TCCS - Những năm gần đây, được hưởng lợi từ chương trình 134, 135 diện mạo nông thôn Lào Cai đã có nhiều đổi thay. Góp sức vào sự tiến bộ đó là việc thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường, xây dựng làng văn hóa - sức khỏe ở nông thôn. Kết quả đó được khẳng định và nổi bật lên trong năm 2009.

Lào Cai là tỉnh vùng cao, biên giới phía Bắc, nơi quần tụ của 25 dân tộc anh em, trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 64,09%. Hiện, toàn tỉnh có 8 huyện, 1 thành phố, với 164 xã, phường, thị trấn, trong đó có 95 xã thuộc Chương trình 135, có 3 huyện được hưởng chính sách (Nghị quyết 30a của Chính phủ). So với cả nước, đến nay Lào Cai vẫn còn là một tỉnh nghèo, GDP bình quân đầu người mới bằng 50% của cả nước; tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao, trình độ dân trí không đồng đều, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm so với yêu cầu, sự hình thành các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh còn chưa rõ nét, nhất là ở vùng cao biên giới, thị trường tiêu thụ chưa có điều kiện phát triển do chi phí vận chuyển lớn. Cơ sở vật chất như: phòng học, trạm y tế, giao thông nông thôn, nước sạch, thủy lợi ở vùng cao, vùng sâu, vùng đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn. Kết cấu hạ tầng chưa tương xứng với tốc độ phát triển và gia tăng sản xuất, thương mại và du lịch.

Xác định Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế -xã hội ở địa phương, tỉnh Lào Cai đã chú trọng quan tâm chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

Bằng nhiều cách làm hay, sáng tạo, từ việc đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương đến công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện với phương châm hướng về cơ sở; thông qua công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, từ gia đình, nhà trường đến xã hội nên Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở Lào Cai đạt được kết quả đáng ghi nhận. Tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được tổ chức, tuyên truyền và cổ động tại 8 huyện. Tỉnh mở 2 lớp tập huấn cho 54 người là giáo viên nguồn để phục vụ cho công tác tuyên truyền về nước sạch và vệ sinh môi trường tại các ngành và các địa phương; 3 lớp tập huấn, hướng dẫn sử dụng công trình cấp nước và nhà vệ sinh cho 56 giáo viên và học sinh 3 trường học tại xã Văn Sơn, huyện Văn Bàn; với 1.217 người được tập huấn nghiệp vụ quản lý, khai thác công trình cấp nước sinh hoạt và hướng dẫn thành lập tổ quản lý công trình cấp nước ở cơ sở; 86 người được tập huấn nâng cao về kỹ thuật vận hành, kỹ thuật sửa chữa, bảo dưỡng công trình cấp nước sinh hoạt ở xã. Đồng thời, tổ chức 17 lớp tập huấn kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe, kỹ năng sử dụng tài liệu truyền thông về sử dụng và bảo quản nguồn nước sạch, hố xí hợp vệ sinh, vệ sinh gia đình, làng bản, xử lý rác, rửa tay bằng xà phòng tại trung tâm các huyện cho 516 học viên là cán bộ Ban chăm sóc sức khỏe nhân dân, cán bộ y tế xã, nhân viên y tế thôn, bản, trưởng thôn, bản các xã đăng ký chuẩn quốc gia về y tế.

Để đẩy mạnh việc thực hiện, 25 bài viết về chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường đã đăng tải trên Báo Lào Cai, Đài Phát thanh - Truyền hình Lào Cai, đài phát thanh - truyền hình huyện; phát hành và chiếu phim tại các địa phương được lồng tiếng bằng 3 thứ tiếng Kinh, Dao, Mông. Cung cấp 600 quyển tranh lật dành cho cộng tác viên làm tài liệu đi tuyên truyền tại gia đình, thôn, bản; 2.000 tờ áp-phích treo, dán ở nơi tập trung đông dân cư (như ủy ban nhân dân xã, trường học, nhà văn hóa, chợ, bến xe, nhà trưởng thôn, nhà y tế bản...). In sao 182 đĩa VCD cấp cho cộng tác viên của 4 xã điểm là: Hợp Thành, Tả Phời (thành phố Lào Cai), Bảo Hà (huyện Bảo Yên), Nàn Sán (huyện Si Ma Cai). Duy trì tốt công tác kiểm tra, giám sát, lồng ghép giao ban, theo dõi công tác truyền thông về nước sạch vệ sinh môi trường 1 lần/1 quý tại các trạm y tế xã và thôn, bản.

Để thực hiện cuộc vận động sâu rộng và hiệu quả hơn, Ban chỉ đạo của tỉnh giao cho Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện truyền thông tới tất cả các cấp học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở, trong đó tập trung chủ yếu vào 80 trường, điểm trường thuộc 3 cấp học (mầm non 27 trường, tiểu học 36 trường, trung học cơ sở 17 trường). Mở 3 lớp cho 187 học viên bao gồm cán bộ chuyên môn các cấp học của 9 phòng giáo dục và đào tạo huyện, thành phố thông qua lớp bồi dưỡng hè (Ban điều hành cấp tỉnh hỗ trợ văn phòng phẩm, kinh phí báo cáo viên và một số điều kiện tổ chức lớp tập huấn). Cấp phát tài liệu truyền thông về nước và vệ sinh môi trường cho 65 trường thuộc các cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở được tham gia Dự án thông qua hoạt động "Ngày Hội chúng em làm vệ sinh" năm 2009 tại 65 trường được xây dựng công trình vệ sinh; 100% số cán bộ, giáo viên, nhân viên của các trường điểm.

Dưới sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh, sự vào cuộc của các cấp, các ngành, sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân các dân tộc trên địa bàn, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; nguồn vốn đầu tư được sử dụng đúng mục đích, 100% số các huyện, thành phố đều được hưởng và phát huy hiệu quả của Chương trình. Năm 2009, toàn tỉnh đã xây dựng mới được 66 công trình cấp nước sinh hoạt tự chảy tập trung; 2.019 công trình cấp nước nhỏ lẻ hộ gia đình; 70 nhà vệ sinh cho trường học; 12 nhà vệ sinh cho trạm y tế xã và 3.910 nhà vệ sinh hộ gia đình... Toàn tỉnh có 96.573 hộ ở khu vực nông thôn đạt tiêu chí theo Chương trình giai đoạn đến năm 2010; có 72.403/96.573 hộ bằng 75% số hộ được cấp nước với công trình hợp vệ sinh; 65,9% số hộ có nhà tiêu trong đó có 28.972/96.573 hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 30%. Số hộ nông thôn có chăn nuôi là 94.641/96.573 hộ, chiếm 98% tổng số hộ nông thôn, trong đó: số hộ có chuồng trại và công trình xử lý chất thải chăn nuôi hợp vệ sinh là 52.999 hộ đạt 56%. Số trường học, điểm trường có nhà vệ sinh xây kiên cố là 758/1.596 trường, điểm trường, đạt 47,5%. Số trạm y tế đã có công trình cấp nước và vệ sinh kiên cố là 125/144 đạt 86,6%. Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh và điều kiện môi trường sống được nâng lên. Nhận thức về tầm quan trọng của nước sạch và vệ sinh môi trường của nhân dân có chuyển biến rõ rệt, do đó việc thực hiện xã hội hóa công tác nước sạch và vệ sinh môi trường, xây dựng làng văn hóa - sức khỏe đạt được những kết quả nhất định, giảm dần tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước.

Qua thực tiễn, bước đầu có thể rút ra một số kinh nghiệm:

Thứ nhất, phải có sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy, chính quyền địa phương, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Các cấp, các ngành phải cụ thể hóa những văn bản hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh, sát thực với tình hình thực tế ở cơ sở.

Thứ hai, chú trọng công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, nâng cao nhận thức cho người dân về tầm quan trọng của nước sạch và vệ sinh môi trường trong tình hình hiện nay, bắt đầu là từ sự gương mẫu đi đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", đặc biệt là việc thực hiện xã hội hóa công tác nước sạch và vệ sinh môi trường. Coi đây là một trong những tiêu chí để bình xét công nhận gia đình, thôn bản văn hóa - sức khỏe.

Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong quá trình tổ chức thực hiện các công trình thuộc dự án. Duy trì tốt chế độ báo cáo tiến độ định kỳ từ cơ sở về Ban chỉ đạo tỉnh, đặc biệt là các công trình được phân cấp cho xã làm chủ đầu tư.

Thứ tư, thực hiện tốt việc thanh quyết toán các công trình đã hoàn thành được đưa vào sử dụng. Công khai, dân chủ, nghiêm túc thực hiện hiệu quả nguồn vốn huy động đóng góp của nhân dân trong việc đầu tư xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt. Thường xuyên duy tu, bảo dưỡng kịp thời các công trình đã được đưa vào sử dụng.

Thứ năm, tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, khoáng sản; khai thác theo quy hoạch và sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên, chú trọng đến công tác trồng mới và bảo vệ rừng. Thường xuyên thu thập tổng hợp thông tin và xử lý nghiêm những cá nhân và tập thể gây ô nhiễm môi trường và nguồn nước sạch trên địa bàn tỉnh.

Thứ sáu, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nhất là khâu thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch, nhanh gọn và hiệu quả nhằm hạn chế thời gian giải quyết công việc, tránh gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp./.