TCCSĐT - Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XI đã xác định 3 khâu đột phá chiến lược về kinh tế là: (1) “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính. (2) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. (3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.

Chính phủ cũng đã yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương chỉ đạo, điều hành tập trung, quyết liệt thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế, giải quyết 3 khâu đột phá chiến lược, kết hợp giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.

Tuy nhiên, sau một năm triển khai thực hiện các khâu đột phá chiến lược hiệu quả vẫn chưa rõ nét, gây tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế năm 2012 và một số năm tiếp sau. Vì thế câu hỏi: Vì sao các khâu đột phá chiến lược vẫn chưa chuyển động mạnh, đang được các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách, các doanh nghiệp và nhân dân đặc biệt quan tâm.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, đã là khâu đột phá, tức là những “điểm huyệt” của nền kinh tế, khi tác động vào đây sẽ làm cho nền kinh tế chuyển động mạnh mẽ theo hướng đã xác định. Vì thế, cần phải làm ngay, làm nhanh, có hiệu quả để thay đổi tình thế của nền kinh tế nước ta hiện vẫn đang trong tình trạng trì trệ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tín hiệu tích cực nào từ cả 3 khâu đột phá: thể chế vẫn chậm được thay đổi, tình trạng tắc nghẽn giao thông vẫn diễn ra, vấn đề điện chưa được tháo gỡ, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực chưa tìm được giải pháp hữu hiệu.

Luật pháp điều chỉnh chưa kịp thời

Cho đến nay, đã có hàng chục luật như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Thuế, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu; các Nghị định, Thông tư kèm theo… đã được phát hiện những nhược điểm hạn chế gây cản trở, ách tắc đầu tư, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Có những chính sách thuế đã trở thành lực cản đối với tích tụ vốn, hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; chính sách tín dụng, ngân hàng, thương mại trên thực tế chưa tạo lập được quan hệ bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp và dân cư trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng, làm gia tăng tín dụng “đen”, cho vay nặng lãi trở nên phổ biến và tạo ra sự đổ vỡ dây chuyền, gây hệ lụy cho ngành ngân hàng, làm suy giảm lòng tin vào thị trường… nhưng các cơ quan làm luật vẫn chưa tiếp thu sửa chữa, bổ sung, hoặc ra những thông tư, nghị định tạm thời để kịp tháo gỡ những ách tắc cho nền kinh tế.

Đào tạo nguồn nhân lực chưa có giải pháp hữu hiệu

Cho đến nay khâu đột phá vào nguồn nhân lực vẫn chưa có tín hiệu khả quan, mặc dù Chính phủ đã có Quyết định số 579/QĐ-TTg về việc Phê duyệt chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011- 2020, nhưng việc triển khai chưa có hiệu quả, tình trạng thiếu nhân lực có chuyên môn ở mức báo động, nạn “thừa thầy, thiếu thợ” vẫn tiếp diễn. Một khảo sát cho thấy, ngân sách đào tạo của doanh nghiệp chỉ chiếm 7,13% quỹ lương, bình quân đầu người là 389.000đ là quá thấp.

Như vậy, trên thực tế, doanh nghiệp chỉ chú trọng “săn” người tài do nhà nước hoặc nơi khác đào tạo, còn tự đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực của chính doanh nghiệp mình lại không được quan tâm thỏa đáng. Trong khi mục III, Điều 1 của Quyết định số 579/QĐ-TTg, đã quy định: “Mỗi bộ, ngành và địa phương phải xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực đồng bộ với chiến lược, kế hoạch phát triển chung của mình. Các doanh nghiệp và tổ chức phải có kế hoạch phát triển nhân lực”.

Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020

Chỉ tiêu

Năm 2010

Năm 2015

Năm 2020

I. Nâng cao trí lực và kỹ năng lao động

 

 

 

1. Tỷ lệ lao động qua đào tạo (%)

40,0

55,0

70,0

2. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề (%)

25,0

40,0

55,0

3. Số sinh viên đại học - cao đẳng trên 10.000 dân (sinh viên)

200

300

400

4. Số trường dạy nghề đạt đẳng cấp quốc tế (trường)

-

5

> 10

5. Số trường đại học xuất sắc trình độ quốc tế (trường)

-

-

> 4

6. Nhân lực có trình độ cao trong các lĩnh vực đột phá (người)

 

 

 

- Quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và luật quốc tế

15.000

18.000

20.000

- Giảng viên đại học, cao đẳng

77.500

100.000

160.000

- Khoa học - công nghệ

40.000

60.000

100.000

- Y tế, chăm sóc sức khỏe

60.000

70.000

80.000

- Tài chính - ngân hàng

70.000

100.000

120.000

- Công nghệ thông tin

180.000

350.000

550.000

Cơ sở hạ tầng vẫn chưa được cải thiện

Khâu đột phá thứ 3 là xây dựng cơ sở hạ tầng cũng vẫn chưa có dấu hiệu tiến bộ. Thống kê của Bộ Giao thông - Vận tải cho thấy 99% các công trình xây dựng chậm tiến độ hằng năm, làm tăng đầu tư lãng phí nghiêm trọng. Khi đôn đốc đẩy nhanh tiến độ lại thiên về các biện pháp hành chính, xử phạt, cấm đoán chưa có các giải pháp tháo gỡ bằng các chính sách và biện pháp kinh tế.

Vấn đề mở rộng cạnh tranh, hạn chế độc quyền trong ngành điện vẫn chưa có chuyển biến. Giải pháp tăng giá điện, bù lỗ vẫn tiếp diễn, chủ trương “thị trường điện cạnh tranh” lại bị chậm thêm một năm nữa. Trước tình hình trên, Chính phủ đã kiên định các giải pháp đồng thời theo sát tình hình, kịp thời xử lý những khó khăn, thách thức mới nảy sinh, điều hành linh hoạt, sát thực tế:

- Đối với giá điện, xăng dầu, than và các hàng hóa, dịch vụ quan trọng khác, Thủ tướng Chính phủ cho biết sẽ xác định lộ trình hợp lý để thực hiện, vừa bảo đảm từng bước tiếp cận giá thị trường, vừa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát;

- Khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ, gây thất thoát, lãng phí. Rà soát lại quy hoạch và các quy định về phân cấp đầu tư, bảo đảm mỗi dự án khởi công mới đều phải được cấp có thẩm quyền thẩm định và kiểm soát chặt chẽ về quy hoạch, tính cấp thiết, mục tiêu, quy mô, nguồn vốn trước khi quyết định đầu tư, bảo đảm hiệu quả đầu tư và chịu trách nhiệm về quyết định của mình;

- Chỉ đạo thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, trong đó, sẽ tiến hành rà soát, đánh giá đúng thực trạng quản lý và hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng, lấy đó làm cơ sở cho việc  xây dựng phương án tổng thể cơ cấu lại toàn bộ hệ thống ngân hàng. Đồng thời với việc hoàn thiện và đưa vào thực hiện các tiêu chuẩn quản trị mới, các quy định về an toàn và phòng tránh rủi ro theo hướng tiếp cận nhanh thông lệ quốc tế, tăng cường vai trò giám sát của ngân hàng nhà nước trong việc thực hiện các tiêu chuẩn này;

- Cơ cấu lại và phát triển mạnh các thị trường tài chính khác như thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, thị trường bảo hiểm và các quỹ đầu tư theo những tiêu chuẩn quản lý phù hợp với thông lệ quốc tế để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Đồng thời, thực hiện công khai, minh bạch và kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các định chế tài chính.

Những nhân tố tác động đến hiệu quả các khâu đột phá chiến lược

Theo các chuyên gia về kinh tế, để các giải pháp điều hành của Chính phủ có hiệu quả chúng ta có thể và cần phải quan tâm đến các nhân tố sau:

Một là, tiếp tục đổi mới đồng bộ, nhanh chóng, thể chế kinh tế, chính sách kinh tế vĩ mô trên cơ sở tư duy mới, thích ứng với mô hình phát triển hiện đại, tái cấu trúc nền kinh tế, trước hết là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước như sự chỉ đạo của chính phủ đã nêu, nhưng phải làm quyết liệt.

Hai là, nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước, giải quyết có hiệu quả các điểm nghẽn tăng trưởng, tạo môi trường kinh doanh, đầu tư với hành lang pháp lý đủ hấp dẫn để tạo thành đội ngũ doanh nghiệp dân tộc có đủ năng lực cạnh tranh với các quốc gia trong khu vực, thu hút đầu tư quốc tế có hiệu quả hơn.

Ba là, xây dựng các doanh nghiệp có ý chí, chiến lược kinh doanh, marketing, nghiên cứu và phát triển, tích tụ vốn, nguồn nhân lực để thiết lập thế và lực trên thị trường trong nước, từng bước vươn ra thị trường khu vực và thế giới.

Bốn là, khôi phục lòng tin của người tiêu dùng và người kinh doanh bằng môi trường dân chủ thực chất, khuyến khích mọi ý tưởng mới, sáng kiến của mọi người Việt Nam trong và ngoài nước chung sức vượt qua khó khăn trước mắt; tin tưởng vào triển vọng phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế.

Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; xác định rõ thẩm quyền trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị theo đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương bốn khóa XI về  “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, để các khâu đột phá chiến lược về kinh tế đưa lại hiệu quả thiết thực làm chuyển biến mạnh mẽ sự phục hồi và phát triển kinh tế nước ta trong năm mới 2012 và những năm tiếp sau./.

Tài liệu tham khảo

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. NXB Chính trị quốc gia. ST- HN – 2011, tr 107
2. Vietnam+: Bế mạc Hội nghị lần 4 BCH Trung ương Đảng khóa XI 02-01-2012
3. http://www.tinmoi.vn: Thủ tướng: Tập trung giải quyết các đột phá chiến lược. 31-07-2011
4. Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19-04-2011 Thủ tướng Chính phủ về việc: Phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kì 2011 – 2020