Từ ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đến khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới

TS Trương Thị Hồng Nga - Nguyễn Thanh Nga
Trường Đại học Xây dựng miền Tây - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
17:30, ngày 29-06-2026

TCCS - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng và dân tộc Việt Nam một di sản tư tưởng vô cùng to lớn, có giá trị khoa học, cách mạng và nhân văn sâu sắc; là nền tảng tư tưởng, “kim chỉ nam” cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa chiến lược, góp phần định hướng con đường phát triển của dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh trường tồn cùng dân tộc Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Được kết hợp hài hòa giữa tinh hoa nhân loại với giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vận dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị soi đường con đường phát triển, góp phần tạo nên sức mạnh Việt Nam(1). Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng ấy, tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân văn hòa quyện thống nhất, tạo nên giá trị bền vững.

Trước hết, tính khoa học là đặc tính nổi bật, cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Giá trị khoa học ấy không hình thành từ tư duy kinh viện hay suy luận giáo điều, mà bắt nguồn từ thực tiễn sinh động của dân tộc và thời đại. Điểm xuất phát trong hành trình tư tưởng của Người chính là câu hỏi lớn về con đường cứu nước, cứu dân trong bối cảnh đất nước chìm trong đêm dài nô lệ. Từ khát vọng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn con đường ra đi tìm đường cứu nước, trực tiếp khảo sát thực tiễn ở nhiều quốc gia, nhiều chế độ xã hội khác nhau để tìm lời giải cho vận mệnh dân tộc Việt Nam.

Chính thực tiễn lao động, học tập và đấu tranh trong suốt hành trình hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước đã giúp Người nhận thức sâu sắc bản chất của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, đồng thời tiếp cận được ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Từ một người yêu nước trở thành người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết một cách sáng tạo mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp; giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại(2). Đây là phát kiến lý luận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam.

Tính khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc Người vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, không rập khuôn, giáo điều. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc quan điểm của V.I. Lê-nin về “phân tích cụ thể một tình hình cụ thể”(3), từ đó xác định đúng quy luật vận động của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định, trong điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam, nhiệm vụ trước hết là giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc trên lập trường của giai cấp công nhân. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra một cách sâu sắc rằng, cách mạng muốn thành công trước hết phải có Đảng lãnh đạo; Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng. “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(4). Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người phát triển sáng tạo lý luận về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đây là một đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận cách mạng thế giới.

Tổng Bí thư Tô Lâm đến dâng hương tại Di tích nhà cụ Nguyễn Sinh Nhậm (ông nội Chủ tịch Hồ Chí Minh) ở xóm Sen 3, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn_Ảnh: TTXVN

Không dừng lại ở lý luận giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại những tư tưởng sâu sắc về xây dựng Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người luôn nhấn mạnh sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa học với hành, giữa nói với làm. Theo Người, “thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận lãnh đạo thực hành”(5). Quan điểm ấy phản ánh tư duy biện chứng sâu sắc và phương pháp khoa học trong hoạt động cách mạng.

Tính khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ trong quan điểm đổi mới và hội nhập quốc tế. Ngay từ rất sớm, Người đã chủ trương mở rộng quan hệ với thế giới trên tinh thần “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình”(6). Tư tưởng “thêm bạn, bớt thù”, tranh thủ sức mạnh quốc tế để phục vụ lợi ích dân tộc cho thấy tầm nhìn vượt trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hội nhập và phát triển.

Đặc biệt, trong các tác phẩm như “Đời sống mới”, “Sửa đổi lối làm việc”, “Dân vận”, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đề cập đến xây dựng đạo đức xã hội mới, mà còn đặt ra những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với xây dựng Đảng cầm quyền. Người yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, chống bệnh quan liêu, xa dân, coi trọng công tác cán bộ, trọng dụng nhân tài, phát huy dân chủ và củng cố mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Những quan điểm ấy đến nay vẫn giữ nguyên giá trị thời sự trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Nếu tính khoa học tạo nên chiều sâu trí tuệ thì tính cách mạng làm nên sức sống và giá trị hành động của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng của Người không phải là những luận giải trừu tượng mà luôn gắn với mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Đó là tư tưởng hành động, tư tưởng dấn thân vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân.

Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh và khát vọng cách mạng lớn lao. Người lựa chọn con đường đầy gian khổ để tìm chân lý cứu nước, cứu dân. Sau nhiều năm khảo nghiệm thực tiễn và nghiên cứu các học thuyết chính trị, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản(7). Từ đó, Người truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam, sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện ở tinh thần triệt để, kiên định nhưng rất sáng tạo. Người khẳng định: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”(8). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng phải là cách mạng đến nơi, nghĩa là quyền lực phải thuộc về nhân dân, vì nhân dân. Tư tưởng ấy phản ánh bản chất dân chủ sâu sắc của cách mạng Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Một nội dung đặc biệt quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng Đảng về đạo đức. Người coi chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm”, là nguy cơ lớn nhất làm suy yếu Đảng và chế độ. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết. Người nhiều lần nhấn mạnh: Đảng cầm quyền muốn được nhân dân tin yêu thì phải thật sự là đạo đức, là văn minh(9).

Tính cách mạng còn thể hiện rõ qua tinh thần tự phê bình và phê bình mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao. Người coi đây là quy luật phát triển của Đảng, là “vũ khí sắc bén” để sửa chữa sai lầm, củng cố đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Người yêu cầu tự phê bình phải trung thực, thẳng thắn nhưng chân thành, có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Bên cạnh tính khoa học và cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh còn thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc. Toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Người đều hướng tới con người, vì con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định mục tiêu cao nhất của cách mạng là đem lại độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Người từng nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(10).

Tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết thể hiện ở quan điểm “dân làm gốc”. Người luôn tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, coi nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử. Theo Người, mọi đường lối, chính sách đều phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân.

Tinh thần nhân văn ấy còn thể hiện ở tình yêu thương con người sâu sắc, kể cả với những người từng lầm lỗi. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sự khoan dung, vị tha, đoàn kết và hòa hợp dân tộc. Trong ứng xử quốc tế, Người chủ trương hòa bình, hữu nghị, tôn trọng quyền dân tộc tự quyết, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Đặc biệt, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Theo Người, chủ nghĩa xã hội trước hết phải đem lại đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân; phải làm cho “dân giàu, nước mạnh”, xã hội công bằng, văn minh. Người luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, con người; tăng trưởng phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; chăm lo cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần của nhân dân.

Có thể khẳng định, tính khoa học, cách mạng và nhân văn là 3 giá trị cốt lõi tạo nên giá trị, sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó không chỉ là kết tinh trí tuệ của dân tộc và thời đại, mà còn là nền tảng tinh thần vững chắc cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

“Ngọn đuốc” soi đường cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là “ngọn đuốc” soi đường cho cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng, những giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh càng thể hiện sức sống bền vững, trở thành nền tảng tinh thần, động lực và phương hướng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển tư duy đổi mới của Đảng trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới(11); đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, phát huy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Những định hướng chiến lược ấy phản ánh sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của dân tộc Việt Nam và thắng lợi tất yếu của cách mạng. Niềm tin ấy không phải là cảm tính hay ý chí chủ quan, mà được xây dựng trên cơ sở khoa học, dựa vào thực tiễn lịch sử và sức mạnh của nhân dân. Người khẳng định, một dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết và ý chí quật cường thì nhất định sẽ giành được độc lập và xây dựng thành công cuộc sống mới. Chính niềm tin ấy đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để dân tộc Việt Nam vượt qua những thời khắc cam go nhất của lịch sử.

Ngày nay, đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 mà Đảng đề ra chính là sự tiếp nối khát vọng lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một nước Việt Nam “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(12). Đó không chỉ là mục tiêu phát triển kinh tế, mà còn là khát vọng nâng tầm vị thế dân tộc, xây dựng đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, Việt Nam có vai trò, vị thế ngày càng quan trọng trong đời sống quốc tế.

Tuy nhiên, khát vọng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động thực tiễn. Đây cũng chính là tinh thần xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người luôn nhấn mạnh sự thống nhất giữa nói và làm, giữa lý tưởng và hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán bệnh hình thức, nói nhiều làm ít, nói mà không làm. Trong “Đường Kách mệnh”, Người căn dặn người cách mạng phải “nói thì phải làm”. Tinh thần hành động quyết liệt ấy đang trở thành yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đứng trước áp lực cạnh tranh toàn cầu, nguy cơ tụt hậu, thách thức về năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong bài viết “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Nếu để lỡ thời cơ hoặc chậm trễ, sai sót trong giai đoạn bản lề, cái giá phải trả sẽ rất đắt - có thể đánh mất cơ hội của cả dân tộc, tụt hậu xa hơn trong một thế giới biến động nhanh chóng”(13).

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới trước hết phải khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(14), coi nội lực dân tộc là yếu tố quyết định. Trong điều kiện hiện nay, tinh thần tự tin, tự lực, tự cường ấy cần được thể hiện bằng việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; chủ động thích ứng với biến động toàn cầu.

Đồng thời, phát huy nội lực phải gắn với tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây là tư tưởng có giá trị chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang được Đảng vận dụng trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Việt Nam ngày nay không chỉ hội nhập để phát triển mà còn chủ động tham gia giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. Điều đó phản ánh tầm nhìn vượt trước thời đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh về hòa bình, hợp tác và phát triển.

Một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Người yêu cầu Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của một Đảng cầm quyền.

Tinh thần ấy đang được Đảng ta vận dụng mạnh mẽ trong công cuộc tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy hiện nay thực chất là một cuộc cách mạng về tổ chức và phương thức quản trị quốc gia nhằm xây dựng bộ máy tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Đây là yêu cầu khách quan của phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Điều đó phản ánh sự kế thừa trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh. Người từng căn dặn rằng, một Đảng cầm quyền nếu không giữ được đạo đức cách mạng, không chống được chủ nghĩa cá nhân thì sẽ đánh mất vai trò lãnh đạo và niềm tin của nhân dân.

Đặc biệt, trong kỷ nguyên chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh còn đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Theo Người, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm là yêu cầu đặc biệt quan trọng hiện nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng tiếp tục soi sáng việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”. Trong bối cảnh đất nước phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, càng phải củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở hài hòa lợi ích, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội và chăm lo đời sống nhân dân.

Mọi đường lối, chính sách phát triển đều phải hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng là định hướng lớn trong Văn kiện Đại hội XIV. Phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà phải gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới. Đó là con người có bản lĩnh, tri thức, khát vọng cống hiến và năng lực thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thời đại số.

Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó lường, tư tưởng Hồ Chí Minh càng cho thấy giá trị định hướng chiến lược lâu dài. Tinh thần độc lập, tự chủ nhưng linh hoạt; kiên định mục tiêu nhưng sáng tạo trong phương pháp; đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết nhưng đồng thời đề cao hòa bình, hợp tác và phát triển chính là những bài học có ý nghĩa thời đại sâu sắc.

Có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là “ngọn đuốc” soi đường cho cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Đó không chỉ là nguồn sáng của niềm tin, bản lĩnh và trí tuệ, mà còn là động lực tinh thần to lớn để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy ý chí tự cường dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Việc tiếp tục học tập, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với thực hiện thắng lợi các mục tiêu, định hướng chiến lược mà Đại hội XIV của Đảng đề ra chính là con đường bảo đảm cho Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc./.

-------------------

(1) Xem: Lê Văn Hải: “Tư tưởng Hồ Chí Minh - sự kết tinh giá trị nhân văn và tầm vóc thời đại, ánh sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 6-8-2025, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tu-tuong-ho-chi-minh-su-ket-tinh-gia-tri-nhan-van-va-tam-voc-thoi-dai-anh-sang-soi-duong-cho-cach-mang-viet-nam
(2) Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 1, tr. 528
(3) Xem: Nguyễn Chí Hiếu: “Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I. Lê-nin vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Cộng sản điện tử, https://www.tapchicongsan.org.vn/vi_VN/web/guest/dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang/-/2018/816303/view_content#
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 289
(5) Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 120
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 39
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 30
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 284
(9) Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 403
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 64
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 81
(12) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 44
(13) GS, TS Tô Lâm: “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 25-1-2026, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tien-len-toan-thang-at-ve-ta-
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 596