Hợp tác kinh tế Pháp - Việt Nam trên đà phát triển

PGS, TS. Vũ Văn Hà Tạp chí Cộng sản
16:29, ngày 05-03-2014
TCCSĐT - Trong 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ (1973 - 2013), quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư Pháp - Việt Nam đang ngày càng phát triển.

Với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 2.580 tỷ USD và dân số hơn 67 triệu người (năm 2012), Pháp là cường quốc kinh tế lớn thứ năm thế giới và thứ ba về xuất khẩu dịch vụ. Pháp có nhiều doanh nghiệp lớn, có truyền thống lâu đời trong phát minh công nghiệp, hệ thống giáo dục chất lượng cao, đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu - phát triển. Thị trường Pháp có sức hấp dẫn cao đối với kinh tế Việt Nam.

1. Hợp tác kinh tế thương mại

Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, hợp tác thương mại Việt Nam - Pháp liên tục phát triển. Pháp là đối tác thương mại châu Âu lớn thứ ba của Việt Nam (sau Đức và Anh), với kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều đạt 3,2 tỷ USD năm 2012 (tăng 20% so với năm 2011), trong đó kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Pháp đạt 1,898 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Pháp là 1,341 tỷ USD. Chỉ trong 8 tháng đầu năm 2013, giá trị trao đổi hàng hóa Pháp - Việt Nam đạt 2 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 1,27 tỷ USD và nhập khẩu đạt 0,68 tỷ USD. Hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Pháp tăng mạnh hơn hàng hóa của Pháp xuất khẩu sang Việt Nam. Xuất siêu của Việt Nam vào thị trường Pháp được thể hiện rõ ở Bảng sau:

Bảng 1: Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam với Pháp (2000 - 2013)

Đơn vị tính: triệu USD

Năm

Xuất khẩu

Nhập khẩu

XNK

2000

380

329

709

2001

468

317

785

2002

925

356

1281

2003

890

411

1301

2004

557

617

1174

2005

653

448

1101

2006

797

421

1218

2007

884

1155

2039

2008

971

829

1800

2009

808

846

1673

2010

1,095

968

2,063

2011

1,658

1,204

2,863

2012

2,163

1,589

3752

2013*

1.270

680

2000

Ghi chú: * Chỉ tính 8 tháng đầu năm 2013

Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2013

Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Pháp tương đối phong phú, đa dạng, bao gồm: giầy dép; dệt may; đồ gia dụng; hàng nông, lâm, thủy sản; đá quý, đồ trang sức; đồ điện, điện tử; dụng cụ cơ khí; gốm sứ các loại; cao su; than đá; đồ chơi, sản phẩm thể thao, giải trí; sản phẩm nhựa; hàng mây tre đan.

Bảng 2: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Pháp,

(2005 - 2012)

Đơn vị: triệu USD

Mặt hàng

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

Giầy dép

180.4

195

201

195.2

159

194.6

244

237

Dệt may

103.4

142

150

150.3

138.5

146

202

174

Cà phê

22.7

26.5

49

47.5

37.8

26

34

73

Đồ gỗ

74.2

83.8

92

101.3

70.3

82

83

91

Thủ công

8.8

11

11.9

12.8

7.9

10

9.5

7.4

Hải sản

39.3

52

63.6

91.7

83.3

121

131

117

Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2013

Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Pháp bao gồm: máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ; dược phẩm; hóa chất; hàng dệt may cao cấp; đá quý, đồ trang sức; rượu, đồ uống; sản phẩm cao su; dụng cụ quang học, đo lường, y tế; hàng mỹ phẩm; bột mì; xe các loại và phụ tùng.

Bảng 3: Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Pháp

(2005 - 2012)

Đơn vị : triệu USD

Mặt hàng

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

Máy móc thiết bị

189.5

123

733

394.1

187.7

167.7

197

179

Tân dược

81.7

105.9

133

157.7

193

198

230

252

Nguyên liệu dệt may

5.2

6.6

7

8.9

8.3

10.7

11.2

11

Ôtô nguyên chiếc

0.4

NA

NA

1.0

NA

3.7

10.4

15

Linh kiện điện tử

6.2

5.8

9.7

4.0

9.6

13

16.6

10

Phương tiện vận tải

NA

NA

NA

NA

153.6

221.6

307.9

652

Sữa và SP Sữa

NA

NA

NA

NA

10.1

17.5

29

61

Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2013

Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam với Pháp luôn trong tình trạng thặng dư. Do ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 khiến lượng hàng hóa xuất khẩu sang Pháp giảm mạnh làm cho cán cân thương mại của Việt Nam với Pháp bị thâm hụt năm 2009. Tuy nhiên, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Pháp tiếp tục tăng mạnh trong năm 2010 (tăng 35,6% so với năm 2009 và 13% so với năm 2008) giúp Việt Nam tiếp tục đạt được mức thặng dư 0,13 triệu USD trong trao đổi hàng hóa thương mại với Pháp (1).

Biểu đồ 1: Cán cân thương mại Việt Nam - Pháp giai đoạn 2008 - 2012

 
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2013

Năm 2012, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Pháp đạt 2,16 tỷ USD, tăng hơn 30% so với năm 2011, đứng vị trí thứ tư trong các thị trường xuất khẩu của Việt Nam ở châu Âu và đứng thứ 15 trong tổng số các thị trường xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới. Một trong những nguyên nhân khiến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Pháp tăng là do một số mặt hàng xuất khẩu tăng mạnh, dẫn đầu là mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Nếu như năm 2011, trị giá xuất khẩu của mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chỉ ở mức khiêm tốn thì đến năm 2012, tổng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này đã lên đến con số 203 triệu USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2008. Các mặt hàng khác có giá trị xuất khẩu tăng mạnh trong năm 2012 bao gồm: điện thoại các loại và linh kiện (tăng 65%), cà phê (tăng 114%)…

Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa chính sang Pháp vẫn là các mặt hàng như: điện thoại các loại và linh kiện, giày dép các loại, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện…

Biểu đồ 2: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Pháp, năm 2012

 
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2013

Tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Pháp là 1,6 tỷ USD (năm 2012), tăng 31,9% so với năm 2011 (2). Các mặt hàng đứng đầu tăng trưởng bao gồm: sắt thép các loại (tăng 117%), phương tiện vận tải và phụ tùng khác (tăng 111,8%), sữa và sản phẩm từ sữa (tăng 107%). Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu chủ yếu bao gồm: Phương tiện vận tải và phụ tùng khác đạt 652 triệu USD (năm 2012) chiếm 41,04% tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này; dược phẩm đạt 253 triệu USD và chiếm 16% tổng kim ngạch nhập khẩu; máy móc, thiết bị dụng cụ và phụ tùng đạt 179 triệu USD. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Pháp trong 8 tháng đầu năm 2013 gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; giày dép các loại; điện thoại các loại và linh kiện…

Bảng 4: Tỷ trọng xuất nhập khẩu Việt Nam - Pháp năm 2013

Chỉ tiêu

2013*

Xuất nhập khẩu

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Tỷ trọng so với tổng kim ngạch của Việt Nam (%)

1,1

0,8

1,5

Thứ hạng trong tổng số các thị trường nước ngoài vào Việt Nam

19

20

20

Thứ hạng trong tổng số các thị trường châu Âu vào Việt Nam

5

6

4

* Ghi chú: Chỉ tính 8 tháng đầu năm 2013

Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2013

Pháp là thị trường cung cấp nguồn hàng nhập khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam lớn thứ tư ở châu Âu và đứng thứ 20 trong tổng số các thị trường nước ngoài xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam. Với sự hiện diện của khoảng 300 doanh nghiệp Pháp tại Việt Nam, Pháp có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, có mặt trong nhiều lĩnh vực như kết cấu hạ tầng, giao thông, công nghiệp và y tế. Năm 2009, các doanh nghiệp Pháp đã tạo được 26.000 việc làm tại Việt Nam.

2. Hợp tác đầu tư

Đầu tư trực tiếp của Pháp có mặt tại Việt Nam từ năm 1988. Pháp đứng thứ hai ở châu Âu (sau Hà Lan) và đứng thứ 15/92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, với 375 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký 3,14 tỷ USD (năm 2012). Chất lượng cũng như tính bền vững từ các khoản đầu tư của Pháp vào Việt Nam đã giúp Pháp trở thành một trong những đối tác thân thiết nhất của Việt Nam.

Vốn đầu tư của Pháp vào Việt Nam chủ yếu theo hình thức liên doanh (chiếm 34%), hợp đồng hợp tác kinh doanh (21%), đầu tư 100% vốn nước ngoài (20,5%), còn lại là các hình thức công ty cổ phần, BTO, BT và BOT. Quy mô trung bình của một dự án là 11,59 triệu USD/dự án (ở mức thấp so với bình quân chung là 15 triệu USD/dự án).

Trên thực tế, rất nhiều tên tuổi lớn của Pháp trong các lĩnh vực viễn thông, điện lực, dịch vụ, hàng không…, như France Telecom, EDF… đã vào Việt Nam từ khi Việt Nam đổi mới, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế. Một số dự án lớn Pháp đang triển khai tại Việt Nam là: Hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông và FCR Vietnam (chi nhánh của France Telecom tại Việt Nam), cấp phép năm 1997, đầu tư 615 triệu USD vào lĩnh vực dịch vụ viễn thông; dự án Công ty cổ phần Cảng Cái Mép, cấp phép năm 2008, do Terminal Link của Pháp đầu tư 520 triệu USD vào hoạt động dịch vụ khai thác cảng; dự án Nhà máy điện Phú Mỹ 2, cấp phép năm 2001, do Tập đoàn Điện lực Pháp liên kết với Nhật Bản, với tổng vốn đầu tư là 480 triệu USD. Đặc biệt, Tập đoàn Hàng không Vũ trụ châu Âu đang khảo sát xúc tiến đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất công nghiệp hàng không (lắp ráp linh kiện máy bay) tại Đà Nẵng.

Đầu tư trực tiếp của Pháp được phân bổ tại 32 địa phương của Việt Nam và tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: Thông tin và truyền thông (22,9% tổng vốn đầu tư), dịch vụ (17,7%), lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, nước, điều hòa (17%), công nghiệp (12%) và còn lại là nông nghiệp, phân phối hàng hóa, giải trí, xây dựng và tài chính ngân hàng; phân bổ tại 32 địa phương, dẫn đầu là Bà Rịa - Vùng Tàu (8 dự án trị giá 1 tỷ USD), Thành phố Hồ Chí Minh (110 dự án trị giá 852,7 triệu USD), Hà Nội (71 dự án trị giá 331 triệu USD).

Mặc dù trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, đặc biệt là khó khăn tại các nước châu Âu, các nhà đầu tư Pháp vẫn tin tưởng vào thị trường Việt Nam và nhận thấy những cơ hội kinh doanh lớn tại Việt Nam trên mọi lĩnh vực như công nghệ thông tin, dịch vụ, du lịch, kết cấu hạ tầng, điện, nước và nông nghiệp.

3. Hỗ trợ phát triển chính thức và các hình thức hợp tác khác

Hiện Pháp là nhà tài trợ song phương vốn hỗ trợ chính thức (ODA) hàng đầu châu Âu và thứ hai thế giới (sau Nhật Bản) cho Việt Nam với tổng vốn tài trợ đạt trên 2,5 tỷ USD. Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (năm 2011), Pháp cam kết hỗ trợ 150 triệu USD (năm 2012) cho Việt Nam. Ở châu Á, Việt Nam đứng thứ hai trong số các nước nhận ODA của Pháp (sau Áp-ga-ni-xtan). Việt Nam cũng là một trong số ít nước được hưởng cả ba kênh viện trợ tài chính của Pháp là viện trợ phát triển chính thức từ ngân sách, cho vay ưu đãi từ Cơ quan Phát triển Pháp (Agency of French Development - AFD) và từ Quỹ Đoàn kết ưu tiên (Fund of Solidarity Priority - FSP). Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ quốc tế giúp Việt Nam tháng 12-2012, Pháp đã cam kết tài trợ 340 triệu USD giúp Việt Nam trong năm 2013. Các lĩnh vực ưu tiên hợp tác chính là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, chuyển giao công nghệ, nông nghiệp, công nghiệp và tài chính. Tính đến năm 2013, Pháp đã cấp vốn vay ưu đãi giúp Việt Nam lên tới 2,2 tỷ ơ-rô.

Bảng 5: Cam kết tài trợ của Pháp cho Việt Nam

Đơn vị: triệu USD

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

93,2

69

116

388

72,5

100

278

378,26

221

150

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2013

Hợp tác giáo dục và đào tạo Pháp - Việt Nam đã hình thành và phát triển từ đầu những năm 1980. Pháp luôn coi giáo dục và đào tạo là mục tiêu ưu tiên trong hoạt động hợp tác tại Việt Nam, tập trung chủ yếu vào việc giảng dạy và phát triển tiếng Pháp, đào tạo nguồn nhân lực ở bậc đại học, sau đại học trong nhiều lĩnh vực: Quản lý kinh tế, ngân hàng, tài chính, luật, công nghệ mới…

Pháp đang triển khai một số dự án trọng điểm trong lĩnh vực đào tạo tại Việt Nam như: Chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao tại Việt Nam, Trung tâm đào tạo về quản lý Việt - Pháp, dự án thành lập hai Trung tâm Đại học Pháp tại Đại học Quốc gia Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Viện tin học Pháp ngữ. Tháng 10-2010, trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, do Pháp tài trợ 100 triệu ơ-rô, đã khai giảng khóa học đầu tiên. Đây là 1 trong 4 trường đại học tiêu chuẩn quốc tế tại Việt Nam.

Hằng năm, Chính phủ Pháp dành 80 suất học bổng cho sinh viên Việt Nam sang Pháp, tập trung chủ yếu cho các chương trình đào tạo ở bậc học thạc sĩ và tiến sĩ. Số lượng sinh viên Việt Nam du học tại Pháp tăng khoảng 40% trong thập kỷ 2000 - 2010 với khoảng 5.000 sinh viên; Pháp là nơi có lượng du học sinh Việt Nam lớn thứ ba trên thế giới. Hiện có hơn 7.000 sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam đang theo học tại các giảng đường đại học tại Pháp và tăng trung bình 30%/năm trong giai đoạn (2000 - 2013). Pháp khẳng định sẽ hợp tác và hỗ trợ Việt Nam thực hiện kế hoạch đào tạo 10.000 tiến sĩ giai đoạn 2010 - 2020.

Hợp tác Việt Nam - Pháp trong lĩnh vực khoa học - công nghệ được thực hiện thông qua các dự án do Quỹ Đoàn kết ưu tiên của Pháp tài trợ. Các dự án này thường là các chương trình lớn, dài hạn về nghiên cứu, phát triển công nghệ, đào tạo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát huy giá trị văn hóa, tăng cường năng lực về pháp luật và hành chính… Tháng 3-2007, Hiệp định Hợp tác khoa học và công nghệ giữa hai Chính phủ Pháp - Việt Nam đã được ký kết nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các chuyên gia, cơ quan và tổ chức khoa học - công nghệ của hai nước tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác.

Về hợp tác y tế, Pháp ưu tiên giúp Việt Nam đào tạo ngành y, tăng cường đào tạo nhân viên chăm sóc, củng cố khả năng quản lý bệnh viện. Hai bên Pháp - Việt Nam đang nghiên cứu hiện đại hóa trường Đại học Y Hà Nội thành Viện - Trường theo mô hình CHU (Centre Hospitalier Universitaire) của Pháp. Hiện có 30 dự án hợp tác đào tạo y học và cận y học như đào tạo bác sĩ nội trú tại các bệnh viện Pháp. Các dự án hợp tác này được tài trợ từ các quỹ đối tác bệnh viện của Bộ Ngoại giao Pháp và quỹ riêng của các bệnh viện Pháp.

Là quốc gia có thế mạnh về công nghiệp dược phẩm và nông nghiệp, Pháp giữ vị trí đặc biệt quan trọng trên thị trường dược phẩm. Pháp còn có khả năng hỗ trợ Việt Nam về các lĩnh vực khác như công nghệ cao, công nghiệp máy bay, kết cấu hạ tầng, giao thông, đô thị hóa, xây dựng và xử lý nước…Xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp Pháp tại Việt Nam sẽ ngày càng phát triển và mang tính ổn định cao, xu hướng này đang ngày càng lớn mạnh, thể hiện sức hấp dẫn của Việt Nam.

Năm 1998, Hiệp hội các doanh nghiệp Pháp tại Việt Nam được thành lập. Hiện Hiệp hội có gần 300 doanh nghiệp và tạo ra hơn 60.000 việc làm với doanh thu trên 5 tỷ USD. Hiệp hội là cầu nối quan trọng giữa các doanh nghiệp Pháp - Việt Nam, đóng góp tích cực thúc đẩy mối quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa hai quốc gia. Năm 2013, Hiệp hội đã cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp thành viên có trụ sở tại Việt Nam hoặc có ý định khám phá thị trường Việt Nam, góp phần thúc đẩy và hỗ trợ các doanh nghiệp Pháp muốn đầu tư dài hạn tại Việt Nam.

Trong quan hệ đối tác Việt Nam - Pháp giai đoạn 2006 - 2010, Pháp ưu tiên hỗ trợ Việt Nam vào 5 lĩnh vực là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, chuyển giao công nghệ, nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.

Bảng 6: Các Hiệp định hợp tác Pháp - Việt Nam giai đoạn 1989 - 2013

Hiệp định hợp tác Pháp - Việt Nam

Năm ký kết

Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật

1989

Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư

1992

Hiệp định hợp tác y tế và y học

1992

Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần

1993

Hiệp định về hợp tác pháp luật và tư pháp

1993

Hiệp định hợp tác về du lịch

1996

Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự

1999

Hiệp định hợp tác hàng hải

2000

Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi

2000

Hiệp định về miễn thị thực lưu trú ngắn hạn đối với người mang hộ chiếu ngoại giao

2004

Hiệp định hợp tác khoa học - công nghệ

2007

Hiệp định về hợp tác trong lĩnh vực giữ gìn trật tự an toàn xã hội

2009

Hiệp định về hợp tác sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình

2009

Hiệp định đối tác chiến lược

2013

Nguồn: Theo TTXVN, ngày 30-9-2013

Năm 2013, Pháp trở thành đối tác chiến lược thứ 15 của Việt Nam (3). Nét đặc thù trong quan hệ Việt Nam - Pháp là hợp tác phi tập trung (giữa các địa phương) khởi đầu từ đầu những năm 1990. Hiện có 38 địa phương của Pháp có quan hệ đối tác với 18 tỉnh, thành của Việt Nam. Từ năm 1990, đã có 235 dự án hợp tác phi tập trung giữa các địa phương hai nước tại các đô thị lớn của Việt Nam.

Tóm lại, Pháp là một trong những nước dẫn đầu châu Âu trong lĩnh vực thương mại, đầu tư và hợp tác phát triển và cũng là một trong những nước cung cấp ODA sớm nhất cho Việt Nam. Sự hỗ trợ hiệu quả của Pháp trong lĩnh vực hợp tác phát triển đã góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội và phát triển bền vững của Việt Nam. Với số lượng trên 300 doanh nghiệp của Pháp hiện đang kinh doanh tại Việt Nam, hy vọng hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia ngày càng được mở rộng, đặc biệt trong những lĩnh vực như xây dựng kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải, năng lượng, hàng không - vũ trụ, nông nghiệp và công nghiệp dịch vụ. Việt Nam đang có vai trò và vị thế ngày càng tăng trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN). Kể từ khi Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc có hiệu lực (2010), hợp tác kinh tế với Việt Nam, các nhà đầu tư Pháp có thể xuất khẩu sang khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới. Việt Nam sẽ là cầu nối để hàng hóa của Pháp vào thị trường các nước ASEAN và Trung Quốc. Ngược lại, Pháp cũng là cầu nối để hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU. Hợp tác Pháp - Việt Nam ngày càng chặt chẽ, góp phần thúc đẩy quan hệ EU - ASEAN ngày càng phát triển./.

----------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

- Thúy Hiền (năm 2013): “Việt Nam - Đối tác thương mại và công nghiệp quan trọng của Pháp ở Đông Nam Á”. Hội thảo ngày 16-5-2013 tại Paris do Văn phòng Thương mại và công nghiệp Pa-ri (CCIP) tổ chức

- Tình hình thị trường Pháp và quan hệ ngoại giao, thương mại với Việt Nam những năm gần đây, theo Cục Xúc tiến thương mại tháng 5-2013

- Bùi Thanh Sơn (năm 2011): Về đối tác và quan hệ đối tác của Việt Nam, trong cuốn “Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn mới” Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội tháng 11-2011

- Thomas Renard (năm 2010): Strategy Wanted: The EU and Strategy Partnership, Security Brief, N 13, September 2010

- Báo cáo khảo sát của Đoàn công tác Tạp chí Cộng sản từ ngày 11-10 đến ngày 26-10-2013 tại Pháp

- Các trang web của Bộ Ngoại giao Pháp và EU tại Việt Nam

Chú thích:

(1) Theo Thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2013

(2) Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam

(3) Tính đến tháng 9-2013, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 15 quốc gia (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Anh, Hà Lan, Đan Mạch, Đức, I-ta-li-a, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po và Pháp) và có quan hệ đối tác toàn diện với 10 quốc gia (Niu Di-lân, Ô-xtrây-li-a, Ma-lai-xi-a, Vê-nê-xu-ê-la, Chi-lê, Bra-xin, Ác-hen-ti-na, Nam Phi, U-crai-na và Hoa Kỳ). Trong đó, quan hệ với Trung Quốc và Nga đã được nâng lên thành đối tác chiến lược toàn diện.