TCCS - Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa biển, đảo nói riêng có vị trí, vai trò quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa vùng, miền, cải thiện sinh kế cho người dân, phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Công tác này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị mà trước hết là tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nghe trình bày về tình hình triển khai các dự án trọng điểm tại đảo Hòn Khoai, Cà Mau ngày 19-11-2025_Ảnh: qdnd

1- Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa (DSVH) biển, đảo là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, đảo nước ta, nhất là trong thế kỷ XXI - “Thế kỷ của đại dương”. Việt Nam có nhiều tiềm năng, nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội với 3.260km bờ biển (đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới), có vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia rộng hơn 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền), hơn 3.000 hòn đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, với 21/34 tỉnh, thành phố có biển, chiếm 42% diện tích đất liền và 45% dân số cả nước, có nhiều tiềm năng về tài nguyên, khoáng sản, hải sản... Biển, đảo Việt Nam vì thế không chỉ là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc mà còn là “môi trường sống, là bộ phận hợp thành, góp phần tạo dựng, định diện bản sắc văn hóa và tư duy của người Việt”(1). DSVH biển, đảo trở thành nguồn tài nguyên, nguồn lực quan trọng đóng góp vào sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Trước những chuyển biến nhanh chóng của cục diện thế giới, khu vực; “tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, trong đó có Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột”(2), việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các vùng, miền một cách hợp lý, hiệu quả, công bằng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh được xem là nhân tố quyết định để giá trị văn hóa biển, đảo thực sự trở thành nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo cơ sở pháp lý nhằm khẳng định chủ quyền biển, đảo của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2- Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta luôn đề cao, coi trọng việc phát huy các giá trị biển, đảo trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh. “Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc đã có nhiều quyết sách định hướng quan trọng, khẳng định vai trò to lớn của di sản văn hóa trong sự nghiệp phát triển đất nước”(3). Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 6-5-1993, của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển” nhấn mạnh: Vị trí và đặc điểm địa lý của nước ta cùng với bối cảnh phức tạp trong vùng vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái biển; phấn đấu trở thành một nước mạnh về kinh tế biển. “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” tiếp tục nhấn mạnh: Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển...; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trước những yêu cầu của bối cảnh mới, Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII “Về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” nhấn mạnh: Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn... Phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng bảo đảm hài hòa giữa các hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, giữa bảo tồn và phát triển. Giữ gìn giá trị, phát huy truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa biển đi đôi với xây dựng xã hội gắn kết, thân thiện với biển... “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030” xác định nhiệm vụ tập trung đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi các di tích quốc gia đặc biệt, di sản thế giới, di tích lịch sử - văn hóa có giá trị tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy DSVH với phát triển du lịch. “Chương trình bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản văn hóa Việt Nam, giai đoạn 2021 - 2025” nhấn mạnh mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị các di sản, các công trình có giá trị tiêu biểu quốc gia, có ý nghĩa chính trị, văn hóa, lịch sử, truyền thống đặc sắc, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam vì sự phát triển bền vững đất nước. “Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050” nhấn mạnh mục tiêu tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả, công bằng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh;... các giá trị di sản thiên nhiên, DSVH biển được bảo tồn, phát huy, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển. Có thể thấy, những chủ trương, quyết sách trên về bảo tồn, phát huy các giá trị DSVH nói chung và DSVH biển, đảo nói riêng đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH biển, đảo đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

Vùng biển, đảo Việt Nam hiện có hơn 1.000 DSVH; 6/8 các khu dự trữ sinh quyển; nhiều vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên nổi tiếng cùng hệ thống các di tích khảo cổ vô cùng phong phú, minh chứng cho nền văn hóa lâu đời, như văn hóa Đông Sơn ở Bắc Bộ, văn hóa Sa Huỳnh ở Trung Bộ, văn hóa Óc Eo ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Riêng vùng ven biển nước ta tập trung nhiều di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên cùng hệ thống di tích lịch sử - văn hóa phong phú...; nổi bật là những bộ sách sử, những châu bản, mộc bản, hải đồ..., trong đó có Mộc bản và Châu bản triều Nguyễn - những Di sản tư liệu thế giới quý giá khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bên cạnh các DSVH vật thể, hệ thống DSVH phi vật thể vùng biển, đảo Việt Nam cũng vô cùng phong phú với các lễ hội dân gian của cư dân miền biển, như lễ hội đền Cửa Ông, lễ hội Tiên Công, lễ hội đình Trà Cổ, lễ hội đình Quan Lạn, lễ hội Cầu ngư, lễ cá Ông, lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, lễ hội Tháp Bà Ponagar, lễ hội Nghinh Ông, lễ hội cúng biển,... cùng các tín ngưỡng, phong tục, tập quán, nghệ thuật trình diễn, trò chơi dân gian, nghề và làng nghề thủ công truyền thống...

Trên cơ sở đó, thời gian qua, các cấp ủy, chính quyền ở nhiều địa phương, nhất là các tỉnh, thành phố có biển, đảo đã đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH biển, đảo thông qua các chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể, tạo nhiều chuyển biến tích cực. Công tác xếp hạng di tích được các địa phương thực hiện theo đúng quy trình; hồ sơ xếp hạng di tích bước đầu bảo đảm tính pháp lý, khoa học, các di tích được xếp hạng đúng với giá trị hiện còn lưu giữ. Công tác sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày hiện vật được chú trọng theo hướng nâng cao chất lượng hoạt động của các bảo tàng, đổi mới nội dung, hình thức, đa dạng hóa các hoạt động, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác bảo tồn, bảo tàng. Một số tỉnh, thành phố tiêu biểu trên cả nước đã thực hiện khá hiệu quả công tác này, tiêu biểu như tỉnh Quảng Ninh với 632 di tích, trong đó có 8 di tích quốc gia đặc biệt, 56 di tích cấp quốc gia, 101 di tích cấp tỉnh và hơn 400 di tích đã được kiểm kê; 362 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có nhiều di sản nổi tiếng thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Thành phố Đà Nẵng đã xếp hạng các di tích lịch sử - văn hóa, khảo sát, nghiên cứu tình hình quản lý, sử dụng, phát huy giá trị di tích; đánh giá tình trạng di tích bị xuống cấp, bị xâm hại nhằm đề xuất hướng giải quyết; tổ chức nghiên cứu, khảo sát, nhận diện, xác định giá trị, lập hồ sơ xếp hạng di tích đối với các công trình, địa điểm đủ tiêu chí xếp hạng. Đến nay, thành phố Đà Nẵng đã kiểm kê được trên 300 di tích các loại, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt, 17 di tích cấp quốc gia, 65 di tích cấp thành phố, 39 di tích nằm trong Danh mục kiểm kê và gần 100 công trình văn hóa có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học. Trung tâm Quản lý di sản văn hóa Đà Nẵng phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành điền dã, điều tra khảo cổ học tại các địa bàn; kiểm kê các cổ vật, di vật trong các di tích lịch sử - văn hóa, trên cơ sở đó lập hồ sơ khoa học cho 278 di vật, cổ vật, thống kê được 263 sắc phong đang lưu giữ tại 22 đình làng, nhà thờ tộc, 70 văn bia, trong đó nhiều nhất ở các di tích ven biển, như khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, khu di tích lịch sử - văn hóa đình Mân Quang... Ở tỉnh Khánh Hòa, đến nay có 4 DSVH được UNESCO ghi danh (Khu dự trữ sinh quyển thế giới Núi Chúa, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm, Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ), 5 bảo vật quốc gia; 3 di tích quốc gia đặc biệt, 28 di tích lịch sử - văn hóa, di tích danh lam thắng cảnh cấp quốc gia, 241 di tích cấp tỉnh, 12 DSVH phi vật thể quốc gia (Nghệ thuật làm gốm của người Chăm, Lễ hội Katê, Lễ hội Rija Nagar, Lễ hội Tháp Bà Ponagar, Lễ hội Cầu Ngư, Festival Biển Nha Trang, Lễ hội Nho và Vang, Ngày hội văn hóa Raglai, Tri thức khai thác và chế biến trầm hương). Ở tỉnh Quảng Ngãi, đến nay có 259 di tích, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt; 32 di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia; 163 di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh; 62 di tích có quyết định bảo vệ và đăng ký bảo vệ. Riêng đặc khu Lý Sơn có khoảng 60 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó 21 di tích đã xếp hạng bao gồm 1 DSVH phi vật thể cấp quốc gia (Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa), 4 di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng cấp quốc gia, 16 di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

Song song với bảo tồn các DSVH biển, đảo, các địa phương trên cả nước đặc biệt quan tâm đến việc phát huy nguồn lực từ DSVH biển, đảo trong phát triển du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Theo ước tính, ngành du lịch biển Việt Nam hằng năm thu hút khoảng 15 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 3 triệu khách quốc tế, bình quân đạt 13%/năm. Nhiều địa phương có biển trên cả nước, tiêu biểu như Quảng Ninh, Đà Nẵng, Khánh Hòa,... đã khai thác hiệu quả các giá trị DSVH biển, đảo phục vụ phát triển du lịch, tạo sinh kế cho người dân địa phương. Tại tỉnh Quảng Ninh, tính riêng trong năm 2025, Vịnh Hạ Long đón khoảng 3,5 triệu lượt khách, trong đó có trên 2 triệu khách quốc tế, thu phí tham quan khoảng 1.000 tỷ đồng, đóng góp cho sự tăng trưởng của địa phương(4). Ở Đà Nẵng, với hệ thống sản phẩm du lịch mới đa dạng, đặc sắc với các sản phẩm đặc trưng, phong phú, như du lịch biển, đảo, du lịch di sản văn hóa, du lịch sinh thái - nông nghiệp - cộng đồng, du lịch lễ hội - sự kiện, MICE, du lịch ẩm thực, du lịch golf... đã thu hút đông đảo khách tham quan, trải nghiệm. Tính chung giai đoạn 2021 - 2025, tổng lượt khách đến Đà Nẵng ước đạt 54,4 triệu lượt, tăng bình quân 32,2%/năm, trong đó khách quốc tế ước đạt 20,1 triệu lượt, tăng 59,6%/năm, khách nội địa đạt 34,3 triệu lượt, tăng 22,3%/năm. Doanh thu từ du lịch giai đoạn 2021 - 2025 của thành phố ước đạt 195,4 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 27,7%/năm(5). Ở Khánh Hòa, “doanh thu du lịch giai đoạn 2016 - 2020 tăng bình quân 5%/năm; tổng số khách du lịch đến Khánh Hòa giai đoạn 2016 - 2020 đạt 26,39 triệu lượt, khách quốc tế giai đoạn 2016 - 2020 đạt 11,7 triệu lượt, tăng 9,9%/năm(6); giai đoạn 2022 - 2024 tổng lượng khách du lịch Khánh Hòa đạt 20.732.100 lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 7.463.900 lượt khách, khách nội địa đạt 13.268.200 lượt khách; tổng thu từ du lịch của Khánh Hòa giai đoạn 2022 - 2024 đạt hơn 101 nghìn tỷ đồng(7)...

Bên cạnh đó, công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH biển, đảo gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đảo được chú trọng. Các tỉnh, thành có biển, đảo trên cả nước đã triển khai đồng bộ các biện pháp công tác, tăng cường kiểm tra, tuần tra, nắm chắc tình hình trên từng địa bàn; bước đầu đã gắn được phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH nói chung, văn hóa biển, đảo nói riêng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: nhiều vấn đề lý luận chưa được làm rõ về “bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, văn hóa trong chính trị, kinh tế...”(8); văn hóa biển, đảo chưa được các cấp, các ngành nhận thức một cách sâu sắc và chưa được quan tâm một cách đầy đủ tương xứng với kinh tế biển và an ninh quốc gia trên biển; chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh, “sức mạnh mềm” trong hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh từ biển, giàu từ biển. Vì thế, việc gắn kết mục tiêu phát triển kinh tế biển, bảo đảm quốc phòng - an ninh trên biển với bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH biển, đảo trong các chương trình, kế hoạch, đề án,... còn mờ nhạt. Ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH biển, đảo của một bộ phận cư dân chưa đầy đủ, chưa trở thành nhu cầu tự thân với tư cách là chủ thể sáng tạo và thực hành DSVH. Công tác quản lý DSVH biển, đảo ở một số địa phương còn chồng chéo, thiếu kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong quá trình phát triển kinh tế di sản, dẫn tới tình trạng tăng trưởng “nóng”, xâm hại di sản, khiến di sản bị xuống cấp trầm trọng. Bên cạnh đó, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền còn chậm đổi mới, chưa phù hợp yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới, nhất là sau khi địa giới hành chính có sự điều chỉnh. Tư duy, tầm nhìn kiến tạo không gian phát triển và sáng tạo văn hóa biển, đảo cũng chưa định hình theo hướng mở rộng không gian phát triển bền vững cho vùng, liên vùng. Việc xây dựng cơ chế phối hợp lãnh đạo giữa cấp ủy, chính quyền, bộ, ban, ngành, địa phương và doanh nghiệp còn thiếu đồng bộ, chưa có chiến lược dài hạn nên hiệu quả khai thác giá trị DSVH biển, đảo chưa cao. Công tác nghiên cứu các nguồn tài nguyên, giá trị DSVH biển, đảo, nhất là ở các đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ văn hóa, nhất là ở cấp cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Công tác giới thiệu, quảng bá các giá trị DSVH biển, đảo Việt Nam ra nước ngoài cũng như việc tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo tồn và phát huy DSVH biển, đảo chưa mạnh.

3- Bối cảnh mới với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số, xã hội số, văn hóa số, sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tế và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng diễn ra quyết liệt, phức tạp hơn, vừa đem lại cơ hội, vừa tạo ra thách thức mới trong việc xây dựng và phát triển văn hóa. Bên cạnh đó, vấn đề quản trị văn hóa trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW đang đặt ra nhiều yêu cầu mới. Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt mang tính bản lề của lịch sử phát triển quốc gia. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH biển, đảo đòi hỏi cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau:

Đoàn ghe, thuyền tham gia lễ hội Nghinh Ông trên biển Cần Giờ_Ảnh: thanhnien.vn

Thứ nhất, đẩy mạnh nghiên cứu, hoàn thiện lý luận của Đảng về văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH dân tộc; về vị trí, vai trò của văn hóa trong chiến lược phát triển tổng thể quốc gia trong kỷ nguyên mới. Đây là giải pháp tạo nền tảng quan trọng để định hướng tư duy chiến lược và hoạch định chính sách phát triển hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia Việt Nam trước tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cùng không gian lãnh thổ và không gian mạng mang tính mở hiện nay. Theo đó, lý luận về văn hóa cần làm rõ hơn vị trí của văn hóa biển, đảo - bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng; không xem văn hóa biển, đảo là “vùng ngoại vi” mà phải thấy ở đó một không gian văn hóa đặc thù gắn với chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển. Bổ sung và làm rõ các mối quan hệ: văn hóa với kinh tế; văn hóa với chủ quyền biển, đảo quốc gia; văn hóa với công nghệ hướng đến chuyển đổi số trong bảo tồn DSVH; văn hóa với môi trường.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng của công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nói chung, DSVH biển, đảo nói riêng; góp phần nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và cộng đồng cư dân về bảo tồn và phát huy giá trị di DSVH biển, đảo; qua đó huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia bảo tồn và phát huy giá trị DSVH biển, đảo, hướng tới mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững và bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Đồng thời chủ động phát hiện, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử - văn hóa và chủ quyền lãnh thổ quốc gia của Việt Nam trên biển, đảo.

Thứ ba, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cơ quan nhà nước trong thực thi chủ trương, chính sách trên tinh thần đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng tích hợp, kết nối không gian vùng, liên vùng, tạo ra hệ sinh thái mở để phù hợp với điều kiện phát triển mới của đất nước. Đổi mới nội dung, phương thức trong quản trị giá trị DSVH biển, đảo quốc gia từ “quản lý văn hóa” sang “quản trị, hỗ trợ, kiến tạo, dẫn dắt văn hóa”, “tổ chức các hoạt động văn hóa theo hướng thiết thực, linh hoạt, lấy địa bàn cơ sở, người dân làm trung tâm”(9); “lấy hiệu quả và sự tham gia đa trung tâm (Nhà nước - thị trường - xã hội - cộng đồng sáng tạo) làm nguyên tắc cốt lõi”. Tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật về bảo tồn DSVH biển, đảo, bảo tồn môi trường, tài nguyên biển kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, đúng quy định. Có cơ chế ưu đãi, hỗ trợ các tỉnh, thành ven biển, hải đảo trong bảo tồn và khai thác DSVH. Các bộ, ngành, địa phương trên cơ sở chủ trương của Đảng cần chủ động, cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng vào thực tiễn địa phương, nhất là việc “phát huy hiệu quả các giá trị DSVH gắn với phát triển kinh tế di sản”(10); phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh với bảo tồn DSVH biển, đảo; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, số hóa dữ liệu DSVH biển, đảo để quản lý và bảo tồn tốt hơn theo Nghị quyết số 80-NQ/TW.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ văn hóa, nhất là ở cơ sở. Chủ động xây dựng các chương trình đào tạo đạt chuẩn về văn hóa nói chung, bảo tồn giá trị DSVH biển, đảo nói riêng. Đổi mới các hình thức đào tạo, bồi dưỡng theo hướng mở rộng liên kết với địa phương, liên kết vùng và liên kết với các cơ sở đào tạo có uy tín trong và ngoài nước hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tồn và phát huy DSVH biển, đảo đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Thứ năm, đẩy mạnh nghiên cứu các nguồn tài nguyên, giá trị DSVH biển, đảo, nhất là ở các đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam nhằm đánh giá đúng thế mạnh của từng đảo hoặc cụm đảo để có định hướng sử dụng phù hợp. Đối với các cụm đảo nhỏ, đảo hoang sơ (chưa có cư dân sinh sống) cần phát triển kinh tế đảo gắn với bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái biển, đảo. Đối với các đảo, cụm đảo lớn đông dân cư sinh sống, như Vân Đồn, Cát Bà, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Phú Quốc, Côn Đảo,... cần có kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội toàn diện, bao trùm, có định hướng trong tư duy, tầm nhìn xây dựng thành các trung tâm kinh tế hải đảo toàn diện; kết nối không gian vùng, liên vùng, tạo ra không gian phát triển mới, tổ chức lại nguồn lực cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Thứ sáu, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong bảo tồn và phát huy DSVH biển, đảo. Để chủ động thích ứng và định vị hệ giá trị biển, đảo Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh ảnh hưởng của các giá trị văn hóa ngày càng tăng, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông ngày càng phức tạp, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH biển, đảo Việt Nam cần hướng đến sự phù hợp với các công ước quốc tế và luật pháp quốc tế về biển, đảo. Có chính sách khuyến khích hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế trong bảo tồn DSVH và phát triển bền vững biển, đảo, các chương trình bảo tồn biển toàn cầu. Tham gia tích cực vào các mạng lưới khu bảo tồn biển, đảo và các diễn đàn quốc tế về đại dương. Hợp tác trong các dự án bảo tồn hệ sinh thái, DSVH và phát triển du lịch biển đảo bền vững. Hợp tác nghiên cứu về lịch sử, văn hóa biển, đảo, khảo cổ học dưới nước và hệ sinh thái biển; thúc đẩy giao lưu, quảng bá DSVH biển, đảo thông qua việc tổ chức các festival biển, triển lãm quốc tế, các chương trình giao lưu văn hóa biển, đảo...; qua đó lan tỏa sâu rộng các giá trị văn hóa biển, đảo, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước./.

------------------

(1) Nguyễn Văn Kim (chủ biên): “Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển nhận thức về biển, đảo trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc”, in trong Người Việt với biển, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2011, tr. 31
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 78
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 53
(4) Tạ Quân: “Du lịch di sản: “một hành trình - nhiều trải nghiệm”, Cổng Thông tin điện tử Quảng Ninh, ngày 22-3-2026, https://dulich.quangninh.gov.vn/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=5732
(5) Báo cáo số 349/BC-UBND, ngày 1-12-2025, của UBND thành phố Đà Nẵng về “Tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh giai đoạn 2021 - 2025, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh giai đoạn 2026 -2030 thành phố Đà Nẵng”, tr. 4
(6) Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Khánh Hòa, 2020, tr. 17 
(7) Báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa, 6-2025
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 231 
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 98 
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 97