mở ban khác.
- Vừa học vừa làm.
- Mỗi ban huấn luyện phải có cán bộ những làng lân cận đến dự”(5).
Để đồng chí Tôn Đức Thắng tiện tham khảo và triển khai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lập sơ đồ một ví dụ việc triển khai cho một huyện (gồm 64 làng hoặc xã), những bước tiến hành cụ thể, những việc cần làm - như Người đã viết, đó là “vừa học vừa làm”, tiến hành kiểu “vết dầu loang”.
Về việc khen thưởng thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh gợi ý: “Mỗi làng, mỗi nhà máy, mỗi ngành, mỗi huyện sẽ cử ra người khá nhất… Những người làm được kết quả đặc biệt, thì khen thưởng ngay. Những người này sẽ được bằng khen, gọi là Chiến sĩ thi đua.
Mỗi tỉnh, mỗi khu mỗi ngành trong toàn khu hoặc toàn quốc cử những người giỏi nhất. Những người này sẽ được bằng khen, gọi là Anh hùng thi đua, do Chính phủ cấp.
Những Chiến sĩ và Anh hùng thi đua sẽ được tôn trọng đặc biệt ở các địa phương; quyền lợi này sẽ do Ban trung ương thi đua và Bộ Nội vụ đề nghị lên Chính phủ quyết định”(6).
Trong các ngày từ 21-1 đến 3-2-1950, Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng đã họp tại Việt Bắc. Hội nghị được tiến hành trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn chuẩn bị để chuyển mạnh sang Tổng phản công. Báo cáo tại Hội nghị, Tổng Bí thư Trường Chinh nhận định: “Muốn chuyển sang phản công, phải tăng cường lực lượng… Thi đua ái quốc làm một cách tổng động viên rất thần tình, nhưng chỉ là động viên bằng lối khuyến khích. Nó cần phải được bổ khuyết bằng một sắc lệnh tổng động viên.
Thật thế, động viên bằng thi đua ái quốc thì ai ái quốc nhiều, thi đua nhiều; ai ái quốc ít thì thi đua ít, không thi đua ái quốc cũng chẳng ai bảo sao”.
Với phương châm và khẩu hiệu: Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, phong trào thi đua cũng phải nhằm thực hiện khẩu hiệu đó, phải kết hợp phong trào thi đua nhằm huy động lực lượng vật chất và tinh thần tự giác với thực hiện Tổng động viên bằng sắc lệnh của chính quyền Nhà nước để “Tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực theo nguyên tắc dân chủ” (7).
Vì bận đi thăm (bí mật) Trung Quốc và Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh không dự được Hội nghị, Người đã gửi thư, góp ý kiến để Hội nghị thảo luận. Người bày tỏ: “Tôi tin tưởng rằng, với tinh thần thi đua ái quốc của đồng bào ta, với lòng kiên quyết đánh giặc của tướng sĩ ta, với những cố gắng và hy sinh của đồng chí ta, năm nay sẽ là năm thắng lợi”(8).
Tại Hội nghị này, đồng chí Tôn Đức Thắng - với cương vị quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Trưởng ban chỉ đạo Thi đua ái quốc Trung ương đã đọc bản tham luận: Đẩy mạnh thi đua, nhằm đúng hướng chính. Nhất trí cao với quan điểm của Đảng, tinh thần quán triệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Tôn Đức Thắng đã thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm của phong trào thi đua ái quốc. Đồng chí nói rõ: Trong phong trào “quan niệm thi đua chưa được rõ ràng và thống nhất, do đó sinh ra những sai lầm về tổ chức và lãnh đạo… thi đua không nhằm đúng hướng chính nên để hao phí nhân lực, vật lực, tài lực và thì giờ vào nhiều công việc chưa cần thiết”. Quan điểm của đồng chí là phải coi thi đua “là một thuật động viên, một phương thức lãnh đạo để thực hiện những công việc hàng ngày với một mức độ cao hơn, trong một thời gian ngắn hơn. Theo chỉ đạo của Trung ương Đảng, thi đua trong giai đoạn mới là “nhằm đúng hướng chính, động viên nhân lực, vật lực, tài lực để chuyển mạnh sang Tổng phản công”(9).
Một sự kiện có lẽ còn ít người biết do một số vị lão thành cách mạng kể lại, trong dịp này, nhân dịp Bác Tôn 60 tuổi, Bác Hồ đã tặng Bác Tôn một tên mới: Tôn Tất Thắng(10).
1. Xem: báo Sự thật, số 32, ngày 20-4-1946
Phùng Chí Kiên và Ban chỉ huy ở ngoài Đảng Cộng sản Đông Dương  (21/08/2008)
Tôn Đức Thắng với Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên những năm 1926-1929  (20/08/2008)
Tiếp tay... đô-la hóa nền kinh tế  (20/08/2008)
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
- Gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
- Phát triển mô hình tòa soạn hội tụ đa nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí Việt Nam hiện nay
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm