TCCSĐT - Công bằng, tiến bộ là những thuộc tính cơ bản của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà Việt Nam đang xây dựng. Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc thực hiện công bằng, tiến bộ trong văn hóa có những đặc điểm mới cần phải được xem xét, để có những giải pháp thực tế, nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa.

Công bằng, tiến bộ trong văn hóa

Thực hiện công bằng, tiến bộ trong văn hóa được tiến hành trong từng bước và trong suốt quá trình đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở Việt Nam, công bằng được xác định là một trong những nguyên tắc và mục tiêu của công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiến bộ được đánh giá bằng hệ thống nguyên tắc đồng thời là hệ mục tiêu của công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN là: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; trong đó công bằng là một sự thể hiện của tiến bộ xã hội.

Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (năm 1998), công bằng, tiến bộ trong văn hóa được hiểu như sau: Công bằng, tiến bộ là thực hiện việc bồi dưỡng tư tưởng đúng và tình cảm tốt đẹp, nhất là những tư tưởng, tình cảm lớn, có ý nghĩa chi phối đời sống tinh thần của mỗi người và của cả dân tộc. Tư tưởng đúng và tình cảm tốt đẹp có ý nghĩa lớn, theo Hồ Chí Minh, là ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do; có tinh thần vì nước, vì lợi ích chung(1). Tư tưởng, tình cảm đó được thể hiện ở 5 đức tính của con người Việt Nam là: có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội...; có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung; có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh...; lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp; thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn và thể lực.

Công bằng, tiến bộ trong văn hóa cơ bản được thể hiện ở sự công bằng, tiến bộ của dân trí gồm học vấn, nghề nghiệp, năng lực thực hành trí lực, năng lực cảm thụ cái đẹp và ứng xử văn hóa. Ngoài ra, môi trường văn hóa, đời sống văn học - nghệ thuật, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc, đời sống tín ngưỡng - tôn giáo, giao lưu văn hóa trong và ngoài nước, thể chế văn hóa - theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII - cũng là những phương diện cần được xem xét, đánh giá của công bằng, tiến bộ trong văn hóa.

Những tiêu chí đánh giá sự công bằng, tiến bộ trong từng phương diện này dĩ nhiên còn nhiều tranh luận, song về cơ bản, có thể đưa ra một số tiêu chí phác họa trên cơ sở các giá trị chuẩn là chân, thiện, mỹ.

Thứ nhất, trong môi trường văn hóa, thước đo sự công bằng, tiến bộ là: xanh, sạch, đẹp; trong đó tiêu chí “xanh” được hiểu dưới hàm nghĩa “tính tự nhiên”, tức là nhân văn, thân thiện hoặc thống nhất với tự nhiên; tiêu chí “sạch” được hiểu dưới hàm nghĩa an sinh văn hóa. Trong môi trường văn hóa, công bằng, tiến bộ còn được thể hiện ở mối quan hệ hài hòa giữa văn hóa người giàu và người nghèo, văn hóa nông thôn và đô thị,...

Thứ hai, công bằng, tiến bộ trong đời sống văn học - nghệ thuật là phát triển đa dạng các loại hình, tác phẩm văn học - nghệ thuật với giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc đối với quá trình phát triển con người và xã hội. Công bằng, tiến bộ trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của các dân tộc (bác học và dân gian, đặc biệt của các dân tộc thiểu số) được thể hiện ở việc bảo tồn, phát triển ngôn ngữ, chữ viết, phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, ứng xử văn hóa trong sinh hoạt đời thường, nhất là trong lễ, tết, hiếu hỷ; là sự bình đẳng giữa các nền văn hóa dân tộc đa số và thiểu số trong bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa của mỗi dân tộc.

Công bằng, tiến bộ trong đời sống tín ngưỡng - tôn giáo là bảo đảm sự tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật; là khuyến khích thực hành tư tưởng công bằng, bác ái, hướng thiện trong tôn giáo, đồng thời khắc phục tệ mê tín dị đoan, lợi dụng tín ngưỡng - tôn giáo, nhằm vụ lợi hoặc nhằm thực hiện ý đồ chống phá chế độ chính trị.

Công bằng, tiến bộ trong giao lưu văn hóa là tạo lập được việc tiếp biến một cách bình đẳng tinh hoa văn hóa trong và ngoài cộng đồng dân tộc Việt Nam trên nền tảng truyền thống văn hóa nội sinh; là hình thành được mối quan hệ hài hòa giữa văn hóa với văn minh.

Cuối cùng, công bằng, tiến bộ trong thể chế văn hóa là thúc đẩy mạnh mẽ xã hội hóa văn hóa trên cơ sở quản lý có hiệu quả của Nhà nước, nhằm phát triển các hình thức sáng tạo và tham gia hoạt động văn hóa của các cộng đồng, cá nhân trong khuôn khổ luật pháp. Trước mắt là tạo được sự tiến bộ thực tế trong việc xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và nâng cao được chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa nhà nước. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của các thiết chế và thể chế văn hóa dân lập tự quản (đội chèo, tuồng, rối nước; câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ; thư viện, bảo tàng tư nhân...).

Tiến bộ trong văn hóa là đạt được sự phát triển về chất trong việc xác lập, phổ biến các chuẩn mực văn hóa trong xã hội; là nâng cao năng lực làm việc, làm người, làm đảng viên, làm cán bộ trên cơ sở “thực nghề”. Công bằng trong văn hóa là sự phát triển về chất điều kiện và mức độ bình đẳng trong việc bảo đảm quyền tiếp cận các dịch vụ văn hóa nói riêng, phát triển các hoạt động sáng tạo, thụ hưởng thành quả văn hóa, tương xứng với sự phát triển kinh tế và xã hội cũng như nhu cầu văn hóa của con người và cộng đồng trong thế giới đương đại.

Thực hiện công bằng, tiến bộ trong văn hóa hiện nay

Một số kết quả

Kết quả về thực hiện tiến bộ trong bồi dưỡng tư tưởng đúng, tình cảm tốt đẹp là đã hình thành một cách phổ biến lý tưởng, niềm tin vào đổi mới trong môi trường đời thường và nhân văn. Ngày nay tư tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội không chỉ được thể hiện ở việc lựa chọn các giá trị văn hóa chung, như hòa bình, dân chủ, công bằng..., mà còn cả ở việc lựa chọn những giá trị đời thường và nhân văn, như tạo việc làm cho bản thân, gia đình, xã hội; thật thà, giữ chữ tín; sử dụng đồng tiền có ích cho bản thân, gia đình và xã hội; sống tình nghĩa, từ thiện, giúp đỡ người có công với nước, với người khuyết tật, người già,...; tham gia phong trào “màu áo xanh tình nguyện”; tình nguyện công tác ở biên giới, hải đảo;...

Kết quả về công bằng trong bồi dưỡng tư tưởng đúng, tình cảm tốt đẹp là trên cơ sở dân chủ hóa các quan hệ với Nhà nước, hệ thống chính trị, và trên cơ sở xã hội hóa các lĩnh vực khác nhau của đời sống văn hóa - xã hội, đã tạo được sự bình đẳng trong việc biểu đạt công khai tư tưởng, tình cảm của mỗi người, mỗi cộng đồng. Thông qua sự phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, người dân có thể đóng góp, phản biện đường lối, chủ trương, chính sách, luật pháp của Đảng, Nhà nước. Xã hội hóa văn hóa đang tạo ra nhiều hơn cơ hội bình đẳng cho nhiều người dân trong việc tiếp cận các dịch vụ văn hóa. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng hỗ trợ rất có hiệu quả. Nhờ thế việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm tốt đẹp có “sân chơi” và môi trường công bằng hơn đối với các thành viên xã hội.

Kết quả về thực hiện công bằng, tiến bộ trong môi trường văn hóa là cơ bản hướng đến môi trường có tính người (tính nhân văn) và ngày càng khoan dung, tức là chấp nhận có sự khác biệt văn hóa. Đổi mới, mà cụ thể là kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN với các quá trình dân chủ hóa, xã hội hóa đã lôi cuốn đa số thành viên xã hội tích cực tham gia vào các hoạt động văn hóa - xã hội và ở đâu cũng nêu gương những người làm ăn giỏi, khuyến khích làm giàu và hỗ trợ người yếu thế trong xã hội. Thực tế đó phù hợp với tâm lý tự nhiên của con người và tạo nên bầu không khí phấn khởi trong toàn xã hội. Đây là một bằng chứng về sự tiến bộ của môi trường văn hóa. Trên cơ sở đó cũng mở ra nhiều cơ hội ngang nhau cho nhiều người tham gia kiến thiết môi trường văn hóa. Thành tựu về công bằng trong môi trường văn hóa là nhìn chung đã giữ được mối quan hệ tương đối đồng thuận giữa người giàu và người nghèo, giữa người dân tộc thiểu số và đa số,... trong quá trình tham gia vào cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, nhất là gia đình văn hóa.

Kết quả về thực hiện công bằng, tiến bộ trong đời sống văn học - nghệ thuật là phát triển đồng thời cả văn học - nghệ thuật hàn lâm (bác học), đại chúng và dân gian trên cơ sở kế thừa, phát huy di sản văn học nghệ thuật các dân tộc Việt Nam. Sự phát triển đa dạng các loại hình văn học - nghệ thuật trên cả ba phương diện ấy là thể hiện cho sự tiến bộ đã đạt được. Trình độ dân trí dần được nâng cao trong điều kiện dân chủ hóa, xã hội hóa đã thúc đẩy sự tiến bộ trong việc thẩm định tác phẩm, hướng dẫn dư luận xã hội, nhằm bảo đảm tự do sáng tác gắn liền với việc nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ, các nhà văn hóa và của giới nghiên cứu, lý luận phê bình văn học nghệ thuật. Kết quả là văn học - nghệ thuật đã cơ bản phản ánh và phần nào dự báo được tính tích cực của đổi mới, tính nhân văn trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Tính nhân văn, tính dân chủ là đường nét chủ đạo của đời sống văn học - nghệ thuật thời kỳ đổi mới.

Kết quả thực hiện công bằng, tiến bộ trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc là đã chú ý bảo tồn, phát triển văn hóa các vùng hay sắc thái văn hóa địa phương: Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ. Đồng thời đặc biệt coi trọng việc thực hiện công bằng, tiến bộ trong việc bảo tồn văn hóa các dân tộc.

Kết quả thực hiện công bằng, tiến bộ trong đời sống tín ngưỡng - tôn giáo, cơ bản là thực hiện được tự do tín ngưỡng - tôn giáo và tự do không theo tín ngưỡng - tôn giáo, nhằm xây dựng đời sống tín ngưỡng - tôn giáo lành mạnh bên cạnh một môi trường không tín ngưỡng - tôn giáo lành mạnh. Mối quan hệ hài hòa này được xác lập đã và sẽ bảo đảm thực hiện được công bằng và do đó là tiến bộ cho không chỉ đời sống tín ngưỡng - tôn giáo. Biểu hiện rõ nhất là nhiều công trình tín ngưỡng - tôn giáo được trùng tu, được xây mới; sinh hoạt tín ngưỡng - tôn giáo tự do và phong phú.

Kết quả thực hiện công bằng, tiến bộ trong giao lưu văn hóa thể hiện ở việc xác lập phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ hợp tác quốc tế; ở mục tiêu “làm bạn với tất cả các nước”; ở cách thức ngoại giao nhân dân, tức là cùng với các thiết chế nhà nước, các thiết chế của các tầng lớp nhân dân cũng được thực hiện giao lưu văn hóa trong và ngoài nước một cách bình đẳng. Nội dung giao lưu văn hóa cũng đạt được sự tiến bộ, từng bước được điều chỉnh theo hướng phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Kết quả thực hiện công bằng, tiến bộ trong thiết chế văn hóa thể hiện ở sự phát triển các thiết chế văn hóa dân lập tự quản trên cơ sở kiện toàn thiết chế văn hóa nhà nước. Công bằng trong việc xây dựng, phát triển các thiết chế văn hóa đã thúc đẩy sự tiến bộ trong cách thức hoạt động, không chỉ của các thiết chế dân lập tự quản, mà của cả thiết chế văn hóa của Nhà nước. Tiến bộ này thể hiện ở việc thường xuyên kiện toàn tổ chức bộ máy và hoàn thiện đường lối, chủ trương, luật pháp, chính sách, kể cả các quy chế, quy ước văn hóa ở cơ sở.

Một số hạn chế

Hạn chế trong việc thực hiện công bằng, tiến bộ trong bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm là sự phát triển lấn lướt theo hướng thoái bộ (phi tiến bộ, phản tiến bộ) về tư tưởng, đạo đức, lối sống của không ít người dân.

Hạn chế về thực hiện công bằng, tiến bộ trong môi trường văn hóa là hệ quả trực tiếp của sự thoái bộ về tư tưởng, đạo đức, lối sống và là hệ quả gián tiếp của sự xuống cấp môi trường thiên nhiên, kinh tế - xã hội. “Văn hóa đen”, “văn hóa ngoài luồng” vẫn đang làm vẩn đục môi trường văn hóa. Việc du nhập một số thú tiêu khiển hiện đại đang thực sự gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường văn hóa. Sự phân hóa trong việc tiếp cận các dịch vụ văn hóa do sự phân hóa giàu nghèo, trình độ dân trí, đang gây khó khăn rất lớn cho việc thực hiện công bằng trong xây dựng môi trường văn hóa.

Hạn chế trong việc thực hiện công bằng, tiến bộ trong đời sống văn học - nghệ thuật là sự phát triển hầu như không kiểm soát được của văn học, nghệ thuật đại chúng, nhất là những đề tài kích thích bạo lực và các bản năng thấp hèn. Văn học, nghệ thuật đại chúng có chức năng tích cực là phổ cập hóa giá trị văn hóa nhưng mặt tiêu cực của nó là gắn với “cơ chế đồng tiền” và là chất “ma túy xã hội” cầm tù con người trong lạc thú tiêu khiển những sản phẩm văn học, nghệ thuật rẻ tiền, kích thích bạo lực và bản năng thấp hèn của con người(2).

Hạn chế trong việc thực hiện công bằng, tiến bộ trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc là chưa có những cách làm đúng đối với việc bảo tồn, kế thừa nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể; có khuynh hướng hiện đại hóa, “hoành tráng hóa”, ví dụ tổ chức lễ hội tràn lan, xây dựng đình, chùa, nhà thờ,... Ngôn ngữ của nhiều dân tộc thiểu số vẫn bị mai một. Cảnh quan văn hóa - lãnh thổ tộc người bị xâm hại, biến dạng, nhất là ở vùng phát triển công nghiệp, đô thị hóa. Còn tại vùng sâu, vùng xa, các nguồn lực để bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc rất hạn chế. Di sản văn hóa của các dân tộc có số dân dưới 1.000 người có nguy cơ bị mai một rất cao. Sự công bằng trong phát triển văn hóa của các dân tộc có dân số đông và dân số ít chưa được chú ý thực hiện tốt.

Hạn chế trong thực hiện công bằng, tiến bộ trong đời sống tín ngưỡng - tôn giáo là đã xuất hiện những tà đạo và việc lợi dụng tín ngưỡng - tôn giáo cho mục đích thực dụng hoặc mê tín dị đoan.

Hạn chế trong thực hiện công bằng, tiến bộ trong giao lưu văn hóa là chưa chủ động tiếp biến được các giá trị và phương tiện văn hóa ngoại lai hiện đại trên cơ tầng văn hóa dân tộc. Tính lắp ghép, hỗn dung văn hóa ngoại lai là khá phổ biến.

Hạn chế trong việc thực hiện tiến bộ, công bằng trong xây dựng, kiện toàn, phát triển thiết chế văn hóa được bộc lộ rõ ở phát triển tự phát có tính nhất thời (hay tính kỳ cuộc) của nhiều thiết chế văn hóa dân lập tự quản; ở sự chưa hoàn thiện của các thể chế “mềm”, như chủ trương, luật pháp, chính sách, quy chế, quy ước văn hóa.

Nguyên nhân chung của những hạn chế trong thực hiện công bằng, tiến bộ trong văn hóa là bản thân cách nghĩ, cách làm văn hóa chưa phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Thực hiện công bằng, tiến bộ trong văn hóa là rất phức tạp. Ví dụ, trong bảo tồn, phát triển di sản văn hóa dân tộc, rất khó tránh được sự lấn lướt của văn hóa dân tộc có số dân đông hoặc có trình độ phát triển cao hơn. Mục tiêu phát triển văn hóa chủ yếu chạy theo tiêu chí số lượng, chưa quan tâm đầy đủ đến chất lượng phát triển văn hóa.

Những vấn đề bức xúc hiện nay khi thực hiện công bằng, tiến bộ trong văn hóa là:

- Trong quản lý nhà nước về văn hóa chưa tìm được cách thức giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa mục tiêu số lượng và mục tiêu chất lượng theo hướng từng bước xác lập thể chế quản lý bằng chất lượng. Nhiều mục tiêu văn hóa đặt ra quá cao và xa rời thực tế. Ví dụ, nếu căn cứ vào tiêu chí gia đình văn hóa hiện nay, trong đó các thành viên gia đình phải có việc làm ổn định, hợp pháp và không có người mắc tệ nạn xã hội,... thì tỷ lệ gia đình Việt Nam hội đủ các điều kiện này rất khó đạt trên 80% như mục tiêu đề ra của các địa phương.

- Việc xóa đói giảm nghèo hiện nay mới tập trung vào kinh tế vật chất là chính và đang cố gắng chuyển sang lĩnh vực y tế, giáo dục. Do đó, việc thực hiện công bằng đối với người nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa... trong việc tiếp cận các dịch vụ văn hóa vẫn gặp nhiều khó khăn.

Giải pháp tiếp tục thực hiện tiến bộ, công bằng trong văn hóa

Một là, trong tuyên truyền, giáo dục hiện nay cần tích cực bồi dưỡng chuẩn mực (hoặc tiêu chí) đạo đức, nếp ứng xử văn hóa phù hợp với việc làm và địa vị xã hội cũng như thói quen quan tâm đến đời sống văn hóa, trước hết ở những người lãnh đạo, quản lý các cấp; và tiếp tục thực hiện các chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho những người làm công tác tư tưởng, văn hóa chuyên nghiệp, thông qua đó sẽ bồi dưỡng cách nghĩ, cách làm văn hóa, giáo dục trên cơ sở nhân cách, phong cách văn hóa.

Hai là, trên cơ sở mức sống của đa số nhân dân đã được cải thiện cần hình thành, phát triển dư luận xã hội quan tâm, tôn vinh nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, tôn vinh học vấn, tay nghề trên cơ sở thực nghề và tích cực tham gia vào các hoạt động văn hóa, giáo dục.

Ngày nay, truyền thống “tôn sư trọng đạo”, thanh lịch,... cần được khai thác, phát huy bằng cách huy động các phương tiện thông tin đại chúng, dư luận xã hội lôi cuốn mọi thành viên xã hội tỏ rõ thái độ, chính kiến và tích cực tham gia hoặc sáng tạo các hoạt động văn hóa, giáo dục. Trên cơ sở đó tạo được nhiều nguồn lực và quan trọng hơn là kiến thiết được môi trường tôn vinh văn hóa; góp phần điều chỉnh quá trình phát triển văn hóa theo hướng tiến bộ, công bằng.

Ba là, quy hoạch, phát triển công nghiệp sản xuất và dịch vụ thông tin, văn hóa với nhiều cấp độ từ hàn lâm đến phổ cập đại chúng; từ bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa truyền thống đến các loại hình văn hóa hiện đại; từ chuyên nghiệp đến không chuyên nghiệp hoặc dân gian hiện đại;... Trên cơ sở đó sẽ mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ thông tin, văn hóa của các tầng lớp xã hội với dân trí, mức sống, tâm lý dân tộc,... khác nhau.

Bốn là, cần tăng cường và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính, pháp lý của Nhà nước đồng thời tạo điều kiện phát triển đa dạng các thiết chế văn hóa dân lập tự quản, để đẩy mạnh xã hội hóa văn hóa. Trong quá trình đẩy mạnh xã hội hóa văn hóa, vai trò của Nhà nước không giảm, trái lại tăng mạnh, nhưng được thực hiện không theo kiểu cơ chế tập trung - bao cấp, mà theo hướng xây dựng và thực hiện các chương trình có mục tiêu với sự tham gia chủ yếu của Nhà nước về luật pháp, tài chính, nhân lực, nhằm tập hợp, huy động nguồn lực của tập thể, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế, các tầng lớp xã hội.

Hành lang pháp luật rộng, thoáng, nghiêm minh với luật pháp, chính sách khuyến khích tập thể, cá nhân, nhất là các “Mạnh thường quân” đầu tư, phát triển văn hóa là điều kiện thiết yếu để thúc đẩy mạnh xã hội hóa văn hóa. Nhưng nguồn lực của Nhà nước, nhất là tài chính, pháp lý, vẫn đóng vai trò chủ đạo đối với quá trình xã hội hóa này. Tăng cường thêm ngân sách đồng thời phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước cũng là yêu cầu rất quan trọng của quá trình xã hội hóa văn hóa.

Tạo điều kiện phát triển đa dạng các thiết chế dân lập tự quản (các hội, các quỹ văn hóa, giáo dục, các tổ, đội văn nghệ; các câu lạc bộ, viện bảo tàng, trường học...) là tiền đề cơ bản, có triển vọng đối với việc đẩy mạnh xã hội hóa văn hóa. Nhà nước, dù thế nào chăng nữa, cũng không thể và không nên tự mình tổ chức tất cả các hoạt động văn hóa, mà chuyển dần cho các tổ chức dân lập tự quản dưới các hình thức cổ phần, tư nhân,... Dĩ nhiên các tổ chức xã hội phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh giao lưu văn hóa với khu vực và thế giới, để tiếp thu những cách nghĩ, cách làm văn hóa tiên tiến; có thêm nguồn lực cũng như bổ sung khả năng đáp ứng nhu cầu về các phương tiện thông tin, văn hóa của nhân dân trên cơ sở sự lựa chọn phù hợp với mục tiêu phát triển của nền văn hóa Việt Nam.

Thông qua hội nhập quốc tế có khả năng tiếp cận, vận dụng các chỉ số phát triển chất lượng của văn hóa, để có thể so sánh với trình độ phát triển văn hóa của các nước trên thế giới. Định vị đúng trình độ thực hiện tiến bộ, công bằng của văn hóa Việt Nam trong khu vực, thế giới là một cơ sở để thực hiện sự nghiệp này tốt đẹp hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa./.

------------------------------------------------

(1) Xem Hồ Chí Minh, Về công tác văn hóa - văn nghệ, Nxb. Sự thật, H. 1977, tr.90.

(2) Nguyễn Thanh Tuấn, Văn hóa ở các nước tư bản phát triển - đặc điểm và dự báo, Viện Văn hóa và Nxb. VHTT, H. 2005, tr.36-38.