Đào tạo kỹ năng truyền thông chính sách cho công an cấp xã - Khoảng cách năng lực và mô hình đề xuất

TS Nguyễn Đăng Khang
Phó Tổng Biên tập Báo Đại đoàn kết
08:59, ngày 17-06-2026

TCCS - Lực lượng công an cấp xã có vai trò quan trọng trong triển khai truyền thông chính sách ở cơ sở. Tuy nhiên thực tế cho thấy, vẫn có khoảng cách giữa nhận thức và năng lực thực thi truyền thông của lực lượng này, đặt ra yêu cầu cần có mô hình đào tạo phù hợp, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Công an xã Long Cốc, tỉnh Phú Thọ gặp gỡ, tuyên truyền pháp luật cho người có uy tín, già làng, trưởng bản trong vùng đồng bào dân tộc Dao_Ảnh: phutho.gov.vn

Trong công cuộc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, lực lượng công an nhân dân đã thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu, chủ động, nghiêm túc kiện toàn hệ thống theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trong đó, chủ trương không tổ chức công an cấp huyện là bước đột phá nhằm tinh gọn bộ máy từ 4 cấp xuống 3 cấp (bộ, tỉnh, xã). Lộ trình cải cách này giúp cắt giảm tầng nấc trung gian, chuyển dịch và bổ sung lực lượng trực tiếp về cơ sở để phục vụ nhân dân tốt hơn. Theo đó, nhiều chức năng, nhiệm vụ đã được chuyển giao cho công an cấp tỉnh, cấp xã, tạo ra sự thay đổi mang tính bước ngoặt đối với lực lượng công an cơ sở(1).

Sự gia tăng nhanh chóng về trách nhiệm, đặc biệt trong tiếp xúc, giao tiếp và cung cấp thông tin cho người dân đang đặt lực lượng công an cấp xã trước yêu cầu mới về năng lực truyền thông. Công an cấp xã không chỉ thực thi pháp luật, mà còn phải chủ động cung cấp thông tin, giải thích chính sách và xử lý các tình huống truyền thông phát sinh. Nếu không được trang bị kỹ năng chuyên nghiệp, sẽ xuất hiện khoảng trống trong thực thi nhiệm vụ của đội ngũ, tiềm ẩn rủi ro đối với hiệu quả quản trị và uy tín của lực lượng.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông xã hội, truyền thông chính sách đã chuyển từ mô hình tuyên truyền một chiều sang quá trình tương tác và định hướng nhận thức công chúng. Cách tiếp cận này tương thích với mô hình truyền thông hai chiều, nhấn mạnh đối thoại và phản hồi giữa cơ quan công quyền với công chúng, thay vì chỉ truyền đạt thông tin theo hướng một chiều(2).

Hiện nay, phần lớn cán bộ, chiến sĩ công an cấp xã đang gặp phải khó khăn về kỹ năng và yêu cầu của truyền thông hiện đại với sự tương tác chủ động, phản ứng nhanh và năng lực quản lý thông tin. Trong thực tiễn, nhiều đơn vị công an cấp xã đã biết cách tận dụng nền tảng phương tiện truyền thông xã hội vào công tác tuyên truyền, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên không gian mạng. Tuy nhiên, hoạt động này mới được thực hiện bởi một số ít cán bộ, chiến sĩ có hiểu biết nhất định về các phương tiện truyền thông xã hội, chưa có sự đồng bộ, bài bản trong lực lượng công an cấp xã, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.

Thực tiễn cho thấy, nhận thức của cán bộ, chiến sĩ công an cấp xã về vai trò của truyền thông chính sách đạt mức cao, xác định đây là nhiệm vụ quan trọng trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự ở cơ sở; công tác truyền thông có ảnh hưởng trực tiếp đến việc củng cố niềm tin của người dân đối với chính quyền.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, năng lực thực hành của cán bộ công an cấp xã mới chỉ đạt mức trung bình. Trong đó, kỹ năng viết tin và tương tác trên môi trường số còn nhiều hạn chế. Đáng chú ý, khả năng xử lý khủng hoảng truyền thông cùng năng lực nhận diện, xử lý tin giả - những yếu tố then chốt để bảo đảm ổn định xã hội trong bối cảnh số - mới chỉ đáp ứng được một phần yêu cầu đặt ra

Trong hoạt động truyền thông chính sách ở cấp cơ sở, hạn chế này biểu hiện ở việc thiếu chuẩn hóa năng lực, thiếu đào tạo chuyên sâu và chưa hình thành cơ chế hỗ trợ cán bộ. Việc thu hẹp khoảng cách giữa nhận thức và năng lực không chỉ là yêu cầu về đào tạo kỹ năng, mà còn là yêu cầu mang tính hệ thống, gắn với đổi mới phương thức quản trị và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới... 

Thực tiễn đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đào tạo kỹ năng báo chí, truyền thông chính sách cho lực lượng công an cấp xã.

 

Thứ nhất, truyền thông chính sách là nền tảng xây dựng niềm tin xã hội.

Truyền thông chính sách không chỉ là tuyên truyền mà là công cụ quan trọng trong hoàn thiện thể chế. Đối với các chính sách liên quan đến an ninh, trật tự, sự đồng thuận của người dân quyết định hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nếu chính sách không được truyền thông rõ ràng về mục tiêu, lợi ích và quy trình thực hiện, hiệu quả triển khai ở cơ sở sẽ bị hạn chế.

Công an cấp xã với vai trò trực tiếp vận động quần chúng, là chủ thể quan trọng trong thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân thụ hưởng”. Tuy nhiên, thiếu kỹ năng truyền thông chuyên nghiệp có thể khiến thông tin bị hiểu là áp đặt một chiều, làm giảm sức thuyết phục và ảnh hưởng đến niềm tin của người dân. Vì vậy, cần chuyển từ “thông báo” sang “diễn giải và kết nối”.

Thứ hai, công an cấp xã đóng vai trò “gác cổng thông tin” ở phạm vi địa bàn cơ sở.

Trong bối cảnh được giao thêm nhiều chức năng, công an cấp xã trở thành lực lượng tiếp xúc thường xuyên với người dân, giữ vai trò “gác cổng thông tin” trong lựa chọn, kiểm chứng và định hướng thông tin(3). Điều này đòi hỏi lực lượng công an cấp xã ngoài việc thực hiện tốt công tác chuyên môn còn phải thực hiện tốt việc quản lý và cung cấp thông tin kịp thời, chính xác.

Theo quy định về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của công an nhân dân(4), vai trò trưởng công an cấp xã trong cung cấp thông tin được quy định rất rõ. Theo đó, trưởng công an cấp xã được cung cấp cho báo chí 6 nhóm thông tin với yêu cầu cao về tính chính xác, minh bạch và kiểm soát rủi ro thông tin.

Thứ ba, cần tiêu chuẩn hóa phát ngôn và thực hiện trách nhiệm giải trình.

Quy định về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của công an nhân dân cũng quy định vai trò và trách nhiệm ở công an cấp cơ sở. Trưởng công an cấp xã được cung cấp thông tin cho báo chí và phải chịu trách nhiệm trước cấp trên. Điều này ít nhiều tạo áp lực về pháp lý và chuyên môn cho người đứng đầu công an cấp xã. Do đó, lực lượng công an cấp xã cần được đào tạo chuyên sâu về phát ngôn, kiểm soát thông tin, đặc biệt với các nội dung như cảnh báo tội phạm hoặc kết quả xử lý vụ việc về an ninh, trật tự. Tuy nhiên, năng lực truyền thông của công an cấp xã phải được đặt trong nguyên tắc bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nghiệp vụ và kỷ luật phát ngôn của lực lượng công an nhân dân. Việc nâng cao tính chủ động trong cung cấp thông tin không đồng nghĩa với mở rộng tùy tiện phạm vi phát ngôn, mà phải bảo đảm sự thống nhất, chính xác và tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành. Vì vậy, đào tạo kỹ năng truyền thông cần gắn chặt với đào tạo nhận thức pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của người thực thi công vụ.

Thứ tư, yêu cầu xử lý thông tin trên không gian mạng và quản trị khủng hoảng.

Công an cấp xã ngày càng phải đối mặt với nhiều thông tin sai lệch, tin giả trên các phương tiện truyền thông xã hội, liên quan đến tình hình an ninh, trật tự ở địa bàn cơ sở. Điều này đặt ra thách thức lớn về sự cân bằng giữa tốc độ phản ứng và độ chính xác trong quy trình phát ngôn, buộc lực lượng công an cấp xã phải có kỹ năng “phản ứng nhanh có nguyên tắc”. Kỹ năng này bao gồm việc xác định nguyên nhân khủng hoảng và xử lý theo quy trình phù hợp. Nếu thiếu kỹ năng này, một vụ việc nhỏ có thể lan rộng thành khủng hoảng truyền thông. Vì vậy, quản lý thông điệp ngay từ giai đoạn đầu là yêu cầu nghiệp vụ bắt buộc.

Để đáp ứng các yêu cầu pháp lý và nghiệp vụ trong bối cảnh truyền thông hiện đại, lực lượng công an cấp xã cần được trang bị một khung năng lực truyền thông cốt lõi mang tính hệ thống và thực tiễn cao. Khung năng lực gồm 3 nhóm kỹ năng: kỹ năng báo chí và phát ngôn giúp cán bộ truyền tải thông tin chính xác, đúng chuẩn mực, đồng thời bảo đảm thông tin minh bạch, thống nhất trong phát ngôn; kỹ năng truyền thông chính sách sâu rộng cho phép chủ động đưa chính sách đến gần người dân, tạo sự đồng thuận và củng cố niềm tin xã hội; kỹ năng tương tác trên nền tảng số và xử lý khủng hoảng trực tiếp quyết định việc ứng phó nhanh với thông tin sai lệch, kiểm soát dư luận và giữ vững uy tín lực lượng. Đây là nền tảng không thể thiếu trong giai đoạn chuyển đổi số hiện nay.

Thứ nhất, chương trình đào tạo chuyên sâu phải được thiết kế dựa trên đặc thù công việc và yêu cầu pháp lý đối với công an cấp xã, bảo đảm cán bộ, chiến sĩ có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Nội dung đào tạo gồm các kỹ năng sau:

(1) Kỹ năng báo chí và phát ngôn: Nhằm xây dựng nền tảng chuẩn hóa về giao tiếp truyền thông, bảo đảm tính pháp lý, tính kỷ luật phát ngôn và hiệu quả thông tin đối với lực lượng công an cấp xã trong bối cảnh truyền thông đa nền tảng. Trong đó, đào tạo quy trình làm việc và phát ngôn, là hệ thống quy trình tiếp nhận, xử lý và cung cấp thông tin cho báo chí theo đúng quy định pháp luật và quy định của ngành. Làm rõ vai trò, thẩm quyền của người phát ngôn; cơ chế phối hợp giữa các cấp; quy trình phản hồi thông tin nhanh, chính xác trong các tình huống nhạy cảm. Thực hành các hình thức cung cấp thông tin, như thông cáo báo chí, họp báo, trả lời phỏng vấn, phát ngôn định hướng dư luận.

Kỹ năng quản lý thông điệp: trang bị tư duy xây dựng thông điệp, bảo đảm tính nhất quán, chính xác và kiểm soát rủi ro thông tin. Đào tạo kỹ năng soạn thảo văn bản truyền thông chuẩn mực, vừa đáp ứng yêu cầu minh bạch, vừa tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước và bí mật nghiệp vụ. Nhấn mạnh nguyên tắc “đúng - đủ - kịp thời - có định hướng”.

Đào tạo kỹ năng viết tin, bài phục vụ công tác thông tin tuyên truyền về an ninh trật tự, cảnh báo tội phạm, hướng dẫn người dân phòng ngừa rủi ro. Kết hợp lý thuyết báo chí hiện đại với thực hành sản xuất nội dung cho báo điện tử, cổng thông tin điện tử và các phương tiện truyền thông xã hội. Kế thừa các mô hình đào tạo báo chí chuyên nghiệp nhưng điều chỉnh theo đặc thù ngành công an, bảo đảm tính chính xác, định hướng và phù hợp đối tượng tiếp nhận.

(2) Kỹ năng truyền thông chính sách chuyên sâu. Nội dung này như “trục xương sống” giúp lực lượng công an cấp xã thực hiện hiệu quả vai trò cầu nối giữa chính sách và đời sống xã hội, góp phần củng cố tính khả thi của chính sách ngay từ cơ sở. Trong đó, kỹ năng phân tích và diễn giải pháp luật giúp trang bị năng lực “phiên dịch chính sách”, chuyển hóa các văn bản pháp luật phức tạp thành thông điệp dễ hiểu, gần gũi với người dân, tập trung vào các lĩnh vực thiết yếu như quản lý hành chính, an toàn giao thông, phòng chống tội phạm…

Kỹ năng xây dựng sự đồng thuận và vận động quần chúng: Vận dụng các nguyên tắc truyền thông phát triển và dân vận trong bối cảnh mới. Đào tạo kỹ năng tổ chức đối thoại cộng đồng, lắng nghe phản hồi, xử lý ý kiến trái chiều. Tăng cường kỹ năng thuyết phục dựa trên bằng chứng, tình huống thực tiễn và giá trị lợi ích chung, qua đó xây dựng niềm tin xã hội và sự đồng thuận trong triển khai chính sách.

Kỹ năng thiết kế chiến dịch truyền thông chính sách: Hướng dẫn xây dựng kế hoạch truyền thông theo mục tiêu, đối tượng và địa bàn cụ thể; lựa chọn kênh truyền thông phù hợp (trực tiếp, báo chí, phương tiện truyền thông xã hội); thiết lập thông điệp cốt lõi và công cụ đánh giá hiệu quả trên nền tảng số. Nhấn mạnh tính liên tục, đồng bộ và khả năng đo lường tác động truyền thông.

(3) Kỹ năng tương tác trên nền tảng số và xử lý khủng hoảng: Trang bị năng lực thích ứng với môi trường truyền thông số, nơi thông tin lan truyền nhanh, đa chiều và tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với uy tín lực lượng.

Kỹ năng quản trị khủng hoảng truyền thông: Lý thuyết truyền thông khủng hoảng theo tình huống nhấn mạnh, việc lựa chọn chiến lược phản hồi phải phù hợp với nguyên nhân và mức độ khủng hoảng nhằm bảo vệ uy tín tổ chức(6). Do vậy, cần tập trung đào tạo cho công an cấp xã phương pháp nhận diện sớm dấu hiệu khủng hoảng, phân loại theo nguồn gốc, mức độ và phạm vi ảnh hưởng. Xây dựng quy trình phản ứng nhanh có quản lý, bao gồm thu thập thông tin, xác minh, thống nhất thông điệp và triển khai phát ngôn. Thực hành xây dựng kịch bản xử lý cho các tình huống điển hình, như vụ việc nhạy cảm, thông tin sai lệch, phản ứng tiêu cực trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Kỹ năng kiểm chứng thông tin và đối phó với tin giả: Trong bối cảnh chuyển đổi số với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông xã hội, nhiều thông tin sai, tin giả lan truyền nhanh chóng, đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải chủ động kiểm chứng và cung cấp thông tin chính thống kịp thời. Chính vì vậy, cần chú trọng trang bị cho công an cấp xã công cụ và phương pháp xác minh thông tin đa nguồn, kỹ thuật nhận diện tin giả, tin sai lệch, thao túng thông tin trên không gian mạng. Trang bị kỹ năng kết hợp kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và truyền thông để xử lý các hành vi vi phạm, đồng thời chủ động cung cấp thông tin chính thống nhằm đẩy lùi thông tin sai lệch.

Kỹ năng quản trị kênh truyền thông số: Đào tạo kỹ năng vận hành và tối ưu các kênh chính thức trên nền tảng số, như Facebook, Zalo, Tik Tok, Youtube... Xây dựng nội dung phù hợp với hành vi tiếp nhận của công chúng số, tăng cường tương tác tích cực, qua đó nâng cao hiệu quả truyền thông và hình ảnh lực lượng công an cơ sở.

Những hành động đẹp, thiết thực khi hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân đã góp phần lan tỏa hình ảnh người chiến sĩ công an bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ_Ảnh: baoquangngai.vn

Thứ hai, phương pháp đào tạo, đánh giá cần được thiết kế theo hướng linh hoạt, mô-đun hóa và gắn chặt với thực tiễn, để bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ thường xuyên của lực lượng công an cấp xã.

Việc tổ chức đào tạo nên kết hợp giữa hình thức tập trung ngắn hạn, đào tạo trực tuyến và huấn luyện tại chỗ, qua đó tối ưu hóa thời gian và nguồn lực. Trọng tâm là áp dụng phương pháp mô phỏng tình huống dựa trên các vụ việc có thật đã xảy ra tại cơ sở, đặc biệt là các tình huống phức tạp liên quan đến an ninh trật tự, điểm nóng dư luận hoặc khủng hoảng truyền thông. Các kịch bản cần được chuẩn hóa theo cấp độ (đơn giản - phức tạp - khủng hoảng đa chiều), cho phép học viên thực hành từ nhận diện vấn đề, phân tích bối cảnh, xây dựng thông điệp đến triển khai phát ngôn và xử lý phản ứng của công chúng.

Bên cạnh đó, cần tổ chức thực hành về phát ngôn và xử lý khủng hoảng dưới sự giám sát của chuyên gia báo chí, truyền thông và pháp lý. Quá trình này giúp cán bộ, chiến sĩ làm quen với áp lực thời gian, cường độ thông tin cao và các tình huống phát sinh ngoài dự kiến, từ đó nâng cao năng lực phản ứng nhanh, chính xác và có quản lý.

Về đánh giá, cần xây dựng hệ thống tiêu chí đa chiều, kết hợp giữa đánh giá quá trình và đánh giá đầu ra. Các tiêu chí bao gồm: mức độ tuân thủ quy trình phát ngôn; độ chính xác và nhất quán của thông điệp; khả năng xử lý tình huống; kỹ năng tương tác với báo chí và công chúng; hiệu quả định hướng dư luận sau can thiệp truyền thông. Hình thức đánh giá nên đa dạng, bao gồm bài kiểm tra tình huống, sản phẩm truyền thông (tin, bài, thông cáo báo chí) và đánh giá qua các buổi thực hành.

Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế phản hồi hai chiều và cập nhật liên tục chương trình đào tạo dựa trên các vụ việc mới phát sinh trong thực tiễn. Việc gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo - thực hành - đánh giá - điều chỉnh sẽ bảo đảm tính thích ứng cao của chương trình, đáp ứng yêu cầu ngày càng phức tạp của môi trường truyền thông hiện đại.

Để thu hẹp khoảng cách giữa yêu cầu thực tiễn và năng lực thực tế của lực lượng công an cấp xã, việc đổi mới chương trình đào tạo kỹ năng truyền thông chính sách cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, thiết lập cơ chế liên kết đào tạo.

Việc đào tạo cần được triển khai trên nền tảng hợp tác nhiều bên, có quy chế phối hợp rõ ràng giữa các cơ sở đào tạo báo chí, truyền thông, chuyên gia và các học viện, nhà trường trong công an nhân dân. Xây dựng mô hình phối hợp trong đó các học viện, nhà trường xây dựng khung lý luận, chuẩn hóa nghiệp vụ; các đơn vị công an địa phương cung cấp dữ liệu thực tiễn, tình huống điển hình; các chuyên gia truyền thông hỗ trợ cập nhật xu hướng, công cụ và phương pháp hiện đại. Đồng thời, nên hình thành mạng lưới giảng viên kiêm nhiệm để bảo đảm tính liên thông giữa lý thuyết và thực hành.

Hai là, chuẩn hóa và chuyên biệt hóa các chương trình đào tạo ngắn hạn.

Các lớp tập huấn, bồi dưỡng cần được thiết kế theo hướng phù hợp cho từng nhóm đối tượng (trưởng công an xã, cán bộ trực tiếp làm công tác tuyên truyền, cán bộ phụ trách nền tảng số…). Nội dung không chỉ dừng ở kỹ năng truyền thông và quan hệ công chúng cơ bản, mà phải tích hợp các chuyên đề chuyên sâu, như truyền thông phòng, chống tội phạm trên không gian mạng, nhận diện và xử lý thông tin xấu độc, sử dụng công cụ số trong giám sát dư luận, cập nhật các phương thức, thủ đoạn tội phạm mới. Cần áp dụng cơ chế cấp chứng chỉ theo chuẩn đầu ra để bảo đảm tính ràng buộc và giá trị sử dụng thực tế.

Ba là, thể chế hóa năng lực truyền thông trong hệ thống tiêu chuẩn nghiệp vụ.

Để bảo đảm tính bền vững, kỹ năng truyền thông không nên dừng ở mức khuyến khích mà cần được đưa vào hệ thống tiêu chuẩn chức danh và tiêu chí đánh giá bắt buộc đối với cán bộ, chiến sĩ công an cấp xã; kiến nghị bổ sung các năng lực như truyền thông chính sách, quản trị thông tin, xử lý khủng hoảng truyền thông vào khung năng lực nghề nghiệp. Đồng thời, cần ban hành hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất về phát ngôn, cung cấp thông tin và tương tác với báo chí, công chúng trong toàn lực lượng.

Bốn là, gắn kỹ năng truyền thông với đánh giá, bổ nhiệm và trách nhiệm người đứng đầu.

Cần đưa tiêu chí về năng lực phát ngôn, quản lý thông tin và xử lý truyền thông vào hệ thống các tiêu chí thi đua, khen thưởng và xem xét bổ nhiệm đối với trưởng công an cấp xã. Điều này không chỉ tạo động lực nâng cao năng lực cá nhân, mà còn xác lập trách nhiệm rõ ràng của người đứng đầu công an cấp xã trong quản trị thông tin tại địa bàn.

Năm là, bảo đảm nguồn lực và hạ tầng cho đào tạo bền vững.

Việc triển khai các chương trình đào tạo đòi hỏi phải có ngân sách ổn định, cơ chế tài chính linh hoạt và đầu tư hạ tầng phù hợp (phòng mô phỏng, hệ thống E-learning, công cụ phân tích dữ liệu truyền thông…). Xây dựng đội ngũ giảng viên chuyên trách về truyền thông trong lực lượng công an nhân dân, kết hợp với chuyên gia bên ngoài nhằm duy trì chất lượng đào tạo và khả năng cập nhật nhanh trước sự biến đổi của môi trường truyền thông số.

Sáu là, thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá và cập nhật chính sách đào tạo.

Xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá hiệu quả đào tạo gắn với thực tiễn công tác tại cơ sở, bao gồm các chỉ số về chất lượng phát ngôn, mức độ ổn định dư luận, hiệu quả truyền thông chính sách. Trên cơ sở đó, định kỳ rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo, bảo đảm tính thích ứng cao với các thách thức mới, đặc biệt trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của truyền thông số.

Sự chuyển đổi mô hình tổ chức, cùng với việc chuyển giao rất nhiều chức năng, nhiệm vụ cho công an cấp xã đã định hình lại vị thế và vai trò của lực lượng công an cơ sở. Công an cấp xã chịu trách nhiệm pháp lý cao trong việc cung cấp thông tin và đối mặt trực tiếp với thách thức từ tin giả và khủng hoảng truyền thông trên không gian mạng. Việc đầu tư đào tạo kỹ năng báo chí, truyền thông chính sách cho công an cấp xã là kỹ năng nghiệp vụ quan trọng, điều kiện cần thiết để bảo đảm thông tin chính xác và duy trì niềm tin xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự ở cấp cơ sở./.

-----------------

(1) “53 chức năng, nhiệm vụ của công an cấp huyện sẽ chuyển giao cho công an cấp tỉnh và cấp xã”, Báo điện tử Chính phủ, ngày 4-3-2025, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/53-chuc-nang-nhiem-vu-cua-cong-an-cap-huyen-se-chuyen-giao-cho-cong-an-cap-tinh-va-cap-xa-119250228122051888.htm
(2) Xem: James E. Grunig: Excellence in Public Relations and Communication Management (Tạm dịch: Sự xuất sắc trong quan hệ công chúng và quản trị truyền thông), Lawrence Erlbaum Associates, Hillsdale, NJ, 1992
(3) Pamela J. Shoemaker & Tim P. Vos: Gatekeeping Theory (Tạm dịch: Lý thuyết Gác cổng), Routledge, New York, 2009
(4), (5) Thông tư số 28/2026/TT-BCA, ngày 28-3-2026, của Bộ Công an, “Quy định về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của công an nhân dân”, Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an, https://bocongan.gov.vn/media/bca-media/library-20260505164541-c00992ee-50fd-4cf5-bb17-ded76cad64d0-thong-tu-28-2026.pdf
(6) Coombs, W. T.: “Protecting Organization Reputations During a Crisis: The Development and Application of Situational Crisis Communication Theory” (Tạm dịch: "Bảo vệ danh tiếng tổ chức trong khủng hoảng: Sự phát triển và ứng dụng của lý thuyết truyền thông khủng hoảng tình huống), Corporate Reputation Review, 2007, Vol. 10, No. 3