Một số quan điểm giải quyết các vấn đề xã hội khu vực ven biển vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

TS Phạm Đi - TS Lương Tình - Nguyễn Văn Tốn
Học viện Chính Trị Khu vực III - Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ - Ban Kinh tế Trung ương
21:59, ngày 31-08-2023

TCCS - Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước. Do đó, cùng với xây dựng kinh tế, cần có quan điểm, tầm nhìn chiến lược và lựa chọn phương thức hợp lý để quản lý, xử lý các vấn đề xã hội một cách hiệu quả, bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của các địa bàn chiến lược quan trọng trên.

Đảng ta luôn xác định, quản lý phát triển xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh là nhiệm vụ vừa mang tính trước mắt, vừa mang tính lâu dài; bảo đảm ổn định xã hội, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, để phát triển nhanh và bền vững. Đảng ta nhận định: “Quản lý phát triển xã hội giải quyết một số vấn đề xã hội chưa được quan tâm đúng mức, chưa được kết hợp đồng bộ, chặt chẽ trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa; thể chế quản lý xã hội còn nhiều hạn chế; tình trạng gia tăng tội phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu thuẫn, xung đột xã hội... ở một số nơi chậm được khắc phục, gây bức xúc trong dư luận nhân dân. Giảm nghèo chưa bền vững, chưa có giải pháp hữu hiệu để xử lý vấn đề phân hóa giàu - nghèo, gia tăng bất bình đẳng về thu nhập, kiểm soát và xử lý các mâu thuẫn, xung đột xã hội. Chất lượng dịch vụ y tế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, có mặt còn bất cập. Chính sách tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phúc lợi xã hội có mặt còn hạn chế; thụ hưởng của người dân từ thành tựu phát triển của đất nước chưa hài hòa”(1).

Việc quản lý phát triển xã hội không tách rời (thậm chí là nhiệm vụ song hành) với giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh. Tăng trưởng kinh tế là quan trọng nhưng không vì thế mà “đánh đổi” yếu tố môi trường (để xảy ra ô nhiễm môi trường, hệ sinh thái tự nhiên bị phá vỡ,…), nhân tố xã hội (để xảy ra bất bình đẳng xã hội, xung đột xã hội, tội phạm và các loại tệ nạn xã hội, phân tầng xã hội và phân hóa xã hội, chênh lệch giàu nghèo giữa các nhóm xã hội, các vùng miền,…). Do đó, trong quá trình lãnh đạo, phát triển đất nước cần kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với việc phát triển văn hóa, con người, gắn liền với quản lý và giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh, bảo vệ tài nguyên, môi trường và hệ sinh thái; giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người.

Nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Quảng Ngãi_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 3-11-2022, của Bộ Chính trị “Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” khẳng định: “Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ có vai trò, vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, nhất là về kinh tế biển và quốc phòng, an ninh biển, đảo của Tổ quốc”; đồng thời chỉ ra: “Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ vẫn là vùng có chỉ số phát triển ở nhiều lĩnh vực thấp hơn mức trung bình cả nước. Tiềm năng, lợi thế của vùng, nhất là kinh tế biển chưa được khai thác hợp lý và phát huy hiệu quả. Quy mô kinh tế vùng còn nhỏ, GRDP bình quân đầu người thấp. Tăng trưởng kinh tế chưa thực sự bền vững, chất lượng và năng lực cạnh tranh chưa cao. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, chưa có đột phá... Quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún. Ngành dịch vụ phát triển chưa đa dạng, chất lượng chưa cao. Du lịch phát triển chưa bền vững, thiếu đa dạng, sức cạnh tranh quốc tế còn thấp. Cơ cấu thu ngân sách chưa bền vững... Văn hóa - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Một số chỉ tiêu về giáo dục và đào tạo chưa đạt mục tiêu đặt ra. Thị trường lao động chậm phát triển, thiếu linh hoạt, tỷ lệ thiếu việc làm còn cao; chất lượng lao động và việc làm còn thấp. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ giảm nghèo chưa đạt mục tiêu đặt ra...”.

Trên cơ sở những quan điểm mang tầm chiến lược, bao trùm của Đảng và chính sách của Nhà nước ta về quản lý các vấn đề xã hội trên phạm vi toàn quốc, với tư duy và định hướng “lý luận phải gắn với thực tiễn” đối với vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ nói chung và khu vực ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ nói riêng, cần quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo các quan điểm của Đảng để phát huy sức mạnh nội sinh, đặc biệt là tính chất đặc thù của vùng. Theo đó, để quản lý các vấn đề xã hội khu vực ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ một cách khoa học, hệ thống, hiệu quả, cần quán triệt một số quan điểm:

Thứ nhất, quản lý các vấn đề xã hội ở khu vực ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng dân cư ven biển. Nhà nước và chính quyền các cấp trong vùng cần phải bảo đảm và cung cấp những điều kiện nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng cư dân ven biển với tư cách là một công dân hay một nhóm xã hội gắn với vùng lãnh thổ đặc thù, trên các lĩnh vực của đời sống và hoạt động sống của họ như kinh tế, văn hóa, xã hội,… Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cư dân ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ cần tiến hành một số biện pháp cụ thể: 1- Nghiên cứu để nắm bắt thực trạng đời sống của cư dân trong vùng, làm căn cứ để xây dựng và ban hành các chính sách đúng đắn, kịp thời, phù hợp để giải quyết hài hòa các lợi ích cá nhân, cộng đồng, chính quyền; hạn chế hiện tượng chồng chéo, bất hợp lý, thậm chí là xung đột, mâu thuẫn giữa các văn bản của Trung ương và địa phương; giữa các đối tượng thụ hưởng và tác động từ chính sách; 2- Chính quyền các địa phương trong vùng cần quán triệt tinh thần và tổ chức thực hiện tốt các chính sách có liên quan, nhất là chính sách phát triển ngư nghiệp, bảo đảm sinh kế cho người dân, phát triển kinh tế biển. Theo đó, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng, thuyết phục các nhóm cư dân tuân thủ các quy định của pháp luật. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thực hiện các chính sách, nhất là chính sách về phát triển kinh tế biển, du lịch biển, an ninh biển theo hướng thực chất, hiệu quả; 3- Hạn chế tối đa các xung đột xã hội nảy sinh trong quá trình thực hiện các chính sách có liên quan, đặc biệt giải quyết tốt các vấn đề xã hội nảy sinh, như khiếu kiện, khiếu nại đông người, vượt cấp, bảo đảm an ninh chính trị và an toàn xã hội; bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của cư dân.

Thứ hai, quản lý các vấn đề xã hội ở khu vực ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ phải đặt trong bối cảnh đặc thù của vùng và các địa phương trong vùng. Do đó, “vùng hóa” và “địa phương hóa” là một quan điểm cần được nhận thức thấu đáo trong quá trình quản lý xã hội nói chung, giải quyết các vấn đề xã hội nói riêng. “Việc “vùng hóa” và “địa phương hóa” là một phong cách “giải tập trung hóa” quá trình hoạt động và thực thi chính sách phát triển cho phù hợp với đặc trưng, thế mạnh cùa từng vùng miền, từng địa phương”(2). Đương nhiên, “vùng hóa” và “địa phương hóa” đối với hoạt động quản lý cũng như giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trước hết phải phù hợp với đặc trưng của điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái và các điều kiện, nguồn lực hiện hữu của vùng, kể cả đặc trưng về dân số, ngành nghề, trình độ và lực lượng sản xuất, hoạt động sống, đời sống văn hóa tinh thần,… Bởi lẽ, điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái chi phối đến hoạt động sống, hoạt động sản xuất và hình thành nên văn hóa địa phương, văn hóa vùng. Vì vậy, khi nghiên cứu, nắm bắt và giải quyết các vấn đề xã hội cần phải đặt trong nền tảng, bối cảnh đặc thù của vùng và các địa phương. “Thực tế cho thấy, nhiều chính sách phát triển không được vùng hóa và địa phương hóa từ chiều cạnh địa lý - sinh thái đã dẫn tới thất bại hoặc không đạt được kết quả như mong muốn. Tất nhiên, coi trọng điều kiện tự nhiên và hệ sinh thái trong hoạch định các chính sách vùng và địa phương nhưng tuyệt đối không không rơi vào quyết định luận về địa lý”(3). Theo cách tiếp cận hệ thống, mỗi địa phương là “tiểu hệ thống” của vùng và đến lượt mình, vùng cũng là một tiểu hệ thống đối với bình diện quốc gia. Hơn nữa, tác động đến vấn đề xã hội không chỉ có yếu tố địa lý, sinh thái, đặc điểm cư dân mà còn có nhiều nhân tố khác, biến số khác.

Cần lưu ý rằng, đặc thù vùng không phải là “cát cứ” và “mạnh ai lấy làm” mà phải gắn với mục tiêu tổng thể. Đương nhiên, cũng cần có cơ chế phân cấp, phân quyền trong quản lý xã hội nói chung, giải quyết các vấn đề xã hội nói riêng. Thực tế cho thấy, tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương sẽ gia tăng tính linh hoạt, năng động, sáng tạo và giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh một cách nhanh chóng, hiệu quả. Nhưng cũng cần hiểu và vận dụng tốt chính sách của Trung ương và chính sách của địa phương; chính sách có tầm chiến lược, vĩ mô với chính sách mang tính thực hiện, ở tầm vi mô; giữa vấn đề thực thi chính sách một cách hiệu lực với tính hiệu quả của chính sách.

Thứ ba, quản lý các vấn đề xã hội ở khu vực ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ phải bảo đảm kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta đã xác định: “Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh”(4); “Kết hợp có hiệu quả quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”(5). Đây là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hướng đến hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, trong đó có việc quản lý và giải quyết các vấn đề xã hội ở vùng ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ.

Vấn đề xã hội tại mỗi địa phương, vùng miền luôn hiện diện trong từng lĩnh vực cụ thể, như văn hóa, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,… Do đó, khi nghiên cứu hay tiến hành giải quyết các vấn đề xã hội cần đặt trong tổng thể, tránh giải quyết đơn lẻ hay tách rời một cách máy móc dễ dẫn đến xử lý không triệt để, “cái sảy nảy cái ung”. Vì vậy, “cần phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của các chủ thể trong quá trình thực thi các chính sách, trong phát hiện và giải quyết các vấn đề xã hội liên quan, trong kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, không thể coi thường hay chủ quan, duy ý chí”(6).

Việc kết hợp chặt chẽ giữa giải quyết các vấn đề xã hội với kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh cần phải nhất quán từ nhận thức đến hành động, từ Trung ương đến địa phương, từ cán bộ lãnh đạo đến từng đảng viên. Trong đó, cấp ủy và người đứng đầu phải là người tiên phong trong nhận thức và chỉ đạo thực hiện, không để xảy ra tình trạng “trên nóng dưới lạnh”, “trên bảo mà dưới không nghe”. Sự thiếu nhất quán trong nhận thức và hành động trong giải quyết các vấn đề xã hội chẳng những không giải quyết triệt để mà còn có nguy cơ nảy sinh các hệ lụy khác.

Thứ tư, quản lý các vấn đề xã hội ở khu vực ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ phải dựa trên cơ sở phát huy các nguồn lực tại chỗ và kết hợp với các nguồn lực khác. Việc quản lý xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh phải phát huy được sức mạnh nội sinh, đồng thời với nguồn lực ngoại sinh. Nguồn lực nội sinh bao hàm nguồn lực tổng hợp từ các loại vốn “phi tài chính”, như vốn văn hóa, vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn con người, nhất là trong điều kiện đặc thù của các tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ với phương thức sản xuất, sinh kế gắn với “một chân ruộng, một chân ngư”. “Nhiều khi nguồn vốn tài chính bên ngoài đầu tư vào cộng đồng cư dân ven biển miền Trung không mang lại hiệu quả, thậm chí hết dự án thì đồng bào trở lại điểm xuất phát ban đầu, vì không khơi dậy được nguồn lực tại chỗ để hấp thu, chuyển hóa nguồn lực ngoại sinh”(7).

Cộng đồng cư dân ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ “sở hữu” vốn văn hóa như là một sản phẩm kết tinh từ lịch sử, được tích lũy từ thế hệ này qua thế hệ khác và hình thành nên giá trị riêng đặc sắc của vùng. Thực thế cho thấy, lúc nào “vốn văn hóa” được khơi dậy thì sức mạnh nội sinh mới thực sự phát huy giá trị của nó. Quá trình quản lý xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội đối với khu vực này chính là cần biết vận dụng, kết hợp các nguồn lực nội sinh và ngoại sinh; vốn văn hóa với vốn con người, vốn xã hội; giữa “tự lực, tự cường” với tranh thủ nguồn hỗ trợ bên ngoài và quốc tế.

Lễ hội cầu ngư của cư dân ven biển tỉnh Nghệ An_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Hệ tri thức bản địa của cư dân ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ gắn với hoạt động sống, lao động, sản xuất đặc thù, mà biểu hiện của nó là vốn tri thức về môi trường, địa hình, thời tiết phục vụ cho hoạt động sản xuất (ngư nghiệp, nông nghiệp,…); vốn hiểu biết về nguồn nước, cách khai thác nguồn nước có lợi cho sản xuất và đời sống, về điều kiện tự nhiên như chọn nơi cư trú, mưu sinh, bảo đảm an toàn cho cộng đồng. “Vốn tri thức đó được kiểm chứng, trao quyền, lặp đi lặp lại trong quá khứ nên có tính hợp lý và hiệu dụng. Nó khác biệt hoàn toàn với tri thức ngoại sinh mới du nhập, chưa được kiểm chứng, dễ dẫn đến thất bại”(8).

Bên cạnh đó, vốn xã hội được biểu hiện ở các thiết chế xã hội truyền thống như thôn/làng, dòng họ/gia tộc đến các tổ chức cộng đồng gắn với truyền thống văn hóa - lịch sử. Đó là mạng lưới xã hội mang tính cộng đồng và cộng hưởng, là niềm tin xã hội đã được hình thành và không ngừng củng cố, phát triển, hệ thống các quan hệ xã hội nông thôn truyền thống gắn với hoạt động sống cụ thể của cư dân ven biển. Tất cả những “vốn quý” này là nội lực mang tính đặc thù của cộng đồng cư dân ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ, cùng với đó là các nguồn lực bên ngoài như các chương trình, dự án của tổ chức chính phủ và phi chính phủ; các nguồn viện trợ ODA, các dự án phát triển cộng đồng,… Do đó, trong quản lý xã hội hay giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh cần tranh thủ sức mạnh nội sinh nhưng cũng phải chú ý đến nguồn lực ngoại sinh, tránh “biệt lập” nhưng cũng không nên “lạm dụng” gây nên những xung đột về giá trị và nguồn lực đầu tư, từ đó hướng đến phát triển cộng đồng cư dân ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ một cách bao trùm, bền vững. Đặc biệt, với một lực lượng cư dân tham gia ngư nghiệp (kể cả đánh bắt, nuôi trồng, chế biến, hậu cần nghề cá,…) khá lớn, cần phải kết hợp sức mạnh bên trong và sức mạnh bên ngoài, tranh thủ nguồn lực quốc tế: “Phát triển ngành thủy sản theo hướng khai thác xa bờ hiện đại góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản trên biển và ven biển. Xây dựng trung tâm nghề cá lớn gắn với ngư trường trọng điểm; nâng cấp các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền, tổ chức tốt dịch vụ hậu cần nghề cá. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về quản lý nghề cá”(9).

Thứ năm, quản lý các vấn đề xã hội ở khu vực ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ phải bảo đảm sự tham gia của người dân. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát huy vai trò, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, giữa các vùng, địa phương; quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(10). Các chính sách liên quan đến cộng đồng khu vực này trước hết phải nhận được sự đồng thuận và tham gia của người dân trong vùng. Sự tham gia này thể hiện mức độ dân chủ và thỏa mãn các nhu cầu thiết thân, chính đáng, góp phần nâng cao chất lượng sống cho các nhóm xã hội. Đặc biệt, các vấn đề xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội cần có sự tham gia của chủ thể nhân dân, gắn với sự định hướng và hình thành ý thức tự giác tham gia, “cộng đồng hóa trách nhiệm”. Chính quyền các địa phương trong vùng cần phải “đi trước” trong công tác dự báo các xu thế, tình huống (nhất là tình huống bất thường), các hành vi lệch lạc xã hội, các vấn đề xung đột có thể nảy sinh để lường trước các nguy cơ và giảm thiểu rủi ro nếu xảy ra. Đương nhiên, trong quá trình giải quyết cần có sự đồng thuận và tham gia của cộng đồng cư dân trong vùng, bảo đảm tính dân chủ và trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng, nhóm xã hội trong giải quyết từng nhóm vấn đề có liên quan. Sự tham gia này thể hiện qua những đóng góp về mặt vật chất và tinh thần như động viên, hỗ trợ, ủng hộ, đồng thuận…, từng bước hình thành mạng lưới xã hội lành mạnh và mức độ “cộng đồng hóa trách nhiệm” ngày một cao hơn.

Quản lý phát triển xã hội phù hợp đòi hỏi phải giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Chú trọng nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, bảo đảm các nhu cầu thiết yếu, cơ bản của người dân về nhà ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm,… Tất cả những công việc đó cần phải bắt đầu từ nhận thức “đúng và trúng” các vấn đề xã hội để kiến tạo hoàn thiện thể chế liên quan, để đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trở thành hiện thực, góp phần ổn định cuộc sống và mang lại niềm tin trong nhân dân nói chung, cho cư dân khu vực ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ nói riêng./.

-----------------------

(1) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 85 - 86
(2) Lê Văn Định: Một số vấn đề về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong cộng đồng ngư dân vùng duyên hải miền Trung hiện nay, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2018, tr. 220
(3), (6), (7), (8) Lê Văn Định: Một số vấn đề về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong cộng đồng ngư dân vùng duyên hải miền Trung hiện nay, Sđd, tr. 220-221, 219, 222, 222 - 223
(4), (5), (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 48, 68, 191 - 192 
(9) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 109