Doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Hồ Chí Minh
TCCS - Sau 3 năm nước ta trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh đã có bước phát triển ở một số nhóm ngành. Tuy chưa nhiều nhưng đáng ghi nhận, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng vẫn chuyển dịch đúng định hướng của Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VIII.
Sản xuất công nghiệp của Thành phố trước khi nước ta gia nhập WTO
Thành phố Hồ Chí Minh có lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp hiện đang hoạt động. Trong đó các doanh nghiệp thuộc sản xuất công nghiệp với ngành, nghề đa dạng thời gian qua đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của Thành phố. Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VIII xác định “tập trung hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang các sản phẩm và ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn gồm: (1) cơ khí chế tạo; (2) điện tử - viễn thông - tin học; (3) công nghiệp hóa chất và dược phẩm; (4) chế biến lương thực - thực phẩm giá trị gia tăng cao”, và cũng nhận định 4 ngành công nghiệp trên là chủ lực, chiếm khoảng 60% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Thành phố.
Năm 2005, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 14,6%. Sang năm 2006, đạt ở mức thấp 13,4%. Những năm gần đây, sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố tăng trưởng không ổn định. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố tăng trưởng trên 2 con số, nhưng mức tăng trưởng không đều. Cụ thể, ngành cơ khí chế tạo mặc dù có ưu thế về thiết bị và thông tin, cũng chỉ đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 15,7%, chiếm tỷ lệ dưới 20% tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Ngành công nghiệp điện tử, năm 2006, chiếm 3,2% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Thành phố, đạt tốc độ tăng trưởng 10,3%. Tốc độ tăng trưởng ngành hóa chất năm 2006 tăng 21,3%, chiếm 19,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Ngành công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm có xu hướng tăng trưởng giảm từ 10,4% ở năm 2005, năm 2006 tăng trưởng còn 6,2%.
Sau khi là thành viên WTO
Ngành cơ khí chế tạo được coi là ngành công nghiệp chủ lực của Thành phố, ngay sau năm đầu nước ta trở thành thành viên của WTO thì tốc độ tăng trưởng đã giảm 3,5% so với cùng kỳ, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Bước vào năm 2008, ngành đã đạt tốc độ tăng trưởng mạnh, tăng 29,1%. Năm 2009, tốc độ tăng trưởng đạt 13,06%, tính theo giá trị, giá cố định đạt 181.893 triệu đồng, giá thực tế đạt 444.155 triệu đồng. Theo kết quả điều tra của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005, 11,1% số doanh nghiệp có trình độ công nghệ tiên tiến; 86% doanh nghiệp có trình độ công nghệ trung bình và 2,9% doanh nghiệp có trình độ công nghệ lạc hậu. Năm 2008, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát về trình độ công nghệ các ngành công nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Kết quả cũng cho thấy, các doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo có trình độ công nghệ chỉ đạt mức trung bình. Như vậy, tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của ngành cơ khí chế tạo cho đến nay vẫn không ổn định là kết quả tất yếu của thực trạng chậm đổi mới công nghệ nhiều năm qua.
Ngành điện tử, năm 2008 chiếm 4,3% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Thành phố, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 2 năm 2007 và 2008 đạt 24,5%. Các doanh nghiệp điện tử có 100% vốn nước ngoài thuộc ngành điện tử của Thành phố là những doanh nghiệp lớn được trang bị máy móc công nghệ hiện đại, cạnh tranh mạnh mẽ với các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trong nước. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đưa ra chiến lược liên doanh, liên kết các thương hiệu nước ngoài với định hướng sản xuất hàng điện tử tiêu dùng phục vụ thị trường nội địa. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành điện tử trước kia chiếm trên 25% giá trị sản xuất ngành điện tử của Thành phố. Nhưng sau 2 năm nước ta là thành viên WTO, nhóm doanh nghiệp này chỉ còn chiếm dưới 15% giá trị sản xuất ngành, đạt tốc độ tăng trưởng 4,8%, chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng toàn ngành điện tử Thành phố (trong năm 2008 toàn ngành đạt tốc độ tăng trưởng 30,1%).
Máy móc thiết bị của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành điện tử lạc hậu về thời gian khoảng 10 đến 15 năm so các doanh nghiệp lớn, với tỷ lệ đầu tư đổi mới công nghệ thấp, khoảng 0,3% – 0,5% mức doanh thu, trong khi tỷ lệ này ở doanh nghiệp lớn ngành điện tử Thành phố khoảng 1%. Tỷ lệ này vẫn thua xa các nước như ấn Độ (5%), Hàn Quốc (10%), Trung Quốc (12%)... Như vậy, chính sách trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP (định chế Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa) đã không thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ.
Mặc dù nước ta đã là thành viên của WTO được 3 năm, nhưng ngành hóa chất thực sự tăng trưởng không ổn định cũng do chậm đổi mới công nghệ trong sản xuất. Năm 2007, tốc độ tăng trưởng đạt 14,9%; năm 2008 tăng 9,4%, chiếm 18,8% tổng giá trị sản xuất công nghiệp; đến năm 2009, đã đạt được 13,05%, chiếm 20,8% tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Nhìn chung, các doanh nghiệp quy mô vừa đầu tư sản xuất chất tẩy rửa, mỹ phẩm có công nghệ tiên tiến, tương đương với Thái Lan, Ma-lai-xi-a. Các doanh nghiệp sản xuất bào chế dược phẩm, sản xuất gia công hàng nhựa và doanh nghiệp sản xuất sơn có trình độ công nghệ từ trung bình đến tiên tiến. Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm điện hóa, sản xuất sản phẩm từ cao su và doanh nghiệp sản xuất thuốc bảo vệ thực vật có trình độ công nghệ trung bình. Trong lĩnh vực sản xuất phân bón, trình độ công nghệ còn lạc hậu. Các cơ sở sản xuất hóa chất cơ bản vẫn có quy mô nhỏ, công suất thấp.
Đối với ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, tốc độ tăng trưởng năm 2007 đã tăng lên 8,3% (trước đó chỉ đạt 6,21%), và tiếp tục tăng 14,3% vào năm 2008, dù kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới từ cuối năm 2007 nhưng ngành chế biến lương thực - thực phẩm năm 2008 vẫn tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung của công nghiệp Thành phố (12,3%). Tuy tốc độ tăng trưởng của ngành chế biến lương thực - thực phẩm đang phục hồi nhưng tỷ trọng trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Thành phố đang giảm dần (từ trên 17% năm 2005, giảm dần xuống còn dưới 15% năm 2008).
Những cam kết của nước ta với WTO đã tác động mạnh đến ngành chế biến lương thực - thực phẩm, chủ yếu là giảm hàng rào thuế quan, xóa bỏ trợ cấp, với chiều hướng tác động diễn ra đồng thời: Thứ nhất, nguyên liệu nhập về với giá rẻ hơn, có điều kiện hạ giá thành nâng cao năng lực cạnh tranh cung cấp nhiều nguồn hàng cho thị trường trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu. Đây là hướng tác động thuận lợi cho các doanh nghiệp có đầu tư công nghệ và tạo được sản phẩm phù hợp với thị hiếu tiêu dùng trong và ngoài nước; thứ hai, hàng hóa thực phẩm giá rẻ được nhập khẩu nhiều hơn, tạo sức ép cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao mới có thể đứng vững trên thị trường nội địa.
Sau 3 năm gia nhập WTO thị trường xuất khẩu nói chung, trong đó có xuất khẩu lương thực - thực phẩm được mở rộng. Tuy nhiên, những mặt hàng chế biến thực phẩm xuất khẩu chính của Thành phố có mức tăng trưởng không cao và chưa tạo được đột biến trong điều kiện thị trường được mở rộng. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu trong nội ngành chậm thay đổi. Nhiều mặt hàng được sản xuất chưa theo dây chuyền sản xuất công nghệ hiện đại, sản xuất còn manh mún, mang tính chất nhỏ lẻ, tiềm ẩn nhiều rủi ro và dễ bị tổn thương bởi những biến động từ bên ngoài. Thành phố cũng chưa chủ động được nguồn nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu. Các doanh nghiệp ngành lương thực, thực phẩm chủ yếu còn ở quy mô vừa và nhỏ, vốn đầu tư thấp dẫn đến năng suất lao động chưa cao, sản phẩm chủ yếu còn ở dạng thô, hàm lượng giá trị gia tăng thấp, chưa có nhiều sản phẩm cao cấp do vậy chủ yếu chỉ đáp ứng thị trường trong nước.
Việc đầu tư sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành lương thực, thực phẩm thường xuất phát từ truyền thống gia đình, dần dần mở rộng dựa vào kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp. Do đó, tiềm lực nghiên cứu và phát triển (R&D) và bí quyết công nghệ (know-how) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khiêm tốn so với các doanh nghiệp lớn; việc xây dựng, bảo vệ, phát triển thương hiệu chưa được chú trọng đúng mức. Do hạn chế kinh phí, nên chiến lược marketing, xúc tiến thương mại chưa bài bản và đồng bộ, thiếu tính chuyên nghiệp. Những yếu tố trên đã làm cho năng lực cạnh tranh của ngành yếu so với nền sản xuất của các quốc gia khác, ngay cả với các nước trong khu vực.
Những giải pháp trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nhìn chung 4 ngành công nghiệp chủ lực của Thành phố Hồ Chí Minh sau 3 năm Việt Nam gia nhập WTO vẫn giữ được tăng trưởng trong bối cảnh thế giới phải chống chọi với khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế. Bên cạnh những thành tựu nhất định đã đạt được, phải nhìn nhận rằng những ngành này do chậm đổi mới công nghệ nên tăng trưởng không đều.
Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chương trình, giải pháp hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngay từ năm 2006, Thành phố đã thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa với thời gian hoạt động 50 năm, có vốn điều lệ 50 tỉ đồng khi thành lập. Đến nay, Quỹ đã tăng vốn điều lệ lên 194,5 tỉ đồng. Thành phố cũng chỉ đạo các sở, ban, ngành, quận, huyện thực hiện tư vấn pháp lý các thủ tục hành chính và tư vấn khoa học nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, như: chương trình thiết kế, chế tạo thiết bị có trình độ công nghệ tiên tiến với chi phí thấp thay thế nhập khẩu nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp ngành cơ khí phát triển; chương trình hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, năng suất và kỹ thuật (ISO 9001, ISO 14000, HACCP, SA8000, 5S, ISO 22000, ISO/IEC 17025) đã hỗ trợ cho hơn 300 doanh nghiệp từ năm 2000 đến nay; chương trình hỗ trợ doanh nghiệp về sở hữu trí tuệ đã tư vấn hàng ngàn lượt cho các tổ chức, cá nhân mỗi năm; chương trình tiết kiệm năng lượng đã cung cấp thông tin trên 10.000 doanh nghiệp, tư vấn giải pháp tiết kiệm năng lượng cho hơn 100 doanh nghiệp với khả năng tiết kiệm năng lượng khoảng 20%... Ngoài ra, Thành phố cũng triển khai thực hiện chương trình khuyến công, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và chuyển giao thiết bị mới nhằm nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về nghiên cứu và phát triển, về chuyển giao công nghệ và sở hữu công nghiệp; đồng thời, tư vấn đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ, hỗ trợ cải tiến thiết bị, hỗ trợ chuyển giao công nghệ ...
Thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11-12-2008 của Chính phủ về “Những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội”, Thành phố đã ban hành Quyết định số 20/2009/QĐ-UBND ngày 27-02-2009 quy định về thực hiện các dự án đầu tư trong nước thuộc Chương trình kích cầu trên địa bàn Thành phố, đã có 39 dự án được cho vay với tổng vốn đầu tư 4.159,6 tỉ đồng, tổng số vốn được hỗ trợ lãi vay 1.957 tỉ đồng, trong đó lĩnh vực công nghiệp có 20 dự án (tổng vốn đầu tư đạt 2.665,663 tỉ đồng; phần vốn đầu tư được hỗ trợ lãi vay là 1.234,607 tỉ đồng).
Vừa qua, Chính phủ đã đưa ra định chế mới trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa là Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30-6-2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23-11-2001. Như vậy, sau gần 8 năm thực hiện chính sách trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, và 3 năm nước ta trở thành thành viên của WTO, Chính phủ đã hoàn thiện một bước khung pháp lý trợ giúp nhóm doanh nghiệp này. Hy vọng rằng, các doanh nghiệp sẽ tận dụng tốt cơ hội, nhanh chóng đổi mới công nghệ.
Các chương trình và giải pháp trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Thành phố đã tạo một bước phát triển mới cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy cơ cấu công nghiệp của Thành phố chuyển dịch đúng định hướng của Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII (2005 - 2010)./.
Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Phiên Khai mạc Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á (6-6-2010)  (06/06/2010)
Lần đầu tiên Việt Nam tham dự hội nghị Thượng đỉnh của CICA  (06/06/2010)
Lễ Khai mạc Festival Huế 2010 - đẹp như một bức tranh  (06/06/2010)
Việt Nam tham dự Hội nghị Thương mại APEC ở Nhật Bản  (05/06/2010)
Tăng cường các giải pháp bình ổn giá  (05/06/2010)
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
- Gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
- Phát triển mô hình tòa soạn hội tụ đa nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí Việt Nam hiện nay
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm