Cơ chế, chính sách và giải pháp tăng cường liên kết phát triển du lịch theo vùng: động lực quan trọng khôi phục và phát triển kinh tế sau “cú sốc” đại dịch
Thời gian qua, cùng với sự phát triển của du lịch cả nước, du lịch các tỉnh phía Bắc đang trên đà phát triển. Hằng năm, số lượng khách nội địa đến các tỉnh đều tăng và từng bước thu hút ngày càng nhiều du khách nước ngoài. Hoạt động liên kết hợp tác phát triển du lịch giữa Quảng Ninh với các tỉnh, thành phố khác chính là một trong những bước đi quan trọng ấy. Đặc biệt, trong bối cảnh chịu sự ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, hợp tác liên kết vùng trong phát triển du lịch là một trong những giải pháp quan trọng nhằm gia tăng mối liên kết, tạo động lực phát triển bền vững.
1. Sự cần thiết phải liên kết phát triển du lịch theo vùng
Vùng du lịch là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị du lịch, là nơi kết hợp các á vùng du lịch (nếu có), tiểu vùng du lịch, trung tâm du lịch và các điểm du lịch. Vùng du lịch là nơi thể hiện tính chuyên môn hóa cao về du lịch dựa trên sự khác biệt đối với đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên, văn hóa và tài nguyên du lịch của vùng. Vùng du lịch là lãnh thổ được hình thành trong điều kiện phải có yếu tố tạo vùng - đó là trung tâm du lịch, nơi tập trung cao hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và là nơi có khả năng tạo “sức lan tỏa” liên kết vùng rất cao nên được xem là hạt nhân/trung tâm hay cực tăng trưởng của vùng. Từ các thị trường, khách du lịch sẽ đến với vùng du lịch thông qua “cửa đến” (Gate) ở trung tâm vùng để từ đó lan tỏa tới các khu/điểm du lịch trong vùng hay nói một cách khác hoạt động phát triển du lịch ở các địa phương trong vùng chịu sự chi phối, tác động của trung tâm hay cực tăng trưởng của vùng.
Việc liên kết phát triển vùng du lịch cho phép khai thác những lợi thế so sánh về tài nguyên du lịch, về vị trí trong giao thương, về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và các nguồn lực khác của vùng nói chung và của các các địa phương trong vùng tham gia liên kết cho phát triển du lịch của vùng.
Việc liên kết phát triển vùng du lịch còn tạo nên khả năng cạnh tranh cao hơn đối với các bên liên quan nhằm thu hút đầu tư, thu hút khách du lịch đến vùng du lịch có tư cách là một điểm đến thống nhất và đến lãnh thổ của từng địa phương liên kết. Đây là yếu tố quan trọng để phát triển du lịch trong cơ chế thị trường khi yếu tố cạnh tranh ngày một trở nên gay gắt giữa các lãnh thổ và giữa các doanh nghiệp du lịch trong bối cảnh hội nhập.
Như vậy có thể thấy “liên kết” là yếu tố quan trọng và là yêu cầu mang tính quy luật khách quan đối với phát triển du lịch chung, phát triển vùng du lịch nói riêng giữa các địa phương với những lợi thế riêng có thể bổ sung cho nhau hoặc có chung những giá trị về tài nguyên du lịch mà sự phân bố của chúng nằm trên địa bàn chung của những địa phương trong vùng.
Quy hoạch phát triển du lịch cho một lãnh thổ là việc xác định những định hướng phát triển theo ngành và theo lãnh thổ trên cơ sở khai thác có hiệu quả những lợi thế so sánh của lãnh thổ về vị trí và các nguồn lực phát triển. Những lợi thế này có thể nằm trọn trên một đơn vị lãnh thổ hoặc nằm cùng lúc trên nhiều đơn vị lãnh thổ. Chính vì vậy việc “liên kết” chủ thể của từng đơn vị lãnh thổ để thực hiện những mục tiêu phát triển chung của lãnh thổ là rất quan trọng. Liên kết để thực hiện và quản lý quy hoạch phát triển vùng du lịch cũng không nằm ngoài ý nghĩa này. Đối với các vùng du lịch có tính tương đồng cao về tài nguyên du lịch giữa các địa phương trong vùng thì việc liên kết sẽ cho phép hạn chế hiệu quả tình trạng manh mún và trùng lặp về sản phẩm du lịch giữa các địa phương. Thay vào đó sự liên kết sẽ tạo ra những sản phẩm du lịch đặc trưng chung của vùng có quy mô và tính hấp dẫn cao hơn để từ đó nâng cao được tính cạnh tranh du lịch chung của vùng du lịch. Một khi năng lực cạnh tranh của vùng du lịch được nâng lên thì du lịch vùng sẽ phát triển hơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc các địa phương trong vùng du lịch sẽ có được những lợi ích bền vững hơn, lâu dài hơn từ du lịch.
2. Nội dung liên kết phát triển du lịch theo vùng
Liên kết phát triển du lịch theo vùng bao gồm nhiều nội dung song tập trung vào một số nhóm chính sau:
(1) Phân bố lại nguồn lực, điều chỉnh quy hoạch phát triển phù hợp với thế mạnh của từng địa phương
- Trên quan điểm liên kết phát triển vùng du lịch, tiến hành rà soát và điều chỉnh hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng và quy hoạch phát triển của từng địa phương trong vùng để phân bố lại nguồn lực cho phát triển du lịch theo hướng ưu tiên khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh của từng địa phương để phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù; liên kết để phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch mang tính vùng; từng bước hạn chế sự trùng lắp về sản phẩm du lịch giữa các địa phương trong vùng, giảm thiểu chi phí để nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch.
- Tập trung ưu tiên nguồn lực cho việc hình thành và phát triển các địa bàn trọng điểm du lịch, các khu/điểm du lịch quốc gia, các đô thị du lịch của vùng tạo động lực cho phát triển du lịch toàn vùng cũng như các địa phương trong vùng. Gắn phát triển du lịch với bảo tồn các giá trị di sản tự nhiên và văn hóa trên địa bàn.
(2) Xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao thông
- Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng du lịch, đặc biệt là hệ thống giao thông của từng địa phương trong vùng, khớp nối với hệ thống giao thông liên vùng, khu vực và quốc tế. Chú trọng tìm kiếm cơ chế đầu tư phát triển và tạo bước đột phá trong xúc tiến triển khai những công trình có tầm ảnh hưởng lớn, tạo ra liên kết phát triển du lịch theo vùng.
- Ưu tiên việc nâng cấp các trục giao thông kết nối với các hành lang kinh tế, các cửa khẩu quốc tế trên địa bàn vùng.
- Phối hợp với hãng Hàng không quốc gia Việt Nam xúc tiến mở các tuyến đường bay quốc tế trực tiếp đến các cảng hàng không quốc tế trong vùng; mở thêm các đường bay trong nước nối các đô thị trong vùng với nhau và với các trung tâm du lịch cả nước.
(3) Thiết lập không gian du lịch vùng thống nhất
- Hợp tác xây dựng không gian kinh tế du lịch vùng thống nhất trên cơ sở: Kết nối các tour, tuyến, điểm, khu du lịch nhằm phát triển đa dạng các loại hình du lịch (tham quan, nghỉ dưỡng, sinh thái, thể thao mạo hiểm,...). Khai thác và bảo tồn các di sản tự nhiên và văn hóa trong vùng. Hình thành các điểm đến đến du lịch trong vùng có sức cạnh tranh cao trong nước, khu vực và quốc tế. Gắn kết các địa bàn trọng điểm, các khu/điểm du lịch quốc gia, các đô thị du lịch trong vùng. Tạo lập chuỗi các sự kiện du lịch trong vùng như các festival, lễ hội văn hóa quốc tế, lễ hội quốc gia tiêu biểu.
- Xây dựng mới hiện đại một số khu hội chợ, hội nghị, hội thảo quốc tế, khu thể thao tổng hợp có ý nghĩa vùng ở những địa phương có điều kiện về hạ tầng và đủ tiêu chuẩn để tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch, vui chơi giải trí tầm cỡ khu vực và quốc tế.
(4) Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
- Tập trung phát triển các trung tâm đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là lao động nghề chất lượng cao mang tính vùng.
- Thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, nhất là các chuyên gia hàng đầu về du lịch ở trong nước, các chuyên gia quốc tế về làm việc trong các cơ sở đào tạo về du lịch ở trung tâm đào tạo của vùng.
- Tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo, cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp du lịch, nhất là các tập đoàn, doanh nghiệp du lịch lớn để tăng nhanh quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề; đồng thời, tập trung dạy nghề chất lượng cao theo đặt hàng của các doanh nghiệp, khu quốc gia trên địa bàn vùng.
- Đẩy mạnh hợp tác đào tạo bằng nhiều hình thức hợp tác, liên kết, liên thông giữa các cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu chuyên ngành du lịch và các lĩnh vực có liên quan trong vùng để mở thêm các chuyên ngành đào tạo mới, các chương trình đào tạo tiên tiến nhằm khai thác nguồn lực giáo viên, giảng viên có trình độ, kinh nghiệm; tận dụng cơ sở vật chất hiện có; trao đổi giáo trình, phương pháp giảng dạy khoa học… để phát triển nhân lực du lịch trình độ cao cho toàn vùng một cách hiệu quả.
- Tập trung đầu tư cho các cơ sở đào tạo có uy tín trên địa bàn để hình thành một hệ thống đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng và cả nước.
- Triển khai nhanh các dự án đại học quốc tế trên địa bàn đã được cấp có thẩm quyền cho phép nhằm đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao giảng dạy ở các cơ sở đào tạo, làm việc tại các viện nghiên cứu và tham gia vào các dự án quốc tế về du lịch có quy mô lớn trong vùng.
- Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo đại học và sau đại học để triển khai các dự án hợp tác đào tạo, trao đổi giảng viên/sinh viên, tổ chức và tham gia các hội thảo quốc tế, mời giáo sư, chuyên gia đầu ngành về du lịch trong nước, các chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy một số môn hoặc thực hiện các buổi seminar khoa học; mở rộng các chương trình đào tạo tiên tiến.
(5) Hợp tác trong việc huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách để đầu tư phát triển du lịch chung của vùng
- Thống nhất kiến nghị Chính phủ về các cơ chế ưu đãi, khuyến khích phát triển du lịch mang tính đặc thù của vùng cũng như của các địa phương trong vùng.
- Phối hợp xây dựng cơ chế chính sách mang tính vùng đầu tư kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặc biệt là các khu vui chơi giải trí, các khu mua sắm đặc trưng và chất lượng cao, trên cơ sở có sự thống nhất trong quy hoạch sản phẩm du lịch đặc thù của vùng dựa vào lợi thế của mỗi địa phương trong vùng.
- Thu hút đầu tư nước ngoài có định hướng và có chọn lọc vào các lĩnh vực quan trọng như: phát triển hạ tầng du lịch; phát triển khu/điểm du lịch quốc gia; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển sản phẩm du lịch đặc thù có tính cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế để tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị du lịch toàn cầu.
- Phối hợp nghiên cứu, đề xuất chính sách mang tính vùng để vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác trọng điểm như Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, ASEAN,…
- Hoàn thành việc xây dựng thông tin chi tiết về dự án (project profile) đối với danh mục đầu tư trọng điểm về du lịch vùng kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2017 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030 để làm cơ sở cho việc kêu gọi các nhà đầu tư.
- Kiểm soát chặt chẽ việc cấp giấy phép và quản lý các dự án đầu tư du lịch sử dụng nhiều năng lượng, tài nguyên; không cấp phép mới hoặc rút giấy phép đối với các dự án du lịch sử dụng lãng phí năng lượng, tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường trên phạm vi lãnh thổ vùng.
(6) Phối hợp xúc tiến quảng bá điểm đến, đầu tư và xây dựng thương hiệu du lịch toàn vùng
- Kết nối các sự kiện, lễ hội riêng của từng địa phương trong vùng để tạo ra chuỗi sự kiện du lịch mang tính vùng nhằm thu hút khách du lịch, đặc biệt từ các thị trường trọng điểm đem lại hiệu quả kinh tế cao.
- Thường xuyên tổ chức các diễn đàn xúc tiến đầu tư du lịch toàn vùng nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư từ các tập đoàn kinh doanh du lịch xuyên quốc gia.
- Xúc tiến thành lập cổng thông tin điện tử, xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch và các lĩnh vực có liên quan, xác lập thương hiệu (biểu tượng, khẩu hiệu), hình thành tờ báo chuyên ngành du lịch (song ngữ Anh - Việt)… sử dụng chung cho toàn vùng; nghiên cứu nhằm xây dựng và định vị hình ảnh du lịch toàn vùng trên thị trường và các nhà đầu tư.
- Phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, doanh nghiệp du lịch, hiệp hội du lịch vùng để quảng bá trực quan, cung cấp thông tin cho du khách tại các điểm đến; hỗ trợ nhau trong hoạt động xúc tiến các sản phẩm du lịch đặc thù của vùng và của từng địa phương trong vùng đến thị trường.
- Hoàn thiện hệ thống xúc tiến đầu tư du lịch vùng; tạo ra sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp du lịch, vừa bảo đảm hài hòa lợi ích của mỗi địa phương, vừa phát huy sức mạnh tổng hợp du lịch chung của toàn vùng.
(7) Cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh vùng du lịch
- Chia sẻ kinh nghiệm về phát triển du lịch giữa các địa phương nhằm tăng cường năng lực quản lý, điều hành về du lịch của Chính quyền địa phương, tập trung vào việc giảm chi phí gia nhập thị trường của doanh nghiệp du lịch, nâng cao tính minh bạch và thông tin, tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực cho các doanh nghiệp du lịch, giảm chi phí không chính thức, giảm chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước, nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp du lịch.
- Công khai, minh bạch các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch của toàn vùng và từng địa phương trong vùng, nhất là các chương trình, dự án, đề án liên kết phát triển du lịch thông qua cổng thông tin điện tử của từng địa phương, cổng thông tin điện tử chung của toàn vùng… nhằm thuận lợi hóa việc tiếp cận thông tin pháp lý cho cộng đồng doanh nghiệp du lịch trong và ngoài nước.
- Đa dạng hóa các loại hình liên kết du lịch gồm liên kết toàn vùng, liên kết giữa cụm các địa phương trong vùng, liên kết giữa các khu/điểm du lịch với nhau, liên kết giữa vùng với các địa phương, khu vực trong cả nước, liên kết quốc tế… thông qua các biên bản ghi nhớ, cam kết trách nhiệm, các quy chế hoạt động hoặc các hợp đồng liên kết.
Nội dung của liên kết du lịch cần đa dạng, phong phú và phù hợp với yêu cầu phát triển của toàn vùng cũng như của từng địa phương trong từng giai đoạn cụ thể. Các liên kết cần tập trung vào phát triển hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch, phân công trong phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của vùng, xúc tiến đầu tư du lịch;… nhằm tạo lập không gian du lịch thống nhất toàn vùng để cùng phát triển, tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
- Khuyến khích các doanh nghiệp du lịch, hiệp hội du lịch giữa các địa phương trong vùng liên kết với nhau nhằm hình thành các doanh nghiệp du lịch có quy mô lớn, thương hiệu mạnh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị ở tầm quốc gia, khu vực và vươn ra quốc tế.
- Tổ chức định kỳ Hội nghị phát triển du lịch vùng nhằm thu hút được nhiều ý kiến đa dạng, nhiều chiều từ các nhà quản lý, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp du lịch, là cơ sở tham khảo quan trọng để các địa phương trong vùng hoạch định chính sách.
(8) Xây dựng hệ thống thông tin và trao đổi thông tin du lịch của vùng
- Xây dựng và cập nhật thường xuyên cơ sở dữ liệu vùng về các chỉ tiêu phát triển du lịch cơ bản bao gồm: số lượt khách du lịch (quốc tế và nội địa); chi tiêu và ngày lưu trú trung bình, số lượng lao động trực tiếp và gián tiếp (quy mô, tốc độ tăng trưởng); tổng vốn đầu tư phát triển du lịch (quy mô, cơ cấu theo lĩnh vực và nguồn huy động);... có so sánh với các vùng du lịch khác và cả nước.
- Trao đổi thông tin kinh tế - xã hội giữa các địa phương trong vùng về tình hình phát triển, các khó khăn vướng mắc, các yêu cầu hỗ trợ, hợp tác,…
- Nghiên cứu mô hình phát triển du lịch theo vùng và bài học kinh nghiệm từ các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới.
- Thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi học tập kinh nghiệm giữa các địa phương, doanh nghiệp du lịch, hiệp hội du lịch trong vùng về các hoạt động chuyên môn, hoạt động quản lý nhà nước về du lịch, các hội nghị, hội thảo phát triển du lịch, các chương trình quảng bá xúc tiến du lịch, các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch lớn,... nhằm phát huy lợi thế về du lịch của mỗi địa phương và của toàn vùng một cách hiệu quả nhất.
(9) Hợp tác bảo vệ môi trường, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu trong lĩnh vực du lịch.
- Phối hợp khai thác và bảo vệ có hiệu quả tài nguyên du lịch, đặc biệt là các giá trị di sản có giá trị toàn cầu, các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia mang ý nghĩa vùng và quốc gia.
- Phối hợp trong việc thu gom, xử lý chất thải, đặc biệt chất thải rắn từ hoạt động dịch vụ du lịch, đặc biệt đối với những hoạt động phát triển du lịch mang tính vùng.
- Phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch và phối hợp trong hoạt động ứng phó biến đổi khí hậu; hình thành hệ thống quan trắc cấp vùng về cảnh báo thiên tai sớm, chia sẻ thông tin để phòng chống, giảm nhẹ thiên tai bão lụt, hỗ trợ khắc phục các thảm họa thiên tai ở cấp vùng du lịch.
Các nội dung chủ yếu liên kết phát triển du lịch theo vùng trên đây cần được cụ thể hóa phụ thuộc vào đặc điểm của từng vùng (liên kết nội vùng) và đặc điểm các vùng (liên kết liên vùng).
Như vậy có thể thấy “liên kết phát triển du lịch theo vùng” là yếu tố quan trọng và là yêu cầu mang tính quy luật khách quan đối với phát triển du lịch ở cấp vùng, đặc biệt giữa các địa phương trong một vùng với những lợi thế riêng có thể bổ sung cho nhau hoặc có chung những giá trị về tài nguyên du lịch mà sự phân bố của chúng nằm trên địa bàn chung giữa các địa phương trong vùng. Liên kết càng trở nên cấp thiết đối với hoạt động phát triển du lịch nhằm góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến cấp vùng trong bối cảnh hội nhập mang tính toàn cầu hiện nay.
3. Liên kết phát triển du lịch theo vùng của tỉnh Quảng Ninh
Ngành công nghiệp không khói của Quảng Ninh đang có những đột phá mới trong chặng đường phát triển. Dịch vụ du lịch có nhiều cải thiện, kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch ngày càng được đầu tư mạnh mẽ, huy động được các nguồn vốn lớn ngoài ngân sách. Sau khi Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được phê duyệt đã có tác động tích cực đến hoạt động du lịch của tỉnh thông qua việc thu hút một loạt các dự án đầu tư mới, trong đó có nhiều nhà đầu tư chiến lược như: Bim Group, SunGroup, VinGroup, Myway, Tuần Châu, FLC… đầu tư các hạ tầng du lịch gắn với khu vui chơi giải trí với quy mô lớn. Đồng thời, đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị trong phát triển các sản phẩm du lịch; tập trung phát triển các loại hình sản phẩm có tính đặc trưng, thế mạnh của tỉnh, như: biển, đảo; văn hoá, tâm linh; sinh thái cộng đồng; nghỉ dưỡng, chữa bệnh; biên giới…
Trong phát triển các sản phẩm và không gian du lịch, tỉnh chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện các sản phẩm đã có, phát triển một số sản phẩm du lịch mới với tiêu chí các sản phẩm phải phù hợp với từng thị trường khách, đồng thời gắn các yếu tố văn hóa, giá trị tài nguyên du lịch vào sản phẩm; chú trọng đến các sản phẩm du lịch văn hóa, mua sắm, cảnh quan... Đồng thời, Quảng Ninh cũng xây dựng các tuyến du lịch, điểm du lịch, sản phẩm du lịch của các trung tâm, khu, điểm du lịch để liên kết tạo chuỗi sản phẩm và mở rộng không gian du lịch, kéo dài ngày lưu trú của du khách tại Quảng Ninh. Đáng chú ý là công tác tuyên truyền, quảng bá, phát triển du lịch của tỉnh đã có một bước tiến mới. Quảng Ninh đã xây dựng nhiều kế hoạch quảng bá, xúc tiến rất bài bản, trên cơ sở đó, các cơ quan chức năng, các địa phương và doanh nghiệp tổ chức nhiều hoạt động, chương trình quảng bá, xúc tiến với nhiều nội dung và hình thức phong phú. Trong đó, nổi bật và có tác động mạnh mẽ như chương trình Carnaval Hạ Long, Lễ hội Hoa Anh Đào – Mai Vàng Yên Tử Hạ Long, Lễ hội Yên Tử, Tuần Văn hóa, Thể thao các dân tộc tỉnh Quảng Ninh... đã có tác động lớn đến hoạt động du lịch. Năm 2017, Sở Du lịch tái bản 4.000 ấn phẩm Cẩm nang Du lịch Quảng Ninh bằng 4 ngôn ngữ: Anh, Trung, Nhật, Việt cùng 10.000 bản đồ du lịch Hạ Long và du lịch Quảng Ninh; đồng thời cung cấp thông tin cho khách du lịch trên tổng đài 1900966990 với trên 2.000 lượt khách yêu cầu hỗ trợ về thông tin. Cùng với đó, phối hợp tổ chức đoàn khảo sát phát triển sản phẩm du lịch; tăng cường hợp tác, thúc đẩy hoạt động du lịch giữa Quảng Ninh và các nước...
Xác định tầm quan trọng đặc biệt của việc liên kết, hợp tác; trong đó có việc hợp tác giữa các địa phương, các ngành, các doanh nghiệp cùng nhau phát triển du lịch. Trong thời gian qua Quảng Ninh đã phối hợp tổ chức nhiều chương trình làm việc với các địa phương để hợp tác để cùng phát triển và đã thu được nhiều kết quả rất đáng ghi nhận. Thành phố Hồ Chí Minh là đầu tàu phát triển kinh tế và là trung tâm du lịch lớn nhất của cả nước, là đầu mối thu hút, khai thác khách du lịch trong và ngoài nước đến thành phố và phân bổ đi các địa phương trong toàn quốc. Quảng Ninh luôn ghi nhận và đánh giá cao tinh thần trách nhiệm cao, sự chia sẻ nghĩa tình và sự hợp tác có hiệu quả của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc phát triển du lịch của các địa phương trong cả nước, trong đó có vùng Đông Bắc Bộ và Quảng Ninh.
Với sự chuẩn bị tốt về cơ sở vật chất và chất lượng nguồn nhân lực du lịch cùng với những sản phẩm du lịch mới đa dạng, phong phú, hấp dẫn, Quảng Ninh cũng sẽ tổ chức nhiều sự kiện đặc sắc trên trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt là các sự kiện văn hóa, nghệ thuật đặc sắc, cuốn hút. Và đăng cai các giải thể thao quốc tế gắn với SEA Games 31 và Đại hội thể dục thể thao toàn quốc năm 2022. Cùng với đó là các chính sách ưu đãi của tỉnh và các gói kích cầu du lịch với nhiều chương trình khuyến mại hấp dẫn đồng thời được các doanh nghiệp triển khai. Hy vọng rằng du lịch Quảng Ninh nói riêng và Du lịch Việt Nam sẽ có một mùa và một năm du lịch phục hồi và bứt phá mạnh mẽ.
Để đạt được các kỳ vọng và mục tiêu trên, Quảng Ninh luôn luôn mong muốn tăng cường hợp tác phát triển với tất cả các địa phương trên toàn quốc, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, đầu tàu về phát triển kinh tế và du lịch của cả nước. Chúng tôi cũng mong muốn cộng đồng doanh nghiệp du lịch trên toàn quốc, trong đó có doanh nghiệp du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và doanh nghiệp du lịch Quảng Ninh tiếp tục triển khai hợp tác thiết thực, hiệu quả và trách nhiệm.
Chương trình liên kết hợp tác kích cầu du lịch Quảng Ninh với Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó giúp hai địa phương triển khai những thỏa thuận liên kết hợp tác, đặc biệt tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và Quảng Ninh, doanh nghiệp vùng Đông Bắc có thêm cơ hội giao lưu trao đổi các sản phẩm, dịch vụ du lịch mới. Đồng thời, kỳ vọng với những thông tin của các doanh nghiệp hiện tại, Quảng Ninh tiếp tục là điểm đến dẫn đầu khi khách du lịch đến với vùng Đông Bắc.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc liên kết, hợp tác phát triển du lịch giữa các địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu phát triển chung và chưa khai thác hết tiềm năng, thế mạnh phát triển du lịch của mỗi địa phương. Nhiều nội dung hợp tác chưa được thực hiện đầy đủ, như việc liên kết xây dựng sản phẩm du lịch chung, đào tạo nguồn nhân lực du lịch… Hình thức hợp tác cũng chưa được sáng tạo, bứt phá, còn lúng túng trong việc tìm ra phương pháp, hình thức liên kết hiệu quả. Các hoạt động liên kết chủ yếu tự phát, xuất phát từ nhu cầu hoạt động thực tế, chưa có tầm nhìn, chiến lược, khoa học. Hoạt động liên kết phát triển du lịch vùng mới chỉ dừng lại trong việc tổ chức một số sự kiện cụ thể, chưa có sự liên tục, thực sự hợp sức để cùng xây dựng sản phẩm du lịch, quảng bá thương hiệu… thu hút du khách đến với các tỉnh trong vùng.
Ngoài ra, giữa các địa phương cũng chưa xây dựng được cơ chế ràng buộc, tính hiệu lực bắt buộc trong hoạt động liên kết một cách đầy đủ, rõ ràng. Các doanh nghiệp du lịch lữ hành trên địa bàn vẫn chỉ thụ động với hoạt động đưa khách du lịch đi du lịch trong tỉnh, hoặc đưa khách du lịch là người Việt Nam đi du lịch nước ngoài, mà chưa chú trọng đến việc khai thác khách du lịch đi các tỉnh bạn và chủ động nguồn khách từ nước ngoài vào địa phương mình hay cả vùng nói chung. Sản phẩm trùng lặp, thiếu dịch vụ du lịch, nhân lực chất lượng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của xu thế hội nhập.
Để việc liên kết phát triển du lịch giữa các địa phương được thực hiện có hiệu quả, có tính thiết thực đi vào chiều sâu, các chuyên gia lưu ý các địa phương trong khối liên kết cần quan tâm đến một số nhóm giải pháp như: Điều chỉnh các chủ trương, chính sách phát triển du lịch cho phù hợp với định hướng liên kết phát triển du lịch theo hướng đa dạng hoá sản phẩm du lịch; hợp tác trong hoạt động nghiên cứu thị trường; nghiên cứu phát triển các sản phẩm đặc thù giữa các địa phương; hoàn thiện công tác quản lý điểm đến để tạo môi trường an toàn; hình thành cơ chế quảng bá xúc tiến trong quá trình liên kết; nâng cấp cơ sở vật chất hạ tầng xã hội và có kế hoạch đầu tư có trọng điểm... Các tỉnh, thành phố cần liên kết trong công tác quy hoạch phát triển sản phẩm du lịch, thống nhất xây dựng và thực hiện quy hoạch, phân công trong phát triển sản phẩm, định hướng đầu tư để tranh thủ các nguồn lực, khai thác tốt các lợi thế so sánh của từng địa phương, hình thành được các sản phẩm mang tính đặc trưng riêng của từng địa phương nhưng lại mang dấu ấn chung cho cả vùng, tránh trùng lặp, kém hiệu quả, tạo ra tính hấp dẫn và khả năng cạnh tranh. Trước mắt, cần xây dựng kế hoạch phát triển sản phẩm du lịch chung cho các địa phương.
Trong quá trình phát triển, Quảng Ninh luôn xác định hợp tác, liên kết vùng trong phát triển du lịch đóng vai trò then chốt để thúc đẩy phát triển du lịch một cách toàn diện. Với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, nếu du lịch chỉ phát triển theo từng địa phương nhỏ lẻ sẽ không mang lại hiệu quả cao. Do đó các địa phương và các doanh nghiệp du lịch cần tăng cường liên kết, xây dựng quảng bá các sản phẩm du lịch đặc sắc của địa phương mình, hình thành các chương trình du lịch gắn kết các địa chỉ du lịch độc đáo nhằm phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh và đặc thù sẵn có của địa phương.
Việc liên kết sản phẩm du lịch giữa Quảng Ninh và các tỉnh, thành phố phía Bắc với Thành phố Hồ Chí Minh một mặt giúp tăng nguồn khách du lịch cho các điểm đến du lịch trong chuỗi liên kết, theo đó khách du lịch đến vịnh Hạ Long và Hà Nội có thể mở rộng đến các điểm đến du lịch khác ở phía Bắc và mở rộng đến các điểm đến du lịch phía Nam và ngược lại. Liên kết sản phẩm du lịch giữa các vùng góp phần làm đa dạng hoá sản phẩm du lịch do các sản phẩm du lịch đặc trưng ở mỗi khu vực bổ sung cho nhau. Đồng thời, việc liên kết góp phần kéo dài thời gian lưu trú và tăng chi tiêu của khách du lịch. Từ đó, sẽ góp phần nâng cao hình ảnh du lịch Việt Nam nói chung, du lịch từng khu vực nói riêng.
Việc bắt tay hợp tác du lịch giữa Quảng Ninh, một số tỉnh phía Bắc với Thành phố Hồ Chí Minh được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cơ hội kéo dài thời gian lưu trú, chi tiêu của du khách; thúc đẩy trao đổi dòng khách hai chiều của hai thị trường, tạo đà tăng trưởng nguồn khách nội địa của phía Bắc và phía Nam./.
Phát triển thị trường thương mại điện tử tỉnh Quảng Ninh nhằm thúc đẩy tăng trưởng trong tình hình mới  (27/05/2022)
Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho đối tượng ngươi lao động trên địa bàn  (26/05/2022)
Phát triển kinh tế biển xanh - Định hướng cần thiết để phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam  (26/05/2022)
An ninh mạng ở Liên minh châu Âu: Thực trạng và giải pháp chiến lược  (26/05/2022)
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
- Gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
- Phát triển mô hình tòa soạn hội tụ đa nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí Việt Nam hiện nay
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm