Những điểm mới trong chính sách, chiến lược phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Trung Quốc trong Quy hoạch 5 năm lần thứ 15 và hàm ý đối với Việt Nam
TCCS - Trong cạnh tranh chiến lược công nghệ ngày càng gay gắt, các nước lớn đang điều chỉnh chiến lược phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo hướng chủ động, tập trung và định hướng dài hạn nhằm xác lập vị thế cường quốc công nghệ. Hội nghị toàn thể lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XX Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thông qua “Kiến nghị về việc xây dựng Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 15 (2026 - 2030)” (Quy hoạch 15). Trong đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là trụ cột của hiện đại hóa, định hình mô hình phát triển của Trung Quốc trong nỗ lực trở thành “cường quốc khoa học - công nghệ” thế giới.
Đối với Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đã xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội… Trong bối cảnh chuẩn bị tổng kết một năm triển khai Nghị quyết chiến lược đặc biệt này, việc nghiên cứu những điểm mới về chiến lược khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quy hoạch 15 của Trung Quốc giúp Việt Nam tham chiếu trong hoàn thiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy nhanh việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW vào cuộc sống, tạo chuyển biến rõ rệt về năng lực đổi mới và sức cạnh tranh quốc gia.
Bối cảnh ra đời và những nội dung chính trong Quy hoạch 15 của Trung Quốc
“Kiến nghị về việc xây dựng Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm” của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc là văn kiện cốt lõi định vị tầm nhìn chiến lược, xác lập các mục tiêu tổng quát, chỉ tiêu chủ yếu và định hướng nhiệm vụ - giải pháp trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại cho một giai đoạn mới. Trên cơ sở đó, Quốc vụ viện xây dựng Bản Tổng cương Kế hoạch 5 năm, trình Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc phê chuẩn, sau đó công bố và tổ chức thực thi; các bộ, ngành và địa phương căn cứ để xây dựng kế hoạch triển khai chi tiết.
Quy hoạch 15 được xây dựng trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến động sâu sắc, khác biệt căn bản so với thời điểm hình thành “Kiến nghị về việc xây dựng Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2020 - 2021” (Quy hoạch 14) cách đây 5 năm.
Trên bình diện quốc tế, Quy hoạch 14 được xây dựng trong bối cảnh thế giới chịu tác động mạnh của đại dịch COVID-19, kinh tế toàn cầu suy giảm và chủ nghĩa bảo hộ thương mại gia tăng. Cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc chủ yếu tập trung vào thương mại và một số lĩnh vực công nghệ cao; chuỗi cung ứng toàn cầu mặc dù chịu sức ép nhưng vẫn giữ mức liên thông đáng kể. Vì vậy, Quy hoạch 14 tập trung vào mục tiêu “ổn định - phục hồi - hiện đại hóa từng bước”, nhấn mạnh đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và số hóa song chưa đặt yêu cầu cấp bách về tái cấu trúc toàn diện lực lượng sản xuất hay tự chủ công nghệ chiến lược.
Tuy nhiên, bước sang giai đoạn chuẩn bị Quy hoạch 15 (2023 - 2025), môi trường quốc tế thay đổi sâu sắc. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt giữa Trung Quốc và Mỹ chuyển sang trạng thái toàn diện và dài hạn. Mỹ cùng các nước đồng minh mở rộng kiểm soát công nghệ cao đối với Trung Quốc sang chip bán dẫn, thiết bị quang khắc, phần mềm thiết kế chip, công nghệ lượng tử, trí tuệ nhân tạo (AI), robot và sinh học tổng hợp. Chuỗi cung ứng dịch chuyển theo hướng giảm phụ thuộc vào Trung Quốc, trong khi “an ninh hóa kinh tế” và “tự chủ công nghệ” trở thành nguyên tắc chủ đạo trong chiến lược công nghiệp của nhiều nền kinh tế lớn. Điều đó buộc Trung Quốc tái cấu trúc toàn diện lực lượng sản xuất và hệ thống công nghiệp.
Ở trong nước, sự khác biệt giữa hai giai đoạn ra đời Quy hoạch 14 và Quy hoạch 15 rõ nét. Khi Quy hoạch 14 bắt đầu thực thi, nền kinh tế Trung Quốc phục hồi mạnh sau đại dịch COVID-19; công nghiệp chế tạo duy trì đà tăng trưởng tốt; bất động sản vẫn là trụ cột quan trọng; khu vực doanh nghiệp tư nhân có sức bật đáng kể; niềm tin tăng trưởng được củng cố. GDP danh nghĩa tăng từ khoảng 114 - 117 nghìn tỷ Nhân dân tệ đầu kỳ lên gần 140 nghìn tỷ Nhân dân tệ vào các năm 2024 - 2025 theo công bố sơ bộ, phản ánh quy mô kinh tế tiếp tục mở rộng, dù chịu tác động của biến động tăng trưởng, tỷ giá và chu kỳ thị trường bất động sản. Nhiều phân tích quốc tế cho rằng, Trung Quốc tiếp tục là một động lực lớn của kinh tế thế giới khi đóng góp khoảng 30% vào tăng trưởng GDP toàn cầu(1).
Tuy nhiên, từ năm 2022 trở đi, Trung Quốc đối mặt với nhiều thách thức nội tại: tăng trưởng chậm lại, thị trường bất động sản suy giảm sâu, tiêu dùng yếu, doanh nghiệp tư nhân thận trọng, năng suất nhân tố tổng hợp tăng chậm, áp lực việc làm gia tăng. Các đánh giá giữa kỳ Quy hoạch 14 của Trung Quốc cho thấy năng lực đổi mới công nghiệp cần được nâng cao; sự tắc nghẽn trong các công nghệ cốt lõi trong các lĩnh vực chính vẫn còn tồn tại, nhiều lĩnh vực mới nổi gặp tình trạng dư thừa và đầu tư quá mức(2)…
Từ những biến chuyển nêu trên, thay đổi cốt lõi trong Quy hoạch 15 là tái cấu trúc mô hình phát triển nhằm ứng phó cạnh tranh chiến lược toàn cầu và các thách thức nội tại mới (đáng chú ý là rủi ro tài chính và an ninh dân số). Quy hoạch 15 thể hiện sự chuyển dịch từ mục tiêu phục hồi/hoàn thiện cơ bản (Quy hoạch 14) sang mục tiêu tăng trưởng chất lượng cao, an ninh tổng hợp và phát triển bền vững trên các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, tài nguyên - môi trường, quốc phòng - an ninh và đối ngoại.
Về kinh tế, trong khi Quy hoạch 14 tập trung ổn định kinh tế vĩ mô và phục hồi sau đại dịch COVID-19, Quy hoạch 15 chuyển mạnh sang mục tiêu tăng trưởng chất lượng cao, nhấn mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, mở rộng tiêu dùng nội địa, củng cố tài khóa, phòng ngừa rủi ro tài chính và nâng cao sức chống chịu của chuỗi cung ứng. Cải cách thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cải cách doanh nghiệp nhà nước và nâng cao hiệu quả thị trường vốn được thể hiện rõ ràng và toàn diện hơn so với Quy hoạch 14.
Trong lĩnh vực xã hội, điểm mới nổi bật của Quy hoạch 15 là đặt “an ninh dân số” và ứng phó già hóa ở vị trí trung tâm, yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí, dịch vụ người cao tuổi, chính sách hỗ trợ sinh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Quy hoạch 15 đồng thời mở rộng trọng tâm sang nâng cao phúc lợi xã hội, thu hẹp bất bình đẳng và tăng cường quản trị xã hội hiện đại. Về phát triển vùng, văn kiện ưu tiên nâng cấp các cụm đô thị chiến lược, tăng cường liên kết vùng và phát triển cân bằng, thay cho định hướng hoàn thiện hạ tầng và đô thị hóa cơ bản của Quy hoạch 14. Trong lĩnh vực tài nguyên - môi trường, Quy hoạch 15 chuyển từ tiếp cận “giảm phát thải” sang cách tiếp cận toàn diện hơn: kinh tế tuần hoàn, an ninh tài nguyên, ổn định chuỗi cung ứng năng lượng và phát triển xanh bền vững.
Đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh, Quy hoạch 14 nhấn mạnh hiện đại hóa quân đội, Quy hoạch 15 mở rộng sang “an ninh tổng hợp”, bao gồm an ninh tài chính, lương thực, dân số, chuỗi cung ứng, cùng với tăng cường năng lực răn đe chiến lược đa miền. Về đối ngoại, Quy hoạch 14 chú trọng mở cửa và hội nhập rộng, trong khi Quy hoạch 15 chuyển sang “mở cửa có trọng điểm”, điều chỉnh Sáng kiến “Vành đai, Con đường” theo hướng xanh và bền vững, mở rộng mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) và tăng cường liên kết khu vực nhằm thích ứng cạnh tranh chiến lược toàn cầu.
Những điểm mới nổi bật trong chiến lược Quy hoạch 15
Trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Trung Quốc bước vào giai đoạn xây dựng Quy hoạch 15 với nhiều thành tựu đáng kể sau khi triển khai Quy hoạch 14, tiếp tục củng cố vị thế là một trong những trung tâm đổi mới sáng tạo và phát triển khoa học - công nghệ lớn nhất thế giới, đồng thời tạo tiền đề quan trọng để nâng tầm tư duy phát triển.
Tổng chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) năm 2024 của Trung Quốc đạt 3.613 nghìn tỷ Nhân dân tệ (khoảng 500 tỷ USD), tăng 8,3% so với năm 2023 và duy trì tỷ lệ R&D/GDP ở mức 2,68%, xếp thứ 12 toàn cầu. Đáng chú ý, chi cho nghiên cứu cơ bản đạt 249,7 tỷ Nhân dân tệ, tương đương 6,91% tổng chi R&D, tăng 10,5%, phản ánh ưu tiên chiến lược vào nghiên cứu nền tảng và tri thức gốc.
Về đổi mới sáng tạo, Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu thế giới về sáng chế, với 1.045 triệu bằng sáng chế mới đăng ký năm 2024 (tăng 13,5%) và 4.756 triệu bằng sáng chế có hiệu lực; lần đầu vượt ngưỡng 4 triệu bằng có hiệu lực của một quốc gia. Trên bảng xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), Trung Quốc vươn lên thứ 10 thế giới vào năm 2025, cải thiện mạnh so với vị trí 34 năm 2012(3).
Ở các lĩnh vực công nghệ mới, Trung Quốc củng cố vị thế hàng đầu về năng lượng tái tạo ở một số tiêu chí như quy mô công suất điện gió - mặt trời và sản xuất thiết bị năng lượng sạch; đồng thời, duy trì vai trò nổi bật trong sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu xe điện. Bên cạnh đó, năng lực sản xuất chip ở phân khúc trung cấp được mở rộng; hạ tầng số (mạng 5G, trung tâm dữ liệu) tiếp tục tăng trưởng nhanh; xuất khẩu sản phẩm công nghệ xanh (pin mặt trời, pin LFP, thiết bị lưu trữ năng lượng) tăng mạnh; lĩnh vực không gian vũ trụ tiếp tục đạt các mốc mới như hoàn thiện Trạm Vũ trụ Thiên Cung và triển khai sứ mệnh thám hiểm.
Về chuyển đổi số, Trung Quốc xây dựng hạ tầng số quy mô lớn, dẫn đầu về thương mại điện tử, thanh toán số, công nghiệp internet và tích hợp số hóa trong sản xuất. Nhiều ngành công nghiệp như xe năng lượng mới, pin lưu trữ, thiết bị năng lượng tái tạo và điện tử tiêu dùng đạt năng lực cạnh tranh quốc tế cao. Đặc biệt, Trung Quốc nổi lên như một trong những trung tâm phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) hàng đầu thế giới, đạt nhiều kết quả nổi bật cả về năng lực nghiên cứu, ứng dụng và quy mô thị trường.
Những biến đổi quốc tế sâu rộng, các thách thức mới xuất hiện sau Quy hoạch 14 và các thành tựu về khoa học - công nghệ - chuyển đổi số - công nghiệp hóa nêu trên tạo nền tảng trực tiếp để Trung Quốc xây dựng Quy hoạch 15 với mục tiêu cao hơn, định hướng rõ hơn và yêu cầu cấp bách hơn về đổi mới sáng tạo, tự chủ công nghệ, phát triển công nghiệp tương lai và hình thành lực lượng sản xuất chất lượng mới. Cụ thể, Mục IV Quy hoạch 15 xác định mục tiêu đẩy nhanh tự cường, tự chủ khoa học - công nghệ trình độ cao, dẫn dắt phát triển lực lượng sản xuất chất lượng mới; đồng thời xác định 4 nhiệm vụ lớn: 1- Tăng cường phát minh gốc và đạt đột phá về công nghệ lõi then chốt; 2- Thúc đẩy kết hợp sâu sắc giữa đổi mới khoa học - công nghệ và đổi mới công nghiệp; 3- Thúc đẩy đồng bộ phát triển giáo dục, khoa học - công nghệ và nhân tài; 4- Đi sâu thúc đẩy xây dựng Trung Quốc số.
Đối chiếu với Quy hoạch 14 (2021 - 2025), có thể khái quát 7 nội dung mới trong chiến lược, chính sách về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Quy hoạch 15 (2026 - 2030):
Thứ nhất, về vai trò của khoa học - công nghệ. Trong Quy hoạch 14, khoa học - công nghệ được xác định là động lực then chốt thúc đẩy phát triển, nhất là trước cạnh tranh công nghệ toàn cầu và nhu cầu tự chủ công nghệ. Tuy nhiên, Quy hoạch 14 vẫn đặt khoa học - công nghệ trong tương quan với nhiều mục tiêu lớn khác như mở cửa kinh tế, phát triển xanh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đến Quy hoạch 15, khoa học - công nghệ được đặt vào vị trí “trụ cột” của hiện đại hóa Trung Quốc, gắn trực tiếp với nội hàm mới quan trọng là phát triển “lực lượng sản xuất chất lượng mới”. Khoa học - công nghệ không chỉ hỗ trợ tăng trưởng, mà còn trở thành trung tâm của mô hình phát triển mới có tính định hướng dài hạn. Đây có thể xem là sự nâng cấp tư duy chiến lược của Đảng Cộng sản Trung Quốc về vai trò của khoa học - công nghệ.
Thứ hai, phát minh gốc và đột phá công nghệ lõi được đặt thành nhiệm vụ trọng tâm. Quy hoạch 14 nhấn mạnh nâng cao năng lực đổi mới, nhưng danh mục công nghệ lõi còn rộng, mức độ tập trung chưa cao. Quy hoạch 15 xác định rõ 6 nhóm công nghệ lõi trọng điểm: vi mạch tích hợp, máy công cụ công nghiệp, thiết bị cao cấp, phần mềm cơ bản, vật liệu tiên tiến, sản xuất sinh học; kèm theo các cụm công nghệ tương lai như lượng tử, 6G, AI nhập thể, giao diện não - máy. Đặc biệt, Trung Quốc tuyên bố áp dụng “cơ chế huy động quốc gia kiểu mới” và “biện pháp phi thường” để đạt “đột phá mang tính quyết định” trong công nghệ lõi then chốt, thể hiện tính quyết liệt, tập trung và toàn diện hơn trong nỗ lực chiếm lĩnh công nghệ nền tảng.
Cũng trong Quy hoạch 15, vai trò của nghiên cứu cơ bản được nhấn mạnh hơn so với Quy hoạch 14. Không chỉ gia tăng đầu tư, Trung Quốc đặt ra yêu cầu mới như tăng cường bố trí chiến lược, đi tiên phong và hệ thống hóa; hỗ trợ dài hạn, ổn định; tăng cường định hướng phát minh gốc trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tối ưu hóa môi trường thuận lợi cho phát minh gốc, tạo ra nhiều thành quả mang tính biểu tượng. Đây là bước đi nhằm củng cố nền tảng tri thức, tạo lợi thế cạnh tranh chiến lược trong giai đoạn tới.
Thứ ba, vai trò doanh nghiệp, với tư cách là chủ thể sáng tạo, được tăng cường từ “tham gia” tới “dẫn dắt”. Nếu Quy hoạch 14 coi doanh nghiệp là chủ thể sáng tạo nhưng mức độ thể hiện còn hạn chế, thì Quy hoạch 15 nhấn mạnh doanh nghiệp trở thành “đầu tàu” của hệ thống sáng tạo quốc gia, với nhiệm vụ tổ chức liên minh sáng tạo, đảm nhiệm nhiều hơn nhiệm vụ đột phá khoa học - công nghệ quốc gia, tăng đầu tư vào nghiên cứu cơ bản. Ở góc độ nhà nước, Trung Quốc xác định tăng cường hỗ trợ và phát triển mạnh doanh nghiệp (doanh nghiệp dẫn đầu khoa học - công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp khoa học - công nghệ vừa và nhỏ), đồng thời thúc đẩy tăng mua sắm công cho sản phẩm tự chủ sáng tạo nội địa.
Thứ tư, Quy hoạch 15 đặt ra nhiệm vụ mới là “thúc đẩy kết hợp xâu chuỗi sáng tạo, chuỗi công nghiệp, chuỗi vốn và chuỗi nhân tài”. Đây là bước đi nhằm khắc phục hạn chế được Trung Quốc nhận diện thời gian qua: kết quả nghiên cứu nhiều nhưng tỷ lệ chuyển hóa thành sản phẩm thấp; tỷ lệ thương mại hóa nghiên cứu hạn chế; thiếu kết nối giữa chuỗi nhân tài với chuỗi sản xuất; cấu trúc vốn cho công nghệ chưa hợp lý… Sự chuyển hướng này cũng phản ánh sức ép trong việc kiểm soát công nghệ cao từ bên ngoài, cũng như nhu cầu tạo động lực mới cho công nghiệp và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nước.
Bên cạnh đó, tư tưởng “kết hợp sâu chuỗi” hay “tích hợp” còn được Quy hoạch 15 đặt ra đối với “giáo dục - khoa học - công nghệ - nhân tài”. Quy hoạch 14 xây dựng nhiều chiến lược về giáo dục, khoa học - công nghệ và nhân tài nhưng thiếu cơ chế liên thông. Quy hoạch 15 thiết lập mô hình tích hợp, nhấn mạnh liên kết đào tạo - nghiên cứu - ứng dụng; phát triển trung tâm giáo dục - khoa học - công nghệ - nhân tài tầm quốc tế; cơ chế luân chuyển nhân lực giữa đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp; cải cách mạnh hệ thống đánh giá nhân lực khoa học - công nghệ. Đặc biệt, Quy hoạch 15 xác định rõ mục tiêu xây dựng đồng bộ các “cường quốc” về giáo dục, khoa học - công nghệ và nhân tài.
Thứ năm, Trung Quốc xác định cách tiếp cận chuyển đổi số trên từng lĩnh vực sang theo hệ thống đồng bộ. Trong Quy hoạch 14, Trung Quốc đề cập đến kinh tế số, chính phủ số, xã hội số theo các mục riêng. Quy hoạch 15 thống nhất thành một “Hệ thống Trung Quốc số” dựa trên các trụ cột: hoàn thiện hệ thống thể chế để dữ liệu trở thành yếu tố sản xuất; xây dựng thị trường dữ liệu thống nhất toàn quốc theo hướng mở, chia sẻ và an toàn; thúc đẩy tích hợp sâu giữa kinh tế thực và kinh tế số; triển khai dự án phát triển đổi mới internet công nghiệp… Qua đó, Trung Quốc hướng tới chuẩn hóa, liên thông và nâng cao hiệu quả khai thác dữ liệu, giảm phân mảnh nền tảng số giữa các cấp, các vùng.
Thứ sáu, nhận thức về vai trò của AI có bước chuyển quan trọng. Quy hoạch 14 đặt AI là lĩnh vực chiến lược quan trọng; Quy hoạch 15 nâng AI trở thành yếu tố “dẫn dắt” trên nhiều lĩnh vực. Trung Quốc yêu cầu triển khai toàn diện hành động AI+, lấy AI dẫn dắt đổi mới mô hình nghiên cứu khoa học, tăng cường kết hợp AI với phát triển công nghiệp, xây dựng văn hóa, bảo đảm dân sinh, quản trị xã hội. Đặc biệt, Quy hoạch 15 đặt mục tiêu “chiếm lĩnh điểm cao ứng dụng công nghiệp AI”, cho thấy AI không chỉ là công nghệ chiến lược, mà còn trở thành trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là công cụ cạnh tranh vị thế công nghệ của Trung Quốc trong giai đoạn mới.
Thứ bảy, Quy hoạch 15 điều chỉnh chiến lược phát triển “năng lực tính toán” theo hướng tối ưu hóa chất lượng, hiệu suất và mức độ tích hợp toàn quốc. Trong Quy hoạch 14, Trung Quốc chủ yếu tập trung mở rộng nhanh hạ tầng năng lực tính toán thông qua xây dựng trung tâm dữ liệu, siêu máy tính và mạng lưới điều phối “Đông số - Tây toán”, coi năng lực tính toán là thiết chế hạ tầng hỗ trợ kinh tế số. Tuy nhiên, bước sang Quy hoạch 15, chiến lược này được nâng cấp và điều chỉnh đáng kể, dịch chuyển từ mục tiêu mở rộng quy mô sang mục tiêu tối ưu hóa chất lượng, nâng cao hiệu suất và tăng cường mức độ tích hợp trên phạm vi toàn quốc. Văn kiện xác định rõ yêu cầu tiếp tục xây dựng “mạng lưới tính toán tích hợp quốc gia”, đồng thời nhấn mạnh các mạng thông tin - truyền thông và mạng tính toán tích hợp quốc gia cần được phát triển hơn nữa và ứng dụng một cách tập trung, hiệu quả. Lần đầu tiên, năng lực tính toán được đặt trong khung “hệ thống hạ tầng hiện đại hóa”, có vai trò trực tiếp trong tái cấu trúc mô hình sản xuất và thúc đẩy công nghiệp hóa kiểu mới.
Quan trọng hơn, Quy hoạch 15 kết nối năng lực tính toán chặt chẽ với phát triển AI và nhiệm vụ hình thành lực lượng sản xuất chất lượng mới. Trong Mục 14 về xây dựng “Trung Quốc số”, văn kiện nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm nguồn cung hiệu quả hơn về năng lực tính toán, thuật toán và dữ liệu”, qua đó coi tính toán là yếu tố chiến lược nâng cao năng lực đổi mới, thúc đẩy sản xuất dựa trên AI và dữ liệu. Việc đặt “tính toán” song hành với “thuật toán” và “dữ liệu” cho thấy chuyển biến tư duy: từ chỗ coi đây là hạ tầng công nghệ thông tin thuần túy sang coi đây là yếu tố sản xuất cốt lõi. Sự điều chỉnh này cũng nhằm khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, dư thừa công suất và thiếu liên kết vùng hiệu quả hơn. Vì vậy, Quy hoạch 15 chuyển trọng tâm từ “phát triển số lượng” sang “phát triển chất lượng”, nhấn mạnh tính tích hợp, điều phối liên vùng và tối ưu hóa vận hành, nhằm nâng cao năng suất tổng hợp và hỗ trợ cho ứng dụng quy mô lớn của các ngành công nghệ mới.
Hàm ý đối với Việt Nam
Về cơ bản, nhiều nội dung về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nêu trong Quy hoạch 14 và Quy hoạch 15 của Đảng Cộng sản Trung Quốc có sự tương đồng với Nghị quyết số 57-NQ/TW của Việt Nam. Do vậy, những thay đổi lớn của Trung Quốc trong Quy hoạch 15 là gợi mở đối với Việt Nam trong hoàn thiện chiến lược, chính sách, tổ chức thực hiện nhằm đẩy mạnh triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW:
Một là, tiếp tục hoàn thiện nhận thức chiến lược về vai trò của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong Quy hoạch 15, Trung Quốc nâng tầm tư duy về vai trò “trụ cột” của lĩnh vực này trong công cuộc hiện đại hóa. Đối với Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá” quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, cần tiếp tục nâng tầm vị thế của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với tư cách là “trung tâm” tái cấu trúc mô hình phát triển; từ đó tổ chức lại sản xuất, đổi mới phương thức quản trị và nâng cao năng suất. Cùng với đó, cần làm rõ hơn khái niệm “lực lượng sản xuất hiện đại” trong Nghị quyết số 57-NQ/TW theo hướng xác định cụ thể hơn các tư liệu sản xuất mới, công cụ sản xuất mới và quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất hiện đại.
Hai là, hình thành cơ chế chuỗi liên kết bốn yếu tố then chốt tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh (nghiên cứu - sản xuất - vốn - nhân tài). Kinh nghiệm của Trung Quốc về “thúc đẩy kết hợp xâu chuỗi sáng tạo, chuỗi công nghiệp, chuỗi vốn và chuỗi nhân tài”, cũng như tích hợp “giáo dục - khoa học - công nghệ - nhân tài” gợi mở cơ chế điều phối liên kết theo mô hình “chuỗi hóa” với sự tham gia của các bộ, ngành, các địa phương và hiệp hội ngành hàng. Đồng thời, kinh nghiệm Trung Quốc về nâng cao vị thế của doanh nghiệp từ “tham gia” tới “dẫn dắt” cho thấy cần phát huy hơn nữa vai trò doanh nghiệp (bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp công nghệ) trong nghiên cứu, thương mại hóa và dẫn dắt đổi mới mô hình sản xuất - kinh doanh.
Nếu tạo được cơ chế “chuỗi hóa” sẽ góp phần khắc phục điểm nghẽn lâu nay đó là: phân tán nguồn lực; thiếu kết nối thực chất giữa nghiên cứu - đào tạo - doanh nghiệp - thị trường; lệch pha giữa định hướng công nghệ với nhu cầu thực tế của khu vực sản xuất - kinh doanh. Có thể nghiên cứu xây dựng chuỗi liên kết đồng bộ gồm:
Chuỗi ưu tiên công nghệ quốc gia: Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xác định các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và nhu cầu R&D dài hạn; Bộ Công Thương và doanh nghiệp chịu trách nhiệm chuyển hóa thành sản phẩm - dịch vụ; Bộ Giáo dục và Đào tạo điều chỉnh chương trình đào tạo để cung cấp nhân lực phù hợp.
Chuỗi tài chính - R&D - thương mại hóa: Bộ Tài chính chủ trì điều phối các công cụ như quỹ, ưu đãi thuế, tín dụng đổi mới sáng tạo; Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý nhiệm vụ nghiên cứu; doanh nghiệp đặt hàng và thương mại hóa; các địa phương tạo hạ tầng thử nghiệm và cơ chế sandbox. Chuỗi này giúp dòng vốn công - tư chảy theo trục ưu tiên công nghệ, hạn chế dàn trải và trùng lặp.
Chuỗi nhân lực - kỹ năng - doanh nghiệp: Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ liên kết trực tiếp với nhu cầu kỹ năng của doanh nghiệp trong các lĩnh vực công nghệ mới (AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, công nghệ sinh học…), hình thành cơ chế “đào tạo theo đặt hàng”, thúc đẩy luân chuyển nhân lực giữa trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp.
Chuỗi tiêu chuẩn - thị trường - công nghiệp: Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ quản lý phối hợp phát triển tiêu chuẩn - quy chuẩn công nghệ; xây dựng thị trường thử nghiệm (testbed) và cơ chế mua sắm - đặt hàng công; kết nối doanh nghiệp trong nước với chuỗi cung ứng toàn cầu; tạo động lực để doanh nghiệp dẫn dắt đổi mới mô hình kinh doanh và chuyển đổi số trong sản xuất.
Cơ chế điều phối kiểu “chuỗi hóa” không chỉ giúp giải quyết điểm nghẽn hiện tại, mà còn bảo đảm mỗi mắt xích trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo được vận hành thống nhất, gắn kết từ chiến lược - nguồn lực - triển khai đến ứng dụng và thương mại hóa. Đây là nền tảng để Việt Nam gia tăng tốc độ đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất tổng hợp, phát triển doanh nghiệp công nghệ cao đủ sức cạnh tranh ở quy mô khu vực và toàn cầu.
Ba là, khẩn trương định hình chiến lược phát triển “năng lực tính toán” quốc gia song song với chiến lược dữ liệu và Đề án xây dựng hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC). Trong bối cảnh các cơ sở dữ liệu quốc gia và trung tâm dữ liệu đang được thúc đẩy xây dựng, trong khi Đề án Xây dựng hạ tầng tính toán hiệu năng cao đang được dự thảo, Việt Nam cần tiếp cận vấn đề theo tư duy chiến lược tương tự xu hướng Trung Quốc chuyển sang trong Quy hoạch 15. Thay vì xem năng lực tính toán như hạ tầng kỹ thuật của ngành thông tin - truyền thông, cần coi đây là yếu tố sản xuất trọng yếu trong mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo, phù hợp với định hướng Nghị quyết số 57-NQ/TW. Điều này đòi hỏi xây dựng chiến lược quốc gia về dữ liệu và năng lực tính toán, với logic vận hành liên thông: dữ liệu - năng lực tính toán - thuật toán/AI - sản xuất và dịch vụ.
Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy, nếu chỉ tập trung mở rộng số lượng trung tâm dữ liệu mà thiếu chuẩn hóa, thiếu điều phối liên vùng và không bảo đảm hiệu suất sử dụng, sẽ đối mặt nguy cơ phân tán nguồn lực, lãng phí đầu tư và khó hình thành năng lực tính toán quốc gia thống nhất. Vì vậy, thay vì phát triển dàn trải, Việt Nam cần ưu tiên hình thành một số cụm năng lực tính toán trọng điểm, có chuẩn kiến trúc chung, có khả năng chia sẻ cho viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và startup công nghệ. Đồng thời, cần gắn kết chặt chẽ chiến lược trung tâm dữ liệu với chiến lược phát triển AI, kinh tế số và đổi mới sáng tạo quốc gia, để không chỉ sở hữu hạ tầng số, mà còn xây dựng năng lực sản xuất dựa trên tri thức. Đây là nền tảng quan trọng triển khai thành công Nghị quyết số 57-NQ/TW và nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên kinh tế số, AI.
Nhìn tổng thể, Quy hoạch 15 cho thấy Trung Quốc bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu mô hình phát triển dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặt trọng tâm vào tự cường công nghệ, phát triển công nghiệp tương lai và hình thành lực lượng sản xuất chất lượng mới. Đối với Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác lập định hướng đột phá đúng đắn; nhiệm vụ trọng tâm là cụ thể hóa bằng thể chế, cơ chế điều phối, nguồn lực và tiêu chí đo lường đủ mạnh để chuyển hóa thành kết quả thực chất. Tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt từ những thay đổi trong Quy hoạch 15 của Trung Quốc, có ý nghĩa quan trọng để nhận diện xu thế và điểm nghẽn để hoàn thiện tư duy chiến lược, tăng quyết tâm hành động, đưa khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực trung tâm của phát triển đất nước trong giai đoạn mới./.
-----------------------
(1) “China’s achievements in past five years set solid basis for further economic take-off in 15th Five-Year Plan period: NBS official” (Tạm dịch: Những thành tựu của Trung Quốc trong 5 năm qua đã tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế mạnh mẽ hơn nữa trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 15: Quan chức Cục Thống kê quốc gia cho biết), Global Times, ngày 20-10-2025, https://www.globaltimes.cn/page/202510/1346090.shtml
(2) “Report on the implementation of the 2023 Plan for National Economic and Social Development and on the 2024 draft Plan for National Economic and Social Development” (Tạm dịch: Báo cáo về việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội quốc gia năm 2023 và dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội quốc gia năm 2024), China National Development and Reform Commission, ngày 5-3-2024
(3) “China replaces Germany in top 10 of UN’s most innovative nations” (Tạm dịch: Trung Quốc vượt qua Đức để lọt vào top 10 quốc gia sáng tạo nhất theo xếp hạng của Liên hợp quốc), Reuters, ngày 17-9-2025, https://www.reuters.com/world/china/china-replaces-germany-top-10-uns-most-innovative-nations-2025-09-16/
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị Thủ tướng Chính phủ đối thoại với nông dân lần thứ 7, năm 2025  (10/12/2025)
Thành phố Hà Nội tạo đột phá về khoa học, công nghệ để xây dựng Thủ đô văn hiến - văn minh - hiện đại, thành phố kết nối toàn cầu  (04/12/2025)
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng con người Quảng Ninh trong kỷ nguyên mới  (30/11/2025)
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng con người Quảng Ninh trong kỷ nguyên mới  (30/11/2025)
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
- Gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
- Điểm mới về xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức trong nền kinh tế số qua dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm