Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền

PGS, TS NGUYỄN NGỌC HÀ
Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
00:12, ngày 28-01-2026

TCCS - Không chỉ là địa bàn sớm có tổ chức đảng và phong trào cách mạng phát triển, Cao Bằng còn là nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng, nơi diễn ra Hội nghị Trung ương lần thứ tám - hội nghị chuyển hướng chiến lược quyết định, nơi ra đời Mặt trận Việt Minh và là nơi hình thành lực lượng vũ trang chủ lực đầu tiên của cách mạng Việt Nam.

Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc _Tranh: "Nắm đất quê hương" của họa sĩ Phạm Công Thành tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Địa bàn chiến lược - nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng

Trong tiến trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc, việc hình thành và phát triển các căn cứ địa cách mạng đóng vai trò then chốt. Căn cứ địa không chỉ là nơi bảo toàn và nuôi dưỡng lực lượng cách mạng, mà còn là không gian thực tiễn để thử nghiệm đường lối, xây dựng phong trào quần chúng, tổ chức lực lượng vũ trang và từng bước hình thành chính quyền cách mạng.

Trong hệ thống căn cứ địa nhằm hướng đến khởi nghĩa giành chính quyền, Cao Bằng giữ một vị thế đặc biệt. Vị trí địa lý - chính trị là yếu tố tiên quyết tạo nên vị thế đặc biệt của Cao Bằng. Tỉnh có đường biên giới dài hơn 300km tiếp giáp với Trung Quốc, chủ yếu là tỉnh Quảng Tây. Trong bối cảnh cách mạng Đông Dương chịu sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp, việc tìm kiếm một địa bàn “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” và có thể tiếp nhận sự hỗ trợ từ bên ngoài là yêu cầu sống còn. Cao Bằng, với địa hình hiểm trở, rừng núi trùng điệp, dân cư thưa thớt và hệ thống đường sá kém phát triển, đã trở thành một điều kiện tự nhiên lý tưởng. Bên cạnh đó, Cao Bằng là một tỉnh nông thôn miền núi, nơi lực lượng và bộ máy cai trị của địch mỏng và yếu hơn các tỉnh và các đô thị vùng đồng bằng. Đây là địa bàn mà địch khó có thể tập trung lực lượng để đàn áp trên phạm vi toàn tỉnh. Việc xây dựng các lực lượng chính trị, vũ trang trong căn cứ địa sẽ bảo đảm bí mật, thuận tiện cho tác chiến và có điều kiện phát triển về phía bắc, phía đông và phía nam, vừa có thể liên lạc với quốc tế.

Đồng bào các dân tộc Cao Bằng sống giản dị, chân thành, chất phác, có truyền thống yêu nước, bất khuất chống ngoại xâm. Khi thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược và bình định nước ta, nhân dân Cao Bằng tích cực tham gia các phong trào đấu tranh chống Pháp. Từ khi có Đảng lãnh đạo, Cao Bằng là nơi sớm có tổ chức cách mạng, đồng bào các dân tộc Cao Bằng giữ vững niềm tin son sắt, hết lòng bảo vệ cán bộ, ủng hộ cách mạng. Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, chi bộ đảng đầu tiên của Cao Bằng ra đời ngày 1-4-1930. Những năm cuối thập niên 30 của thế kỷ XX, phong trào cách mạng ở Cao Bằng đã có những bước phát triển đáng kể. Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng Cộng sản, cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là công nhân chống lại ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp đã phát triển và thu được nhiều kết quả. Ngoài ra, vùng biên giới Cao Bằng - Quảng Tây từ lâu đã trở thành địa bàn hoạt động của nhiều nhóm cách mạng người Việt và các lực lượng Trung Quốc có cảm tình, tạo nên một “vùng đệm” chính trị thuận lợi.

Như vậy, Cao Bằng hội đủ các yếu tố về tự nhiên, con người để trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc cho phong trào cách mạng Việt Nam. Đánh giá vị trí chiến lược của Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tấn công, lúc khó khăn có thể giữ”(1). Quyết định chọn Cao Bằng làm nơi đứng chân đầu tiên để xây dựng căn cứ địa cách mạng là một sự tính toán kỹ lưỡng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, có tính quyết định tới sự phát triển phong trào cách mạng của cả nước.

Ngày 28-1-1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc qua cột mốc 108 trên biên giới Việt - Trung(2). Tại xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, Người và các đồng chí của mình đã chọn làng Pác Bó làm nơi đặt cơ quan “tổng hành dinh” lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Hội nghị Trung ương lần thứ tám tạo ra bước ngoặt chiến lược của cách mạng

Sau một thời gian chuẩn bị, Hội nghị Trung ương lần thứ tám đã được tổ chức tại Khuổi Nặm - Pác Bó từ ngày 10 đến 19-5-1941. Dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, dự hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hạ Bá Cang, Hoàng Văn Thụ, Vũ Anh, Bùi San, Hồ Xuân Lưu, Phùng Chí Kiên... Hội nghị chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(3).

Từ những phân tích về tình hình, sự thay đổi thái độ của các giai cấp, tầng lớp và nguyện vọng của toàn thể nhân dân, hội nghị quyết định: “Cần phải thay đổi chiến lược”(4), phải xem nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là “nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương”(5). Vì vậy, hội nghị chủ trương tiếp tục tạm gác khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày, thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại công điền cho công bằng, giảm địa tô, giảm tức, thủ tiêu thuế điền.

Hội nghị cũng chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước, cốt làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân. Do đó, quyết định thành lập ở mỗi nước một Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi với những tên dễ hiểu, có ý nghĩa cho từng dân tộc.

Cùng với quyết định xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, coi đó là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân trong giai đoạn hiện tại: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang”(6); hội nghị quyết định lấy vùng miền núi Việt Bắc để xây dựng căn cứ vũ trang, trước hết là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai; đồng chí Phùng Chí Kiên được cử về làm Chỉ huy trưởng lực lượng Cứu quốc quân ở Bắc Sơn - Võ Nhai...

Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941 có ý nghĩa to lớn trong tiến trình hoạch định đường lối và quá trình thực hiện cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang; đã bổ sung và hoàn chỉnh “Chính sách mới của Đảng” được nêu ra từ Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939, khẳng định dứt khoát chủ trương “thay đổi chiến lược”, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Sự thay đổi căn bản nhận thức về nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Đông Dương là nguồn gốc, nền tảng để Đảng đưa ra những quyết sách lớn nhằm đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước trong Mặt trận Việt Minh; xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng ở cả nông thôn và thành thị; xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang; tích cực chuẩn bị lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa... Đây là những quyết sách dẫn đường cho toàn thể dân tộc ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh thực dân Pháp, đuổi phát xít Nhật, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Căn cứ địa toàn diện, cái nôi của phong trào Việt Minh và trung tâm huấn luyện, đào tạo cán bộ

Giai đoạn 1941 - 1945, từ một địa bàn chiến lược tiềm năng, Cao Bằng đã trở thành căn cứ địa cách mạng hiện thực, được xây dựng một cách bài bản, toàn diện và trở thành hình mẫu cho các căn cứ khác trong cả nước.

Ngay sau khi về nước (28-1-1941), Nguyễn Ái Quốc bắt tay ngay vào công tác xây dựng lực lượng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức để chuẩn bị cho mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong đó, Người chủ trương xây dựng củng cố Đảng vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang; căn cứ địa cách mạng; thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi,...

Để tập hợp sức mạnh toàn dân tộc tiến hành đấu tranh cách mạng, Cao Bằng vinh dự là tỉnh đầu tiên trên toàn quốc được Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn xây dựng thí điểm Mặt trận Việt Minh. Với chủ trương này, tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc liên tiếp mở các lớp huấn luyện cán bộ cho phong trào Việt Minh; trực tiếp làm giảng viên, huấn luyện cán bộ về cách tổ chức các hội cứu quốc, giảng giải về chủ trương, mục đích, điều lệ của Mặt trận Việt Minh cho các đồng chí ở Cao Bằng… Số lượng cán bộ tham gia các lớp huấn luyện ngày càng đông góp phần đáp ứng kịp thời mở rộng phong trào cách mạng.

Cùng với huấn luyện cán bộ, Người chỉ đạo thực hiện thí điểm Việt Minh và các hội cứu quốc ở các châu: Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình, từ đó rút kinh nghiệm nhân rộng ra cả nước. Phong trào phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, từ tháng 2 đến tháng 4-1941, đã có 2.000 người thuộc mọi tầng lớp, dân tộc tham gia các đoàn thể: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc(7). Hội viên gồm các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông... với các lứa tuổi và các giới: thanh niên, phụ lão, phụ nữ. Nhiều xã, tổng, châu trở thành vùng Việt Minh “hoàn toàn” - một hình thức của vùng giải phóng(8).

Trước sự phát triển lớn mạnh của phong trào Việt Minh tại các châu thí điểm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo đồng chí Vũ Anh, đồng chí Hoàng Văn Thụ và các đồng chí của Tỉnh ủy Cao Bằng tổ chức hội nghị đánh giá công tác thí điểm. Tháng 4-1941, hội nghị được tổ chức tại Goọc Mu - Pác Bó để rút kinh nghiệm nhằm chuẩn bị một bước phát động phong trào Việt Minh trong cả nước. Hội nghị thống nhất: công tác xây dựng thí điểm các đoàn thể cứu quốc, mở đầu bằng lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh, đã đạt kết quả tốt; các đoàn thể cứu quốc có sức thu hút to lớn đối với quần chúng. Mô hình “xây dựng thí điểm” ở 3 châu Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình sau đó được nhân rộng ra các tỉnh khác(9).

Công tác thí điểm ở Cao Bằng thành công có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào cách mạng chung của cả nước, chứng tỏ chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, các tổ chức cứu quốc là phù hợp với nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân. Đến năm 1942, khắp các địa phương trong tỉnh Cao Bằng, nhiều xã Việt Minh “hoàn toàn” đã xuất hiện, tiến tới ra đời các “tổng hoàn toàn”, rồi các “châu hoàn toàn”. Trên cơ sở đó, Ban Việt Minh các cấp từ xã đến châu lần lượt được thành lập. Ngày 20-8-1942, Ban Việt Minh chính thức châu Hà Quảng được thành lập, tiếp đó, tháng 10-1942 là Ban Việt Minh châu Hòa An, tháng 11-1942 là Ban Việt Minh châu Nguyên Bình(10)

Kết quả công tác thí điểm ở Cao Bằng là cơ sở thực tiễn vững chắc khẳng định chủ trương của Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Mặt trận Việt Minh là đúng đắn và kịp thời, có tác dụng động viên, cổ vũ phong trào. Đây là hình thức tập hợp, đoàn kết đông đảo lực lượng quần chúng tham gia đấu tranh, thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển đi lên. Vì vậy, đã góp phần làm cho Hội nghị Trung ương 8 thành công rực rỡ, đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam(11).

Trong những năm 1941 - 1945, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng, phong trào Việt Minh ở Cao Bằng phát triển rất sớm và rất vững chắc, trở thành “cái nôi” kiểu mẫu. Phong trào đã thực hiện tốt việc kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang, xây dựng lực lượng tại chỗ và hỗ trợ các vùng lân cận. Sức mạnh quần chúng ở Cao Bằng đã tạo thành một “vùng giải phóng” trên thực tế, nơi chính quyền thực dân chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa ở một số thị trấn. Ngoài ra, Cao Bằng đóng vai trò như một “trường đại học cách mạng” tại chỗ. Từ đây, nhiều lớp huấn luyện chính trị, quân sự ngắn hạn được tổ chức cho cán bộ từ các tỉnh về học tập. Đặc biệt, hàng trăm cán bộ người Cao Bằng (chủ yếu là người dân tộc Tày, Nùng, Dao) được đào tạo, trở thành những hạt nhân nòng cốt không chỉ cho phong trào địa phương mà còn được điều động sang hoạt động ở các tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên… Điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược về đào tạo cán bộ địa phương, góp phần nhân rộng mô hình Cao Bằng ra toàn quốc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Tô Lâm nghe nhân dân xóm Pác Bó (Cao Bằng) biểu diễn hát Then, đàn Tính, ngày 9-6-2024_Ảnh: TTXVN

Cao Bằng - cái nôi của lực lượng vũ trang cách mạng

Trong tiến trình chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng xác định lực lượng vũ trang giữ vai trò nòng cốt, là công cụ bạo lực cách mạng để đập tan bộ máy thống trị của kẻ thù. Trên cơ sở đó, việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng được tiến hành từng bước, gắn liền với quá trình xây dựng căn cứ địa và phong trào quần chúng.

Tại Cao Bằng, lực lượng vũ trang cách mạng được hình thành sớm. Tháng 10-1941, theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Tỉnh ủy Cao Bằng thành lập đội du kích tập trung đầu tiên tại Pác Bó (còn gọi là Đội du kích Pác Bó)(12), có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo của Đảng, bảo vệ cán bộ, làm giao thông liên lạc đặc biệt, võ trang tuyên truyền trong quần chúng, giúp việc huấn luyện tự vệ chiến đấu(13). Cùng với sự phát triển của phong trào cách mạng, các đội tự vệ xã, tổng lần lượt ra đời

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ thị cho đội du kích tập trung đầu tiên ở Pác Bó phân tán về các địa phương làm nhiệm vụ. Người chỉ thị cho Đảng bộ Cao Bằng: “Bây giờ là lúc phải tổ chức lực lượng vũ trang cho tới tận các địa phương, phải làm gấp. Nếu chần chừ sẽ không kịp đâu, chẳng mấy chốc mà Hồng quân Liên Xô sẽ tiêu diệt bọn phát xít. Lúc bấy giờ ta phải có đủ lực lượng để đứng lên giành chính quyền”(14). Thực hiện chỉ thị, Tỉnh uỷ Cao Bằng tăng cường chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh xây dựng các đội tự vệ. Đến đầu năm 1943, các xã, tổng thuộc các châu Hà Quảng, Hoà An, Nguyên Bình đều có đội tự vệ.

Cùng với xây dựng lực lượng tự vệ, Đảng bộ Cao Bằng đã mở nhiều lớp huấn luyện quân sự cấp tỉnh, đào tạo cán bộ quân sự cho phong trào cách mạng. Lớp quân chính khoá I được mở tại Khuổi Nặm - Pác Bó (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng), có khoảng 40 học viên. Khoá II được mở tại U Mả (xã Dân Chủ, huyện Hoà An), có gần 100 học viên. Khoá III mở tại Nguyên Bình, có khoảng 30 học viên. Khoá IV lại được mở tại Hà Quảng, cũng có rất nhiều học viên(15). Những khoá này đều được tổ chức tại vùng các dân tộc ít người, được đồng bào giúp đỡ về mọi mặt như ăn, ở, canh gác, bảo vệ… Sau mỗi khoá học, học viên trở về địa phương, huấn luyện tổ chức lực lượng vũ trang. Vì vậy, theo đà phát triển của phong trào Việt Minh, việc luyện tập quân sự trở nên sôi nổi, rộng khắp trong phạm vi toàn tỉnh.

Đặc biệt, ngày 22-12-1944, thực hiện chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, gồm 34 chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách, đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng, đồng chí Dương Mạc Thạch làm Chính trị viên. Trong Đội có 25 đồng chí là con em các dân tộc tỉnh Cao Bằng; tỉnh Bắc Kạn 3 người, Thái Nguyên 2 người, Quảng Bình 2, Lạng Sơn 1, Thái Bình 1(16). Những đóng góp xứng đáng cho sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã khẳng định Cao Bằng là cái nôi của lực lượng vũ trang cách mạng chính quy đầu tiên.

Đầu mối giao thông quốc tế, cửa ngõ đón nhận sự hỗ trợ từ bên ngoài

Trong điều kiện cách mạng Việt Nam bị bao vây, cô lập, con đường liên lạc với bên ngoài, đặc biệt là với Đảng Cộng sản Trung Quốc và các lực lượng Đồng minh chống phát xít, có ý nghĩa sống còn. Cao Bằng trở thành đầu mối quan trọng nhất của hệ thống đường dây giao thông liên lạc quốc tế. Từ Pác Bó, các đường dây bí mật xuyên rừng vượt biên sang Tĩnh Tây, Long Châu (Quảng Tây) được thiết lập. Qua đây, thư từ, chỉ thị, tài liệu, vũ khí và cả cán bộ được chuyển qua lại. Nhiều cán bộ cao cấp của Đảng như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh... đã sử dụng con đường này để ra nước ngoài công tác và trở về nước.

Đặc biệt, từ cuối năm 1944, phong trào cách mạng càng phát triển mạnh mẽ, việc tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của quốc tế, nhất là lực lượng Đồng minh do Mỹ phụ trách đang ở Côn Minh (Trung Quốc), là một trong những chủ trương lớn của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Nhưng điều kiện cần và đủ để thực hiện chủ trương này là một vấn đề lớn. Đúng thời điểm đó (tháng 11-1944), Mặt trận Việt Minh cứu thoát Trung úy phi công Shaw sau khi buộc phải nhảy dù xuống Cao Bằng. Việc cứu được phi công Mỹ là một trong những điều kiện để đầu năm 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh lên đường đi Côn Minh thực hiện sứ mệnh của mình với “quà tặng” đặc biệt với Mỹ là Trung úy phi công Shaw. Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng đến đầu tháng 3-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thiết lập được quan hệ với Mỹ và được Mỹ trợ giúp ngay sau cuộc gặp(17).

Tại Côn Minh, với tư cách là đại diện của tổ chức Việt Minh, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã gặp gỡ, hội đàm với Tướng không quân Claire Lee Chennault - Tư lệnh Không đoàn 14 (Mỹ), đại diện cao nhất của quân Đồng minh tại khu vực. Từ đây mở ra một cánh cửa bang giao mới. Chính từ sau cuộc gặp gỡ của lãnh tụ Hồ Chí Minh với tướng Claire Lee Chennault, nước Mỹ với tư cách là Đồng minh chống phát xít đã giúp Việt Minh về cán bộ, thuốc men, vũ khí... Ngày 17-7-1945, đội “Con Nai” đã nhảy dù xuống Tuyên Quang để huấn luyện sử dụng vũ khí của Mỹ cho bộ đội Việt Minh.

Như vậy, ngay từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cánh cửa quan hệ Việt - Mỹ đã được khai mở, mà Cao Bằng là mốc khởi đầu cho mối quan hệ đó. Thời gian của mối quan hệ đó trên đất Cao Bằng tuy ngắn nhưng lại rất quan trọng. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tranh thủ mối quan hệ này để làm nhiều việc cho cách mạng. Thông qua cách ứng xử của lãnh tụ Hồ Chí Minh mà người Mỹ hiểu về nhân dân Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã để lại trong lòng những người bạn Mỹ tình cảm sâu sắc không chỉ lúc đó mà cả sau này.

Bàn đạp và hậu phương trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Khi thời cơ cách mạng chín muồi sau Nhật đầu hàng Đồng minh, từ căn cứ địa, Cao Bằng đã trở thành bàn đạp mạnh mẽ cho Tổng khởi nghĩa. Ủy ban khởi nghĩa tỉnh được cấp tốc thành lập do đồng chí Hoàng Đình Giong (tức Văn Tư) làm Trưởng ban(18). Từ ngày 20 đến 22-8-1945, quần chúng được vũ trang và các đơn vị Giải phóng quân đã nhanh chóng giành chính quyền ở tỉnh lỵ và các châu trong tỉnh, hầu như không vấp phải sự kháng cự đáng kể nào.

Ngày 22-8-1945, Cao Bằng sạch bóng quân phát xít Nhật, trở thành ngày cách mạng toàn thắng, ghi dấu là một trong những địa phương giành chính quyền sớm và triệt để nhất. Không chỉ vậy, với vị thế trung tâm và lực lượng mạnh, Cao Bằng còn đóng vai trò là hậu phương, là bàn đạp để hỗ trợ và phối hợp với các tỉnh. Lực lượng vũ trang và cán bộ từ Cao Bằng đã tham gia hỗ trợ khởi nghĩa ở Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên… góp phần vào thắng lợi chung của cả vùng. Sự phối hợp này cho thấy Cao Bằng không còn là một điểm tựa biệt lập mà đã trở thành một trung tâm lan tỏa của phong trào cách mạng khu vực.

Vị thế của Cao Bằng trong quá trình vận động cách mạng 1930 - 1945

Vị thế của Cao Bằng trong quá trình vận động cách mạng 1930 - 1945 là kết quả của một sự tương tác biện chứng giữa điều kiện khách quan đặc thù và sự vận dụng chủ động, sáng tạo của chủ thể lãnh đạo cách mạng.

Về khách quan, Cao Bằng sở hữu một tổ hợp các lợi thế chiến lược hiếm có: địa hình hiểm yếu, vị trí biên giới tạo không gian xuyên quốc gia, cơ cấu xã hội gắn kết, truyền thống yêu nước và sự yếu kém của bộ máy cai trị đối phương. Những yếu tố này biến nơi đây thành một “pháo đài thiên nhiên” và một “vùng đệm chính trị” lý tưởng.

Về chủ quan, tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng đã nhận ra và khai thác triệt để những lợi thế khách quan, biến Cao Bằng từ một địa bàn tiềm năng thành một nơi “thí nghiệm cách mạng sống động”, nơi diễn ra quá trình “địa phương hóa” đường lối cách mạng (thông qua việc vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của dân tộc thiểu số, biên giới) và “toàn quốc hóa” kinh nghiệm địa phương (thông qua việc phổ biến mô hình căn cứ địa).

Do đó, vị thế của Cao Bằng không chỉ là nơi che chở cho cách mạng trong những thời điểm khó khăn nhất, mà còn là nơi định hình đường lối cách mạng mới (Hội nghị Trung ương 8); khai sinh lực lượng vũ trang chính quy đầu tiên (Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân); cửa ngõ kết nối cách mạng Việt Nam với thế giới; bàn đạp vững chắc, hậu phương trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa ở miền núi Đông Bắc.

Trong 15 năm vận động cách mạng (1930 - 1945), Cao Bằng đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của một “căn cứ địa kiểu mẫu”; chứng minh rằng, trong chiến lược cách mạng, yếu tố địa - chính trị và an ninh đôi khi quan trọng hơn yếu tố kinh tế thuần túy. Thành công của mô hình Cao Bằng không chỉ góp phần trực tiếp vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mà còn để lại những bài học vô giá về xây dựng căn cứ địa, vận động quần chúng dân tộc thiểu số và kết hợp sức mạnh dân tộc với thời cơ quốc tế... - những bài học vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau. Vị thế ấy khiến cho tên gọi Cao Bằng mãi gắn liền với những sự kiện trọng đại, mang tầm vóc quốc gia - dân tộc và là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng cho lớp lớp thế hệ trẻ./.

-------------------

(1) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr. 37
(2) Cột mốc số 108 được dựng theo Hiệp ước Pháp - Thanh cuối thế kỷ XIX. Theo Hiệp định biên giới Việt - Trung năm 1999, tại sát vị trí cột mốc số 108 trước đây là cột mốc số 675, được xây dựng năm 2001.
(3), (4), (5), (6) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, t. 7, tr. 113, 118, 119, 129
(7) Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. 1, quyển 1 (1930 - 1945), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr. 512
(8) Trương Diệp Bích: Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Cao Bằng (1941 - 1945), Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9-2003
(9) Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. 1, quyển 1 (1930-1945), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018,, tr. 513
(10) Bế Dũng - Nguyễn Ngọc Minh: Thực hiện thí điểm xây dựng và phát triển Mặt trận Việt Minh ở tỉnh Cao Bằng, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 8-2018
(11) Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1930 - 2000), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr. 89
(12) Đội gồm 12 người, các đồng chí: Lê Quảng Ba làm Đội trưởng, Hoàng Sâm - Đội phó, Lê Thiết Hùng - Chính trị viên
(13) Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1930 - 2000), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr. 109
(14) Đầu nguồn, Tập hồi ký về Bác Hồ của nhiều tác giả, Nxb. Văn học, Hà nội, 1975, tr. 296
(15), (16) Đinh Ngọc Viện: Đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Cao Bằng với việc thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Tạp chí lịch sử Đảng, số 12-2014
(17), (18) Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1930 - 2020), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr. 133, 133