TCCSĐT - Sáng ngày 2-6, Dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011; dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 66/2006/QH11 của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng quốc gia; Báo cáo của Chính phủ về Đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; và một số báo cáo liên quan đã được trình bày trước Quốc hội.

Đầu phiên họp buổi sáng, Quốc hội nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội Nguyễn Văn Thuận trình bày Tờ trình về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011.

Tờ trình khẳng định, Việc chuẩn bị Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 phải quán triệt một số định hướng cơ bản sau đây: Thứ nhất, tiếp tục thể chế hóa Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24-5-2005, của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 2-6-2005, của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Thứ hai, chú trọng xây dựng và ban hành các đạo luật trực tiếp góp phần chống suy giảm kinh tế, chủ động phòng, chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân. Thứ ba, ưu tiên đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 những dự án còn lại thuộc Chương trình nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII mà thấy cần thiết phải ban hành và đã được chuẩn bị tương đối kỹ. Thứ tư, lưu ý đặc thù của năm 2011 là năm chuyển tiếp giữa nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII và khóa XIII; bên cạnh chương trình chính thức cần có chương trình chuẩn bị hợp lý để bảo đảm tính kế thừa; đồng thời, hạn chế tối đa việc bổ sung các dự án không thuộc Chương trình khóa XII vào Chương trình để bảo đảm tính khả thi của Chương trình.

Theo đó, Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 gồm 22 dự án luật, 2 dự thảo nghị quyết thuộc Chương trình chính thức ( thông qua 12 dự án luật, 2 dự thảo nghị quyết, cho ý kiến 10 dự án luật); 12 dự án luật, 1 dự thảo nghị quyết thuộc Chương trình chuẩn bị.

Tiếp theo, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 66/2006/QH11, ngày 29-6-2006, của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; và nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Hà Văn Hiền trình bày Báo cáo thẩm tra dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 66/2006/QH11, ngày 29-6-2006, của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư.

Tờ trình của Chính phủ cho rằng, để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay và thuận tiện cho việc áp dụng, đề nghị Quốc hội hướng sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 66 là ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết 66. Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết 66 sẽ có những nội dung được sửa đổi, bổ sung và có những nội dung vẫn được giữ nguyên như trong Nghị quyết 66. Phạm vi của Nghị quyết mới sẽ quy định về tiêu chí, trình tự, thủ tục, nội dung hồ sơ Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư cho cả dự án, công trình đầu tư tại Việt Nam và dự án, công trình đầu tư ra nước ngoài. Do phạm vi của Nghị quyết bao gồm cả dự án, công trình đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và dự án, công trình đầu tư trên lãnh thổ của các quốc gia khác, nên đề nghị bỏ cụm từ “quốc gia” trong tên gọi của Nghị quyết. Vì vậy, tên gọi của Nghị quyết đề nghị là: “Nghị quyết về dự án, công trình quan trọng trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư”.

Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết 66 sẽ bao gồm 9 điều với các nội dung chính như sau: Điều 1- Phạm vi và đối tượng áp dụng. Nghị quyết này quy định về tiêu chí các dự án, công trình quan trọng đầu tư tại Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư (gọi tắt là dự án, công trình quan trọng); trình tự, thủ tục, nội dung hồ sơ Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư. Điều 2- Giải thích từ ngữ. Điều này giải thích một số từ ngữ được sử dụng trong Nghị quyết để thống nhất cách hiểu. Cụ thể, đưa ra hai khái niệm: (i) khái niệm “vốn nhà nước” như định nghĩa trong Luật Đấu thầu; (ii) khái niệm về “cụm công trình liên kết chặt chẽ với nhau”. Điều 3- Tiêu chí về các dự án, công trình quan trọng. Điều này quy định cụ thể 5 tiêu chí để xác định thế nào là một dự án, công trình quan trọng đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và 2 tiêu chí xác định thế nào là một dự án, công trình quan trọng đầu tư ra nước ngoài. Các tiêu chí quy định tại điều này đã được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung so với Nghị quyết 66. Điều 4- Hồ sơ dự án, công trình quan trọng. Điều này quy định về danh mục các tài liệu của hồ sơ dự án, công trình quan trọng quốc gia do Chính phủ trình Quốc hội; nội dung điều này được giữ nguyên như trong Nghị quyết 66. Điều 5- Thủ tục và nội dung thẩm tra của các cơ quan có liên quan của Quốc hội. Điều này quy định về thời gian trình và nội dung thẩm tra hồ sơ của các cơ quan của Quốc hội. Nội dung thẩm tra của Quốc hội đối với dự án, công trình quan trọng đầu tư ra nước ngoài ít hơn so với quy định đối với dự án, công trình quan trọng đầu tư tại Việt Nam. Điều 6- Trách nhiệm của chủ đầu tư và các thành viên của Hội đồng thẩm định nhà nước. Điều này quy định về trách nhiệm của chủ đầu tư, Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng thẩm định nhà nước; nội dung điều này cơ bản được giữ nguyên như trong Nghị quyết 66. Điều 7- Trình tự, thủ tục xem xét về chủ trương đầu tư và theo dõi thực hiện dự án của Quốc hội. Điều này quy định thủ tục trình duyệt và tổ chức triển khai thực hiện. Sửa mục 4, quy định tăng hạn mức phát sinh tăng vốn đầu tư dự án trên 20% thì phải báo cáo Quốc hội (Nghị quyết 66 quy định trên 10%); bổ sung cụ thể thời gian quy định dự án, công trình quan trọng quốc gia kéo dài thời gian thực hiện từ 1 một năm trở lên thì phải báo cáo Quốc hội (Nghị quyết 66 không quy định thời gian cụ thể). Điều 8- Giám sát việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng. Điều này quy định trách nhiệm của các cơ quan có liên quan của Quốc hội về giám sát việc thực hiện Nghị quyết này; nội dung điều này được giữ nguyên như trong Nghị quyết 66. Điều 9- Điều khoản thi hành. Quy định về hiệu lực thi hành của Nghị quyết và trách nhiệm của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Nghị quyết này.

Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết, Ủy ban Kinh tế về cơ bản nhất trí với phạm vi sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 66 như Tờ trình của Chính phủ, đó là bổ sung dự án, công trình quan trọng đầu tư ra nước ngoài; sửa đổi tiêu chí về vốn; cụ thể hóa tiêu chí về yêu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng đối với từng loại rừng cụ thể; bổ sung tiêu chí dự án, công trình đầu tư tại địa bàn có danh lam thắng cảnh được xếp hạng quốc gia; quy định rõ thời gian kéo dài thực hiện dự án phải báo cáo Quốc hội.

Về tên gọi của Nghị quyết, Ủy ban Kinh tế đề nghị lấy tên là: "Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 66/2006/QH11 ngày 29-6-2006 của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư" như đã ghi trong Nghị quyết số 883 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010. Trong đó, bỏ từ quốc gia trong cụm từ dự án, công trình quan trọng quốc gia” như đã nói trên để bao quát cả dự án, công trình quan trọng quốc gia đầu tư tại Việt Nam và dự án, công trình quan trọng đầu tư ra nước ngoài.

Cũng trong phiên họp sáng 2-6, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, trình bày trước Quốc hội Báo cáo của Chính phủ về Đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; và Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Hà Văn Hiền trình bày Báo cáo ý kiến về Đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Báo cáo của Chính phủ dự báo, trong thời kỳ 2020 - 2030, tốc độ tăng GDP của Hà Nội sẽ vào khoảng 8%; GDP bình quân đầu người năm 2030 đạt khoảng 11.000 USD. Đến năm 2030, quy mô dân số đạt khoảng 9 triệu người; đất xây dựng nông thôn cần từ 39.000 đến 40.000 ha; nhà ở khu vực thành thị phấn đấu tăng lên hơn 30 m2 sàn sử dụng/người; tỷ lệ đô thị hoá đạt khoảng 70%, và sẽ có nhiều vùng nông thôn được đô thị hoá thành các thị trấn.

Báo cáo cho biết, tổ chức không gian đô thị Hà Nội theo mô hình chùm đô thị, bao gồm đô thị trung tâm hạt nhân, 5 đô thị vệ tinh và 13 thị trấn; 5 đô thị vệ tinh gồm: đô thị Sơn Tây (đô thị sinh thái); đô thị Hòa Lạc (đô thị khoa học, công nghệ); đô thị Xuân Mai (đô thị dịch vụ đào tạo); đô thị Phú Xuyên - Phú Minh; đô thị Sóc Sơn (đô thị công nghiệp, dịch vụ).

Quy hoạch cũng sẽ hình thành các trục không gian hướng đông - tây như: trục Thăng Long; trục Quốc lộ 32, Láng - Hòa Lạc;trục quốc lộ 6… Trong đó, trục Thăng Long kết nối từ đường Hoàng Quốc Việt đến quốc lộ 21, kết nối Ba Vì với khu vực Hồ Tây, với vai trò chính là trục giao thông nhưng cũng là trục hành lang hạ tầng kỹ thuật chính.

Vị trí trung tâm chính trị quốc gia vẫn được xác định tại quận Ba Đình; và đã dành khu đất dự trữ tại Ba Vì để sau năm 2050 xây dựng các cơ quan của Chính phủ. Trung tâm hành chính của thành phố giữ nguyên vị trí như hiện nay tại khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm.

Đến năm 2030, Hà Nội sẽ phát triển xứng đáng là Thủ đô, trung tâm chính trị, hành chính quốc gia của một đất nước với trên 100 triệu dân, là một đô thị sinh thái, có môi trường trong sạch, có sự gắn kết hài hòa giữa các yếu tố tự nhiên - xã hội - con người trong một không gian đô thị phát triển bền vững.

Tổng kinh phí xây dựng hạ tầng kỹ thuật khung giai đoạn 2010 - 2030 là khoảng 60 tỉ USD, trong đó kinh phí cho giao thông là 33,3 tỉ USD; giai đoạn đến năm 2050 tăng thêm khoảng 29,9 tỉ USD, trong đó giao thông chiếm khoảng 16,8 tỉ USD.

Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân, trên cơ sở ý kiến đóng góp của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ sẽ tiếp thu và yêu cầu liên danh tư vấn hoàn thiện quy hoạch trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 8-2010.

Trình bày Báo cáo ý kiến về Đồ án, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Hà Văn Hiền cho biết, các ý kiến trong Uỷ ban Kinh tế đều đánh giá cao nội dung bản Đồ án; trong đó, các ý tưởng, định hướng chiến lược quy hoạch là khá rõ.

Cơ quan chủ trì xây dựng Đồ án đã làm việc khẩn trương; nghiêm túc tiếp thu nhiều ý kiến xác đáng trong quá trình hoàn thiện Đồ án. Bản Đồ án đã được tập thể Chính phủ xem xét nhiều lần; đã được lấy ý kiến của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, ý kiến của nhân dân, của các nhà khoa học, đáp ứng các điều kiện để báo cáo và xin ý kiến Quốc hội.

Tuy nhiên, Ủy ban Kinh tế đề nghị, do thời gian xây dựng Đồ án còn ngắn nên, một mặt, cần tiếp tục tổ chức tốt việc tiếp thu các ý kiến đóng góp để hoàn thiện và nâng cao chất lượng của Đồ án. Mặt khác, cần tiếp tục đánh giá sâu hơn nữa thực trạng công tác quy hoạch và tình hình thực hiện các quy hoạch đã có (nhất là Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg ngày 20-6-1998); thực trạng kinh tế - xã hội ở các vùng nông thôn của Hà Nội, Hà Tây cũ và các địa giới trước khi sáp nhập; thực trạng môi trường và một số nội dung liên quan khác để có thêm cơ sở cho các định hướng quy hoạch. Hà Nội là Thủ đô của cả nước, với ý nghĩa đó, cần cân nhắc để có thể tổ chức giới thiệu, lấy ý kiến của nhân dân ở một số khu vực khác.

Về tư tưởng, quan điểm chủ đạo xây dựng Đồ án, cùng với định hướng mục tiêu, quan điểm xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trở thành thành phố Xanh - Văn hiến - Văn minh - Hiện đại, một số ý kiến trong Ủy ban Kinh tế đề nghị cần bổ sung nội dung xây dựng Thủ đô giàu tính Dân tộc.

*** Theo kế hoạch, trong kỳ họp này, dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011; dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 66/2006/QH11, ngày 29-6-2006, của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; và Đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 sẽ được các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ và tại hội trường. Sau đó, Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 66/2006/QH11, ngày 29-6-2006, của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư và Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011./.