Phát huy nguồn lực tôn giáo gắn với xây dựng nông thôn mới trên nền tảng di sản
TCCS - Xây dựng nông thôn mới là chủ trương chiến lược, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển toàn diện nông thôn về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và quản trị cộng đồng. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu “khơi dậy mạnh mẽ giá trị văn hóa, sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh mềm văn hóa với sức mạnh cứng của thể chế”, đồng thời khẳng định phải phát huy các nguồn lực xã hội, trong đó có tôn giáo, để xây dựng nông thôn văn minh, hiện đại, bền vững.
1. Nguồn lực tôn giáo không chỉ thể hiện ở số lượng tín đồ hay cơ sở vật chất, mà đó còn là giá trị đạo đức, hệ thống niềm tin, mạng lưới quan hệ xã hội và uy tín của chức sắc - những yếu tố có khả năng định hướng hành vi, tạo sự đồng thuận và củng cố kỷ cương cộng đồng. Bên cạnh đó, trong nhiều địa phương, nhất là Ninh Bình, tôn giáo còn gắn với di sản văn hóa - lịch sử - tâm linh, như Nhà thờ đá Phát Diệm, chùa Bái Đính, danh thắng Tràng An. Đây là nguồn lực đặc biệt, vừa mang giá trị tinh thần, vừa tạo động lực phát triển du lịch, hình thành sinh kế mới và định hình bản sắc văn hóa nông thôn. Bởi vậy, phát huy nguồn lực tôn giáo trong xây dựng nông thôn mới không chỉ là vận động tín đồ tham gia phong trào, mà là tích hợp các giá trị tôn giáo - văn hóa - di sản vào mô hình phát triển nông thôn, hướng tới mục tiêu cao hơn: xây dựng nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu trên nền tảng văn hóa địa phương, di sản và sức mạnh cộng đồng
Ninh Bình là một trong những địa phương hội tụ đồng thời các yếu tố: lịch sử - văn hóa, mật độ di sản dày đặc, không gian cư trú truyền thống ổn định và tính đa dạng tôn giáo cao nhưng hài hòa. Đây là nền tảng quan trọng tạo nên lợi thế đặc thù để phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng. Trước hết, Ninh Bình sở hữu hệ thống di sản văn hoá - tôn giáo có độ “kết dính” rất cao với cộng đồng. Quần thể Danh thắng Tràng An - Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới - không chỉ là một không gian sinh thái - văn hóa đặc sắc, mà còn là không gian của các dòng tín ngưỡng lâu đời như thờ thần núi, thần sông, tín ngưỡng nông nghiệp và đặc biệt là hệ thống chùa, đền gắn với Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo. Điều này tạo ra “cấu trúc hạ tầng mềm” thuận lợi để các giá trị tôn giáo lan tỏa tự nhiên vào đời sống, hình thành nên tính cộng cảm và sự đồng thuận xã hội tương đối cao - yếu tố rất quan trọng cho phát triển nông thôn mới bền vững.
Bên cạnh đó, với vị trí địa chính trị là “cửa ngõ phía Nam của đồng bằng Bắc Bộ”, Ninh Bình sớm hình thành truyền thống giao lưu, tiếp biến văn hoá; sự hiện diện của nhiều tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, tín ngưỡng dân gian… được cộng đồng đón nhận với tinh thần khoan hòa. Ninh Bình hiện có tỷ lệ đồng bào Công giáo tương đối lớn (tập trung tại Kim Sơn, Yên Khánh), đồng thời là địa phương có Phật giáo phát triển mạnh (khu vực Hoa Lư, Gia Viễn, Yên Mô), tạo nên tính đa dạng tôn giáo trong sự thống nhất văn hoá Việt Nam. Đây không chỉ là nguồn lực tinh thần, mà còn là nguồn lực xã hội quan trọng để nuôi dưỡng lối sống nhân ái, đoàn kết, trọng nghĩa tình - những phẩm chất cốt lõi để tạo dựng sức mạnh nội sinh cho nông thôn mới.
Đặc biệt, hệ thống thiết chế tôn giáo tại Ninh Bình mang giá trị kép: vừa là thiết chế tinh thần, vừa là thiết chế văn hoá - xã hội. Những ngôi chùa, nhà thờ, đền phủ không chỉ duy trì sinh hoạt tôn giáo mà còn là điểm tụ hội của cộng đồng, nơi khơi dậy các phong trào “sống tốt đời, đẹp đạo”, “xứ họ đạo bình yên”, “giáo xứ văn hoá”, “chùa xanh - sạch - đẹp”, hay các mô hình tự quản về vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, giảm nghèo bền vững. Các chức sắc, nhà tu hành có uy tín cao, có khả năng dẫn dắt dư luận, khơi gợi ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Đây là dạng “vốn xã hội” đặc biệt, giúp Nhà nước và nhân dân đồng hành trong thực hiện các tiêu chí nông thôn mới, nhất là trong bối cảnh nhiều địa phương còn hạn chế về nguồn lực đầu tư công.
Một lợi thế quan trọng nữa là nguồn lực kinh tế - xã hội gắn với tôn giáo đang ngày càng mở rộng. Các cơ sở tôn giáo nhiều năm qua đã tham gia tích cực vào các hoạt động từ thiện xã hội, y tế, giáo dục, hỗ trợ người yếu thế, cứu trợ thiên tai, xây dựng cầu đường nông thôn, làm nhà tình nghĩa. Tại Kim Sơn hay Yên Khánh, nhiều giáo xứ đã huy động nguồn lực xã hội hoá lớn, đóng góp hàng chục tỷ đồng cho các công trình phúc lợi. Ở khu vực Hoa Lư - Gia Viễn, các chùa lớn như Bái Đính tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, trồng cây xanh, giữ gìn cảnh quan sinh thái, góp phần nâng cao tiêu chí môi trường và cảnh quan nông thôn mới nâng cao. Nguồn lực này được hình thành tự nhiên từ sự tự nguyện của tín đồ, tạo nên tính bền vững và hiệu quả thực chất.
Ngoài ra, Ninh Bình có tiềm năng rất lớn trong phát triển du lịch tôn giáo - sinh thái - văn hoá, một trong những hướng đi quan trọng để gắn tôn giáo với phát triển kinh tế cộng đồng. Lượng khách hành hương đến Tràng An, Bái Đính, Nhà thờ đá Phát Diệm tăng mạnh mỗi năm, tạo ra nhu cầu lớn cho dịch vụ du lịch, lưu trú, thủ công mỹ nghệ, ẩm thực, nông sản địa phương. Khi được tổ chức khoa học, đây sẽ là nguồn lực kinh tế quan trọng hỗ trợ người dân nông thôn nâng cao thu nhập - tiêu chí cốt lõi của nông thôn mới. Đồng thời, du lịch tâm linh nếu được quản trị tốt sẽ trở thành “đòn bẩy kép”: vừa góp phần bảo tồn giá trị tôn giáo - văn hoá truyền thống, vừa tạo ra động lực phát triển kinh tế xanh dựa trên di sản.
Không thể không nhắc đến tiềm năng hình thành mô hình liên kết Nhà nước - giáo hội - nhân dân trong phát triển cộng đồng tại Ninh Bình. Đây là mô hình phù hợp với đặc thù văn hoá - xã hội của tỉnh: tính gắn bó cộng đồng cao, sự tin tưởng vào chức sắc, và truyền thống “ý Đảng - lòng dân” được nuôi dưỡng trong suốt chiều dài lịch sử. Khi nguồn lực tôn giáo được đặt trong khung thể chế hiện đại, minh bạch, tôn trọng pháp luật và khuyến khích sáng tạo cộng đồng, nó sẽ trở thành trụ cột quan trọng bổ sung cho nguồn lực nhà nước, tạo nên thế cân bằng mới cho phát triển nông thôn.
2. Ninh Bình là một trong những địa phương hiếm hoi của cả nước nơi tôn giáo - di sản - cộng đồng hòa quyện chặt chẽ, tạo nên không gian văn hóa đặc thù, mật độ cơ sở tôn giáo dày đặc, với hàng chục giáo xứ, giáo họ, chùa, đền gắn liền với phong tục, đời sống và không gian nông thôn. Trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới, chức sắc tôn giáo đã trở thành lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các tiêu chí nông thôn mới. Thông qua các bài giảng, sinh hoạt tôn giáo, họ lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan, xây dựng nếp sống văn minh, tham gia phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và “Sống tốt đời đẹp đạo”. Nhiều giáo xứ, chùa đã vận động tín đồ hiến đất mở đường, đóng góp xây dựng nhà văn hóa, đường giao thông, hệ thống thoát nước và các thiết chế cộng đồng.
Đặc biệt, nguồn lực tôn giáo ở Ninh Bình còn được phát huy mạnh mẽ trong bảo tồn di sản gắn với du lịch nông thôn. Các cơ sở tôn giáo lớn như chùa Bái Đính, Nhà thờ Phát Diệm không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, mà còn là điểm đến du lịch văn hóa - tâm linh, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng nghìn hộ dân trong vùng. Nhiều mô hình du lịch cộng đồng, homestay, làng nghề được hình thành dựa trên nền tảng di sản và văn hóa tôn giáo, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng sống cho cư dân nông thôn.
Song song với đó, chức sắc tôn giáo còn đóng vai trò quan trọng trong giữ gìn trật tự - an ninh du lịch, hòa giải các mâu thuẫn phát sinh, định hướng người dân ứng xử văn minh, không chèo kéo, không nâng giá, giữ gìn sự tôn nghiêm của không gian di sản. Nhiều nơi đã xây dựng quy ước, cam kết “giáo xứ xanh - sạch - đẹp”, “giáo họ văn minh du lịch”, “chùa không rác thải nhựa”… qua đó làm cho tiêu chí nông thôn mới trở nên sinh động và bền vững hơn. Tuy nhiên, việc phát huy nguồn lực tôn giáo còn chưa đồng đều; phối hợp giữa chính quyền và tổ chức tôn giáo còn thiếu cơ chế ổn định; hoạt động du lịch gắn với tôn giáo đôi khi phát triển tự phát, chưa có quy hoạch đồng bộ. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện phương thức huy động và phát huy nguồn lực tôn giáo trong bối cảnh mới.
3. Bước vào giai đoạn xây dựng nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu, nhiều vấn đề mới xuất hiện. Đó là nguy cơ “thương mại hóa” di sản và tôn giáo. Nơi đông khách du lịch thường dễ phát sinh các hành vi buôn bán lấn chiếm, chèo kéo, rác thải du lịch… Vì vậy, cần có sự định hướng mạnh mẽ từ chức sắc và cộng đồng tôn giáo để bảo vệ bản sắc và sự tôn nghiêm. Cơ chế phối hợp Nhà nước - tôn giáo chưa tương xứng với yêu cầu mới. Các chức sắc tôn giáo đóng vai trò lớn trong bảo tồn di sản và quản trị cộng đồng, nhưng chưa được tham gia đủ vào các thiết chế tư vấn, quy hoạch và giám sát. Thiếu chương trình đào tạo chuyên sâu cho chức sắc về du lịch văn minh, bảo tồn di sản, môi trường. Đây là các nội dung của nông thôn mới nâng cao - kiểu mẫu, đòi hỏi kiến thức mới mà nhiều chức sắc chưa được trang bị. Sinh kế du lịch của người dân chưa bền vững. Phát triển du lịch dựa vào tôn giáo - di sản cần đi cùng với nâng cao năng lực cộng đồng, tránh tình trạng phát triển manh mún…
Để phát huy nguồn lực tôn giáo trong xây dựng nông thôn mới trên nền tảng di sản cần: thể chế hóa vai trò của tổ chức tôn giáo trong quản trị vùng di sản. Theo đó, mời chức sắc tham gia các ban tư vấn về du lịch, môi trường, văn hóa ở các xã, phường. Thiết lập cơ chế đối thoại định kỳ giữa chính quyền và tổ chức tôn giáo. Cùng với đó, xây dựng “bộ quy tắc ứng xử du lịch - di sản” trong các giáo xứ, chùa. Quy định về bảo vệ môi trường, ứng xử văn minh, giữ gìn trật tự. Gắn nội dung này với các bài giảng, sinh hoạt hội đoàn. Phát triển mô hình “Giáo xứ du lịch - văn hóa”, “Chùa xanh - sạch - đẹp - không rác thải nhựa”. Tạo các mô hình điểm nhân rộng, biến cơ sở tôn giáo thành trung tâm gìn giữ di sản tại chỗ. Bồi dưỡng kỹ năng du lịch cộng đồng, môi trường, chuyển đổi số cho chức sắc và tín đồ. Đây là yêu cầu của nông thôn mới kiểu mẫu và du lịch bền vững. Liên kết di sản - tôn giáo - sinh kế nông thôn. Xây dựng các sản phẩm OCOP gắn với tôn giáo và di sản (làng nghề, ẩm thực, thủ công truyền thống). Phát triển tour tuyến du lịch tâm linh - sinh thái - cộng đồng. Cụ thể:
Thứ nhất, cần quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về tôn trọng và phát huy các giá trị tốt đẹp của tôn giáo, đặc biệt là tinh thần nhân ái, hướng thiện, kỷ cương đạo đức và truyền thống gắn bó cộng đồng. Trên cơ sở đó, Ninh Bình cần xây dựng định hướng phát huy nguồn lực tôn giáo gắn với di sản, bởi toàn tỉnh là không gian đan xen giữa các hệ thống chùa, nhà thờ, đền phủ và cụm di tích quốc gia đặc biệt. Việc tích hợp yếu tố tôn giáo vào bảo tồn di sản và phát triển du lịch văn hóa – sinh thái sẽ tạo ra “chuỗi giá trị kép”: vừa giữ gìn bản sắc địa phương, vừa tạo nguồn thu cho cộng đồng dân cư. Đây là hướng đi hoàn toàn phù hợp với tuyến phát triển du lịch Tràng An - Bái Đính - Phát Diệm - Hải Nham - Địch Lộng, nơi tín ngưỡng và di sản hòa quyện, tạo điều kiện hình thành các làng nghề du lịch, dịch vụ homestay, kinh doanh nông sản đặc hữu và sản phẩm OCOP dựa trên bản sắc tôn giáo - văn hóa.
Thứ hai, cần thể chế hóa vai trò của các tổ chức và chức sắc tôn giáo trong phát triển cộng đồng. Dù Nhà nước không “giao nhiệm vụ” theo nghĩa hành chính, nhưng có thể thiết lập cơ chế phối hợp chính danh, minh bạch thông qua: Quy chế phối hợp giữa chính quyền - Mặt trận Tổ quốc - tổ chức tôn giáo; các chương trình vận động “sống tốt đời, đẹp đạo”; và các mô hình “xứ họ đạo bình yên”, “chùa xanh - sạch - đẹp”, “giáo xứ văn hóa”. Thể chế hóa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nguồn lực tôn giáo phát huy tác dụng như huy động đóng góp tự nguyện; vận động tín đồ tham gia bảo vệ môi trường; phát triển kinh tế hộ gia đình; giữ gìn an ninh trật tự; và thực hiện chuẩn mực đạo đức gắn với tiêu chí nông thôn mới. Kinh nghiệm thực tiễn tại Kim Sơn, Yên Khánh cho thấy, khi chính quyền và các giáo xứ thiết lập kênh trao đổi thường xuyên, minh bạch, thì việc huy động nguồn lực xã hội hóa cho xây dựng đường giao thông, cầu cống, nhà văn hóa diễn ra rất tự nhiên, hiệu quả và tiết kiệm.
Thứ ba, Ninh Bình cần định hướng gắn nguồn lực tôn giáo với mục tiêu phát triển kinh tế xanh và bảo vệ môi trường, nhất là tại Tràng An và khu vực lõi di sản. Các cơ sở tôn giáo có vai trò đặc biệt trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng tín đồ. Nếu phát huy đúng mức, họ có thể trở thành lực lượng dẫn dắt phong trào “xanh hóa” các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, du lịch. Một số chùa tại Hoa Lư - Gia Viễn đã triển khai mô hình sử dụng năng lượng sạch, phân loại rác tại nguồn, trồng rừng và tổ chức các ngày công lao động cộng đồng. Việc nhân rộng các sáng kiến này có thể giúp Ninh Bình vừa nâng cao chất lượng tiêu chí môi trường, vừa tạo dựng hình ảnh một tỉnh du lịch sinh thái - tâm linh bền vững.
Thứ tư, cần phát triển các mô hình liên kết ba chủ thể Nhà nước - giáo hội - nhân dân theo hướng chuyên nghiệp, bền vững. Đây không phải khái niệm pháp lý mà là khung lý luận mô tả cơ chế hợp tác thực tiễn. Định hướng phát huy mô hình này cần tập trung vào: (1) tăng cường đối thoại và thiết lập các diễn đàn tham vấn chính sách giữa chính quyền và các chức sắc tôn giáo; (2) hỗ trợ các cơ sở tôn giáo trong nâng cao năng lực quản lý, đặc biệt là quản lý nguồn lực xã hội hóa, bảo tồn kiến trúc, cảnh quan; (3) tạo điều kiện để tổ chức tôn giáo tham gia các hoạt động cộng đồng như khởi nghiệp nông thôn, an sinh xã hội, giáo dục kỹ năng sống, hỗ trợ người yếu thế. Khi cả ba chủ thể cùng chia sẻ trách nhiệm, các hoạt động phát triển nông thôn mới sẽ hiệu quả hơn, giảm gánh nặng ngân sách và tăng sự đồng thuận xã hội.
Thứ năm, cần đẩy mạnh truyền thông về giá trị của tôn giáo trong phát triển nông thôn mới, theo hướng tôn trọng, khách quan và phù hợp với đặc thù của từng tôn giáo. Mỗi tôn giáo có một hệ giá trị đạo đức riêng (bác ái của Công giáo, từ bi của Phật giáo, tín ngưỡng truyền thống thờ trời - đất - tổ tiên…), đều có thể trở thành động lực để xây dựng lối sống xanh, sống đẹp, tiết kiệm, đoàn kết và nhân văn. Nếu làm tốt công tác truyền thông tốt sẽ giúp khơi dậy và lan tỏa những gương điển hình tiên tiến, tạo sự lan tỏa tích cực, tăng hiệu ứng xã hội hóa các phong trào thi đua.
Cuối cùng, Ninh Bình cần đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo và cán bộ cơ sở theo hướng chuyên nghiệp, tinh tế và tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng. Năng lực “giao tiếp liên văn hóa” và khả năng nắm bắt xu hướng tôn giáo mới sẽ giúp tăng tính hiệu quả trong quản trị. Khi có đội ngũ am hiểu tôn giáo, biết đối thoại và biết gợi mở, việc huy động nguồn lực tôn giáo sẽ nhẹ nhàng, thuyết phục và tự nhiên hơn nhiều.
Việc phát huy nguồn lực tôn giáo gắn với xây dựng nông thôn mới trên nền tảng di sản không chỉ giúp Ninh Bình tận dụng lợi thế đặc thù về văn hóa, tôn giáo, cảnh quan, mà còn mở ra mô hình phát triển nông thôn mang tính bền vững, nhân văn và giàu bản sắc. Tôn giáo, với chức sắc và cộng đồng tín đồ, khi được khơi dậy đúng hướng, sẽ trở thành động lực quan trọng trong bảo tồn di sản, xây dựng môi trường sống văn minh, phát triển du lịch bền vững và củng cố kỷ cương cộng đồng, qua đó đóng góp tích cực vào hoàn thiện mô hình nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu ở Ninh Bình./.
Ninh Bình phát triển mô hình đô thị di sản gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh: Thực tiễn và gợi mở chính sách  (05/11/2025)
Phát triển đô thị di sản ở Ninh Bình: Thực tiễn và định hướng  (02/11/2025)
Phát triển các “đại sứ văn hóa”, góp phần đưa tỉnh Ninh Bình trở thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hóa lớn của quốc gia và vươn tầm quốc tế  (02/11/2025)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm