TCCS - Chuyển đổi số mở ra nhiều cơ hội cho trẻ em trong học tập, tiếp cận thông tin và phát triển kỹ năng số, song cũng làm gia tăng đáng kể nguy cơ xâm hại tình dục trên không gian mạng. Liên minh châu Âu (EU) là khu vực đứng đầu thế giới về nội dung xâm hại tình dục trẻ em và cũng là khu vực tiên phong trong xây dựng khung pháp lý và chính sách bảo vệ trẻ em trên môi trường số, cung cấp nhiều kinh nghiệm có giá trị tham khảo quý cho các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

Báo động về tình trạng xâm hại tình dục trẻ em trên không gian mạng

Khảo sát của Viện Nghiên cứu an toàn trẻ em toàn cầu Childlight được thực hiện tại 33 quốc gia châu Âu năm 2025 cho biết, có khoảng 1/5 số trẻ em ở châu Âu (tương đương 20,2%) từng tiếp xúc với nội dung về tình dục không mong muốn trên không gian mạng. Đây là các nội dung làm gia tăng nguy cơ gây tổn hại tâm lý và kèm theo các hành vi tội phạm trực tuyến. Ước tính có khoảng 4,7% số trẻ em ở Tây Âu được báo cáo là đã bị xâm hại trước 18 tuổi và 7,4% bị tấn công tình dục, với tỷ lệ lạm dụng cao hơn ở nữ giới trong cả hai con số này (1).

Giáo dục giới tính và kỹ năng chống lạm dụng tình dục trẻ em ở một lớp học tại Anh_Ảnh: theguardian.com

Các tài liệu lạm dụng tình dục trẻ em trực tuyến (CSAM) và các hành vi dụ dỗ (thao túng nhằm mục đích bóc lột và lạm dụng người khác) hiện ngày càng nhắm vào trẻ nhỏ, đang gia tăng với tốc độ đáng báo động. Năm 2023, có hơn 36,2 triệu báo cáo ở EU về nghi ngờ lạm dụng tình dục trẻ em trực tuyến, đạt mức cao nhất trong lịch sử. Các báo cáo về dụ dỗ trẻ em tăng hơn 300% từ năm 2021 đến năm 2023. Hầu hết các hoạt động được phát hiện đều diễn ra ở châu Âu. Số lượng báo cáo về lạm dụng tình dục trẻ em cũng tăng đáng kể trên toàn cầu, từ 1 triệu báo cáo năm 2010 lên gần 35,9 triệu báo cáo năm 2023, bao gồm gần 105,6 triệu hình ảnh và video. Theo Tổ chức Giám sát Internet (Internet Watch Foundation), EU vẫn đứng đầu thế giới về số lượng hình ảnh và video lạm dụng tình dục trẻ em được lưu trữ, với ba trong số năm báo cáo về lạm dụng tình dục trẻ em (59%) được lưu trữ tại các quốc gia thành viên EU.

Việc các tổ chức chủ động phát hiện lạm dụng tình dục trẻ em trực tuyến đóng vai trò quan trọng trong việc giải cứu trẻ em khỏi những hành vi lạm dụng đang diễn ra. Trong nhiều trường hợp, các tổ chức là những người duy nhất có thể phát hiện và báo cáo hành vi lạm dụng vì trẻ quá sợ hãi hoặc còn quá nhỏ để báo cáo hoặc cha mẹ và người chăm sóc không biết về hành vi lạm dụng hoặc chính họ là người gây ra hành vi lạm dụng. Để đối phó với tình hình này, ngày 11-5-2022, Ủy ban châu Âu thông qua một đề xuất về các quy tắc dài hạn để ngăn chặn và chống lại lạm dụng trẻ em. Đề xuất của Ủy ban yêu cầu các dịch vụ liên lạc giữa các cá nhân, chẳng hạn như dịch vụ nhắn tin webmail và điện thoại internet, cũng như các dịch vụ khác, phải chủ động phát hiện các tài liệu CSAM và các hoạt động liên quan đến dụ dỗ trẻ em. Tuy nhiên, điều này đặt ra nhiều lo ngại liên quan đến quyền riêng tư, an ninh và các cuộc điều tra của cơ quan thực thi pháp luật. Đề xuất cũng quy định việc thành lập một trung tâm của EU để hỗ trợ việc thực hiện và giám sát các quy tắc mới.

Tháng 4-2025, dư luận châu Âu bàng hoàng sau khi báo chí đưa tin cảnh sát Đức, dưới sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng từ 38 quốc gia và Cơ quan Cảnh sát châu Âu (Europol), thực hiện chiến dịch quốc tế Operation Stream triệt phá KidFlix, nền tảng có 1,8 triệu người dùng, nơi lưu trữ 91.000 video, hình ảnh về lạm dụng tình dục trẻ em. Theo CBS News, chiến dịch trên được đánh giá là một trong những đòn giáng mạnh nhất vào tội phạm ấu dâm trực tuyến trong nhiều năm gần đây. Mạng tin Euronews dẫn một báo cáo mới đây của tổ chức Internet Watch Foundation (IWF) cho biết, trong năm 2024, có hơn 291.000 báo cáo về các nội dung lạm dụng tình dục trẻ em trực tuyến, mức cao kỷ lục. Trong đó, 62% số các trang web chứa CSAM được phát hiện có máy chủ đặt tại các nước thành viên của EU. Dữ liệu từ IWF cho thấy, đa số nạn nhân được phát hiện là trẻ em rất nhỏ. Liên minh châu Âu chống lại nạn lạm dụng tình dục trẻ em bằng nhiều cách, bao gồm các hành động phối hợp với cảnh sát quốc tế, trong đó, Trung tâm Tội phạm mạng châu Âu của Europol đóng vai trò chủ chốt.

Liên minh châu Âu xây dựng hệ thống pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

Liên minh châu Âu tiếp cận việc bảo vệ trẻ em trong môi trường số trên nền tảng quyền con người và quyền trẻ em được quốc tế công nhận, bao gồm Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (CRC) - một hiệp ước quyền con người phổ quát vốn khẳng định quyền được bảo vệ, phát triển và tham gia của trẻ em; Hiến chương các quyền cơ bản của Liên minh châu Âu (Charter of Fundamental Rights of the EU). Trong đó, quyền trẻ em được ghi nhận một cách toàn diện; “lợi ích tốt nhất của trẻ em” được đặt làm nguyên tắc ưu tiên cho mọi hành động liên quan tới trẻ em. Chiến lược của EU giai đoạn 2020 - 2025 nhằm chống lại nạn lạm dụng tình dục trẻ em hiệu quả hơn. Đây là khuôn khổ tham chiếu cho các hành động của EU trong giai đoạn 2020 - 2025. Khuôn khổ này bao gồm 8 sáng kiến, ​​nhằm thiết lập một khung pháp lý vững chắc để bảo vệ trẻ em và tạo điều kiện thuận lợi cho cách tiếp cận phối hợp giữa nhiều bên liên quan đến việc bảo vệ và hỗ trợ trẻ em. Chiến lược này cũng tập trung vào việc xác định những lỗ hổng trong luật pháp;  đề ra các sáng kiến, ​​nhằm tăng cường sự phối hợp, bao gồm mạng lưới phòng ngừa dành cho các nhà thực hành và nhà nghiên cứu; thành lập Trung tâm EU về lạm dụng tình dục trẻ em (Trung tâm EU), hợp tác với ngành công nghiệp thông qua Diễn đàn Internet của EU và ủng hộ Liên minh toàn cầu WePROTECT nhằm chấm dứt nạn bóc lột tình dục trẻ em trực tuyến.

Liên minh châu Âu đã xây dựng một hệ thống pháp luật tương đối toàn diện nhằm phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em, đặc biệt là trên môi trường số, tiêu biểu bao gồm:

(1) Chỉ thị 2011/93/EU về chống xâm hại tình dục và bóc lột tình dục trẻ em là một trong những công cụ pháp lý cốt lõi của EU trong lĩnh vực này. Chỉ thị quy định các tiêu chuẩn tối thiểu về định nghĩa các hành vi phạm tội (bao gồm cả phát tán hình ảnh xâm hại trực tuyến và grooming), các biện pháp trừng phạt, trách nhiệm hỗ trợ nạn nhân và các biện pháp ngăn chặn, bao gồm cả yêu cầu gỡ bỏ và chặn truy cập tới trang chứa nội dung xâm hại. Hình sự hóa các hành vi xâm hại tình dục trẻ em trên môi trường mạng, bao gồm cả việc phát tán, lưu trữ và tiêu thụ nội dung xâm hại tình dục trẻ em.

(2) Quy định Bảo vệ dữ liệu chung (GDPR) là một khung pháp lý rộng về bảo vệ dữ liệu cá nhân, đồng thời bao gồm các điều khoản riêng biệt nhằm bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư của trẻ em trong môi trường số, như yêu cầu giảm độ tuổi đồng ý xử lý dữ liệu và bảo đảm sự đồng thuận rõ ràng của người giám hộ khi xử lý dữ liệu trẻ em. Quy định các nghĩa vụ đối với các nền tảng số, bao gồm việc phát hiện, báo cáo và gỡ bỏ các nội dung liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em và hành vi grooming khi phát hiện trên dịch vụ của họ.

(3) Đề xuất Quy định về phòng, chống lạm dụng tình dục trẻ em trực tuyến (thường gọi là CSAM Regulation) được EU đưa ra nhằm cập nhật và bổ sung các nghĩa vụ dành cho các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến: buộc phải phát hiện, báo cáo và loại bỏ nội dung lạm dụng tình dục trẻ em, cũng như báo cáo các hành vi grooming và các vi phạm khác cho cơ quan chức năng. Văn bản này đặt cơ sở cho một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ hơn để xử lý nội dung xâm hại trực tuyến, bổ sung cho Chỉ thị 2011/93/EU. Tăng cường trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt là trong việc phối hợp với cơ quan thực thi pháp luật và bảo đảm tuân thủ các nghĩa vụ báo cáo và hành động đối với nội dung/dữ liệu vi phạm. Quy định mới cũng hướng tới việc thiết lập một cơ quan EU chuyên trách (EU Centre on Child Sexual Abuse) để hỗ trợ công tác này.

Liên minh châu Âu không chỉ tập trung vào xử lý cá nhân vi phạm mà còn đặt ra trách nhiệm pháp lý rõ ràng đối với các nền tảng số, dịch vụ trực tuyến và nhà cung cấp kỹ thuật số trong việc bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Theo các quy định đang được xây dựng, các nền tảng như mạng xã hội, dịch vụ nhắn tin hay trò chơi trực tuyến có trách nhiệm đánh giá rủi ro, thiết kế các biện pháp phòng ngừa và chủ động tạo ra môi trường an toàn cho trẻ em ngay từ khâu thiết kế dịch vụ. Điều này bao gồm việc triển khai các biện pháp kiểm soát độ tuổi để bảo đảm chỉ những người đủ tuổi mới có thể truy cập nội dung có hạn chế độ tuổi, đồng thời cung cấp các cơ chế dễ sử dụng để người dùng có thể báo cáo nội dung xâm hại, lạm dụng hoặc không phù hợp ngay trên nền tảng. Các nhà cung cấp dịch vụ cũng phải có các quy trình để hỗ trợ nạn nhân trong việc loại bỏ hoặc vô hiệu hóa nội dung xâm hại liên quan đến bản thân họ, cũng như phối hợp với các cơ quan chức năng và cơ chế EU chuyên trách để bảo đảm quyền trẻ em được bảo vệ một cách hiệu quả. Những nghĩa vụ này đang được củng cố trong các đề xuất luật mới nhằm chống lại xâm hại tình dục trực tuyến và buộc các nền tảng phải chuyển từ mô hình tự nguyện sang mô hình bắt buộc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn trực tuyến dành cho trẻ em. Các nền tảng số toàn cầu như Meta (Facebook, Instagram), TikTok, X, YouTube, Snapchat và cả các trang web người lớn đều nằm trong diện chịu trách nhiệm bắt buộc theo luật số của EU (như DSA), với các nghĩa vụ như kiểm soát độ tuổi, báo cáo nội dung xâm hại và thiết kế an toàn cho trẻ em trên dịch vụ của họ.

Bên cạnh đó, Liên minh châu Âu công nhận rằng, công nghệ phát hiện nội dung xâm hại trẻ em có thể đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn và xử lý các hành vi phạm tội trên không gian số. Đồng thời, EU đặt ra giới hạn chặt chẽ để tránh xâm phạm quyền riêng tư quá mức và vi phạm các quyền cơ bản của người dùng. Trong khuôn khổ các đề xuất luật liên quan đến phòng, chống xâm hại tình dục trực tuyến, biện pháp phát hiện nội dung phải tuân thủ các nguyên tắc về tính cần thiết và tỷ lệ hợp lý, chỉ được áp dụng khi có cơ sở hợp pháp rõ ràng và với quy trình giám sát độc lập, nhằm ngăn chặn việc kiểm duyệt đại trà mọi nội dung riêng tư. EU cũng yêu cầu tính minh bạch trong việc sử dụng công nghệ, các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến cần giải thích rõ ràng cách thức họ sử dụng các công cụ kỹ thuật để phát hiện nội dung xâm hại và phải có cơ chế để người dùng khiếu nại nếu họ cho rằng dữ liệu hoặc quyền riêng tư của mình bị xử lý quá mức. Đây là cách tiếp cận cân bằng giữa bảo vệ trẻ em khỏi hành vi xâm hại trực tuyến và bảo đảm các quyền cơ bản như quyền riêng tư và dữ liệu cá nhân, nhằm tránh các biện pháp kiểm duyệt mang tính giám sát đại trà hoặc xâm phạm sâu vào dữ liệu người dùng mà không có cơ chế pháp lý và kiểm soát phù hợp. Pháp, Tây Ban Nha, Italy, Đan Mạch và Hy Lạp là những quốc gia đầu tiên thử nghiệm ứng dụng xác minh độ tuổi trực tuyến được EU khuyến nghị. Ứng dụng này cho phép người dùng chứng minh độ tuổi để truy cập nội dung trực tuyến mà không tiết lộ dữ liệu cá nhân khác, nhằm cân bằng giữa bảo vệ trẻ em và quyền riêng tư dữ liệu.

Mặt khác, Liên minh châu Âu coi giáo dục và nâng cao nhận thức là một trụ cột thiết yếu trong việc bảo vệ trẻ em trên môi trường số, nhằm trang bị cho trẻ những kiến thức và kỹ năng cần thiết để tự bảo vệ mình trước các rủi ro trực tuyến và tham gia an toàn vào thế giới kỹ thuật số. Trong khuôn khổ chiến lược Better Internet for Kids (BIK+), EU tập trung vào việc thúc đẩy an toàn mạng và kỹ năng số cho trẻ em ngay từ sớm, giúp các em nhận diện các nguy cơ, như nội dung độc hại, bắt nạt trực tuyến hay các hành vi dụ dỗ, xâm hại. Đồng thời, các Safer Internet Centres trên toàn EU cung cấp các nguồn tài nguyên, hoạt động đào tạo và chiến dịch nâng cao nhận thức cho cả trẻ em, phụ huynh và giáo viên, nhằm tăng cường nhận thức về rủi ro trực tuyến và các biện pháp phòng tránh. Hy Lạp còn phát triển thêm một ứng dụng di động do chính phủ vận hành (Kids Wallet) giúp phụ huynh xác minh tuổi và quản lý hoạt động trực tuyến của con, trong khi vẫn giữ nguyên tắc lựa chọn sử dụng tự nguyện thay vì bắt buộc. Bên cạnh đó, EU còn khuyến khích đào tạo có hệ thống cho phụ huynh và giáo viên để họ có thể phát hiện và ứng phó kịp thời với các nguy cơ xâm hại tình dục trực tuyến, cũng như hỗ trợ trẻ trong việc phát triển kỹ năng số một cách an toàn và có trách nhiệm. EU cũng thúc đẩy sự tham gia trực tiếp của trẻ em trong quá trình xây dựng chính sách liên quan đến bản thân các em, thông qua các hoạt động tham vấn và diễn đàn trẻ em, nhằm bảo đảm tiếng nói và trải nghiệm của trẻ được phản ánh trong các chiến lược và biện pháp bảo vệ môi trường số.

Công an tỉnh Hà Tĩnh tuyên truyền, cảnh báo cho học sinh về những thủ đoạn của tội phạm trên không gian mạng_Ảnh: baohatinh.vn

Việt Nam tiếp tục hoàn thiện chính sách ngăn chặn xâm hại tình dục trẻ em

Hiện nay, đa số trẻ em và thanh thiếu niên Việt Nam truy cập internet hằng ngày, với hơn 77% số trẻ em - thanh thiếu niên sử dụng internet mỗi ngày, làm tăng nguy cơ tiếp xúc với nội dung không phù hợp hoặc bị xâm hại trực tuyến. Một nghiên cứu cho thấy khoảng 40% số trẻ em cảm thấy không an toàn khi sử dụng internet và hơn 70% từng có trải nghiệm không mong muốn trên môi trường mạng. Trong số trẻ em từ 12 - 17 tuổi sử dụng internet, có tới 87% online hằng ngày, nhưng chỉ có 36% các em biết cách bảo đảm an toàn thông tin trên mạng(2). Số liệu từ Trung tâm quốc gia về trẻ em mất tích và bị bóc lột (NCMEC, Hoa Kỳ) cho thấy, năm 2023, có khoảng hơn 500.000 báo cáo về hình ảnh, video xâm hại tình dục trẻ em trên mạng liên quan tới Việt Nam; con số này đưa Việt Nam vào nhóm bị ảnh hưởng mạnh trong khu vực(3). Còn theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc - UNICEF, khoảng 75% số trẻ em Việt Nam trả lời không biết các đường dây trợ giúp khi bị bắt nạt qua mạng và nhóm tuổi 10 - 14 là đối tượng bị bắt nạt trực tuyến rất nhiều(4). Câu lạc bộ Bảo vệ trẻ em Việt Nam trên không gian mạng đưa ra con số có tới 40% số trẻ em cảm thấy không an toàn, hơn 70% từng có trải nghiệm không mong muốn khi sử dụng internet, có 1% (xấp xỉ hơn 94.000) số người dùng internet độ tuổi 12 - 17 ở Việt Nam là nạn nhân của bóc lột và xâm hại tình dục qua mạng(5)...

Việt Nam đã nỗ lực triển khai nhiều nội dung nhằm bảo đảm quyền trẻ em trong bối cảnh số hóa, bao gồm việc ban hành Luật Trẻ em năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018, cũng như triển khai Chương trình Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên môi trường mạng, giai đoạn 2021 - 2025, nhằm nâng cao an toàn trực tuyến cho trẻ em. Những chính sách này tạo dựng nền tảng pháp lý và hành lang thể chế ban đầu để bảo vệ trẻ em trước các nguy cơ trên không gian mạng, đồng thời huy động sự phối hợp giữa các bộ, ngành và tổ chức xã hội.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ trẻ em trước xâm hại tình dục trong thời kỳ chuyển đổi số ở Việt Nam vẫn đối mặt với những hạn chế. Khung pháp lý hiện hành chưa hoàn toàn theo kịp với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ và những hình thức xâm hại mới trên môi trường số, nhất là liên quan đến nội dung độc hại và công nghệ số mới như trí tuệ nhân tạo. Công tác phát hiện sớm và hỗ trợ nạn nhân còn hạn chế do thiếu các hệ thống kỹ thuật hiện đại, cơ sở dữ liệu chuyên biệt để phát hiện hình ảnh/video xâm hại trẻ em và mạng lưới hỗ trợ tâm lý - pháp lý dành cho nạn nhân chưa thật sự phát triển rộng khắp.

Mặc dù Việt Nam đã ban hành Luật Trẻ em (2016), Luật An ninh mạng (2018) và triển khai các chiến lược bảo vệ trẻ em trực tuyến, giai đoạn 2021 - 2025, nhưng khung pháp lý còn nhiều khoảng trống khi đối mặt với phương thức xâm hại mới trên mạng. Cơ chế kỹ thuật như hệ thống cơ sở dữ liệu về hình ảnh/video lạm dụng trẻ em tại Việt Nam chưa được thành lập đầy đủ, khiến cho công tác phát hiện và xử lý nội dung xâm hại còn hạn chế. Các đường dây hỗ trợ như Tổng đài bảo vệ trẻ em 111 vẫn đang quá tải, thiếu nguồn lực để xử lý và kết nối quốc tế trong các vụ việc phức tạp.

Từ những kinh nghiệm chính sách và pháp luật của Liên minh châu Âu trong việc bảo vệ trẻ em khỏi xâm hại tình dục trên không gian số, Việt Nam có thể tham khảo và điều chỉnh phù hợp nhằm xây dựng một khuôn khổ hiệu quả hơn, đồng thời bảo đảm quyền con người cơ bản cho trẻ em trong bối cảnh chuyển đổi số.

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật chuyên sâu về bảo vệ trẻ em trên môi trường số. Xây dựng các quy định pháp luật riêng biệt nhằm phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em trực tuyến, thay vì xử lý chung như hiện nay, nhằm bao quát các hành vi mới phát sinh từ môi trường số. Ngoài ra, pháp luật cần cập nhật các khái niệm và hành vi xâm hại mới phát sinh từ công nghệ, chẳng hạn như grooming qua mạng, livestream hóa hành vi xâm hại, nội dung xâm hại do AI hoặc deepfake tạo ra và các hình thức phát tán, lưu trữ nội dung xâm hại thông qua nền tảng trực tuyến. Các quốc gia như Vương quốc Anh tiến tới quy định mới trong Dự luật An toàn trực tuyến (Online Safety Act 2023) để điều chỉnh nội dung trực tuyến và trách nhiệm của các nền tảng trong việc quản lý nội dung có hại, cũng như cấm việc sử dụng công cụ AI để tạo ra nội dung xâm hại trẻ em và tăng hình phạt đối với hành vi liên quan.

Thứ hai, tăng trách nhiệm của doanh nghiệp công nghệ. Quy định rõ nghĩa vụ của các doanh nghiệp nền tảng số trong việc phòng ngừa, phát hiện và báo cáo các hành vi xâm hại tình dục trẻ em trực tuyến, thay vì chỉ hành động theo cơ chế tự nguyện. Áp dụng nguyên tắc “thiết kế an toàn cho trẻ em” (safety by design) trong phát triển sản phẩm và dịch vụ, buộc các nhà phát triển tích hợp các biện pháp phòng ngừa rủi ro trẻ em ngay từ giai đoạn xây dựng nền tảng, giống như các quy định mà EU đang phát triển để giảm rủi ro xâm hại trực tuyến thông qua đánh giá rủi ro dịch vụ kỹ thuật số.  Một ví dụ cụ thể là cuộc điều tra của EU đối với bốn trang web nội dung người lớn lớn nhất thế giới, Pornhub, Stripchat, XNXX và XVideos, vì các nền tảng này chưa triển khai đầy đủ các biện pháp kiểm chứng độ tuổi nhằm ngăn trẻ em truy cập nội dung người lớn, như yêu cầu theo các tiêu chuẩn an toàn trẻ em trong DSA. Nếu các nền tảng này không tuân thủ, họ có thể phải đối mặt với các chế tài nặng nề, bao gồm phạt tiền tới 6% số doanh thu toàn cầu hoặc bị hạn chế hoạt động ở EU.

Thứ ba, cân bằng giữa bảo vệ trẻ em và quyền riêng tư. Khi triển khai các biện pháp kỹ thuật để phát hiện nội dung xâm hại, cần không hy sinh các quyền con người cơ bản, nhất là quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Xây dựng cơ chế giám sát độc lập và minh bạch đối với các công nghệ phát hiện nội dung, bảo đảm rằng các biện pháp này được kiểm soát chặt chẽ, có thể khiếu nại và có giới hạn rõ ràng để tránh giám sát đại trà không cần thiết. Đây là cách tiếp cận mà EU đang cân nhắc để cân bằng giữa bảo vệ trẻ em và bảo vệ quyền số, ví dụ bằng cách yêu cầu minh bạch trong sử dụng công nghệ và quyền khiếu nại đối với hành động xử lý nội dung.

Thứ tư, đầu tư cho giáo dục và hỗ trợ nạn nhân. Tăng cường giáo dục kỹ năng số và an toàn trực tuyến cho trẻ em ngay từ bậc tiểu học, trong đó có giáo dục về cách nhận biết và phòng tránh các nguy cơ xâm hại tình dục trên mạng. Đào tạo phụ huynh, giáo viên và người chăm sóc trẻ về nhận diện, phòng ngừa và đối phó với rủi ro trên không gian số, tương tự như các chương trình nâng cao nhận thức mà EU thúc đẩy với mạng lưới Safer Internet Centres và chiến lược giáo dục số. Xây dựng hệ thống hỗ trợ tâm lý, pháp lý thân thiện với trẻ em, bao gồm các đường dây nóng, trung tâm hỗ trợ chuyên môn và dịch vụ tư vấn cho nạn nhân và gia đình, điều này quan trọng để trẻ biết nơi tìm đến khi gặp vấn đề, đồng thời giảm thiểu tổn thương lâu dài và thúc đẩy quá trình phục hồi.

Bảo đảm quyền trẻ em không bị xâm hại tình dục trong thời kỳ chuyển đổi số là thách thức toàn cầu, đòi hỏi cách tiếp cận lấy quyền con người làm trung tâm. Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu cho thấy, sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật, công nghệ, trách nhiệm doanh nghiệp và giáo dục xã hội là chìa khóa bảo vệ trẻ em hiệu quả. Đây là những kinh nghiệm tốt để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện chính sách, hướng tới một không gian số an toàn và nhân văn cho trẻ em./.

---------------------------

(1) “Into the Light Index 2025 - Executive Summary” (Tạm dịch: Chỉ số Into the Light 2025 - Tóm tắt điều hành), CHILDLIGHT, https://www.childlight.org/into-the-light/executive-summary
(2) “Children face risks in cyberspace with 87 per cent accessing internet daily” (Tạm dịch: Trẻ em đối mặt với nhiều rủi ro trên không gian mạng khi có đến 87% trẻ em truy cập internet mỗi ngày), Việt Nam News, ngày 18-3-2023, https://vietnamnews.vn/society/1499155/children-face-risks-in-cyberspace-with-87-per-cent-accessing-internet-daily.html?
(3) “Bộ TT&TT ban hành Bộ cẩm nang bảo vệ trẻ em trên không gian mạng”, Trang thông tin điện tử Trung tâm Khoa học công nghệ và truyền thông Nghệ An, ngày 19-12-2024, https://naict.tttt.nghean.gov.vn/tinhd/bo-tt-tt-ban-hanh-bo-cam-nang-bao-ve-tre-em-tren-khong-gian-mang-1432.html?
(4) “Bắt nạt trẻ nhỏ trên mạng và những tác động đến tâm lý trẻ em”, UNICEF Việt Nam, ngày 6-9-2019, https://www.unicef.org/vietnam/vi/th%C3%B4ng-c%C3%A1o-b%C3%A1o-ch%C3%AD/b%E1%BA%AFt-n%E1%BA%A1t-tr%E1%BA%BB-nh%E1%BB%8F-tr%C3%AAn-m%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-nh%E1%BB%AFng-t%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-%C4%91%E1%BA%BFn-t%C3%A2m-l%C3%BD-tr%E1%BA%BB-em?
(5) “Hơn 94.000 trẻ vị thành niên ở Việt Nam là nạn nhân của xâm hại tình dục qua mạng”, VOV, ngày 18-11-2025, https://vov.vn/xa-hoi/hon-94000-tre-vi-thanh-nien-o-viet-nam-la-nan-nhan-cua-xam-hai-tinh-duc-qua-mang-post1246848.vov