Sự bùng phát của đại dịch COVID-19 đã thắt chặt thị trường lao động, làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu và khiến tăng trưởng của nền kinh tế thế giới chậm lại. Thực tế đó đặt ra vấn đề nghiên cứu kinh nghiệm trong nước và quốc tế để tỉnh Quảng Ninh phục hồi, phát triển kinh tế sau đại dịch.

Sự phục hồi kinh tế của một số nước và khu vực Đông Nam Á

Sau đợt sụt giảm tăng trưởng nặng nề trong những năm bùng phát đại dịch COVID-19, kinh tế toàn cầu đang có xu hướng phục hồi khá rõ rệt, trong đó Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu và các nền kinh tế Đông Á có sự phục hồi kinh tế khả quan. Theo báo cáo Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới của UNDESA, nền kinh tế Mỹ được dự báo sẽ tăng trưởng 3,5% trong năm 2022, xuất khẩu được dự báo sẽ phục hồi; kinh tế châu Âu phục hồi trở lại, dự báo GDP khu vực đồng Euro tăng trưởng ở mức 4,0% năm 2022; hoạt động kinh tế của Nhật Bản vẫn ảm đạm trong năm 2021 nhưng đã có những dấu hiệu phục hồi vào những tháng cuối năm do đạt được tỷ lệ tiêm chủng cao, điều này cho phép Nhật Bản nới lỏng các biện pháp kiểm soát đại dịch và mở rộng phát triển kinh tế. Sau khi tăng trưởng kinh tế ước tính đạt 1,7% năm 2021, UNDESA nhận định tăng trưởng GDP của Nhật Bản đạt 3,3% trong năm 2022, nhờ gói kích cầu tài khóa bổ sung được công bố vào tháng 12 năm 2021; trong bối cảnh ảnh hưởng kéo dài của đại dịch, sản xuất bị gián đoạn do áp dụng chính sách “không COVID” và căng thẳng tài chính của các nhà phát triển bất động sản, cùng với các quy định chặt chẽ hơn đối với một số lĩnh vực của nền kinh tế, tổ chức UNDESA dự báo tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đạt 5,2% năm 2022; năm 2022, tăng trưởng kinh tế của khu vực Đông Nam Á được dự báo ở mức 5,1%, do sử dụng rộng rãi và nhanh chóng vắc-xin đã giúp hạn chế sự gia tăng các trường hợp mắc mới và tử vong do COVID-19 ở một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, điều này cho phép các chính phủ dần dỡ bỏ phong tỏa, người dân được di chuyển tự do hơn và tiếp tục hoạt động kinh doanh.

Kinh nghiệm xây dựng, thực hiện chính sách phục hồi nền kinh tế của một số quốc gia

Có hai cách tiếp cận khác nhau của các quốc gia trên thế giới trong nỗ lực phục hồi các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. Nhóm 1, đặt mục tiêu kiểm soát hoàn toàn dịch bệnh trước khi khôi phục lại các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm phục hồi tăng trưởng kinh tế hay thường được gọi là cách tiếp cận ZERO COVID, bao gồm một số nước và nền kinh tế, như Trung Quốc, Hồng Kong (Trung Quốc), Đài Loan (Trung Quốc), Australia, New Zealand. Tuy nhiên, trong nhóm này Australia, New Zealand đã bắt đầu chuyển dần sang nhóm 2 trong thời gian gần đây. Nhóm 2, tiếp cận theo hướng vừa khôi phục các hoạt động kinh tế - xã hội vừa kiểm soát dịch bệnh, là đa số các nước trên thế giới. Ngay trong nhóm 2 cũng có nhiều thái cực khác nhau như: Brazil có cách tiếp cận mở cửa mạnh theo kiểu để tự do, Thụy Điển chấp nhận mở cửa sớm để phục hồi kinh tế và để có miễn dịch cộng đồng. Nhiều nước khác mở cửa vẫn phải có điều kiện tùy vào tình hình cụ thể. Dù là nhóm nào, các nước đều cần có sự can thiệp mạnh vào nền kinh tế bằng các gói chính sách hỗ trợ.

Thứ nhất, thực hiện các nhóm chính sách hỗ trợ người dân. 

Nhiều quốc gia còn dành những khoản kinh phí khổng lồ để hỗ trợ người dân. Tháng 8-2020, Quốc hội Israsel đã thông qua gói cứu trợ kinh tế trị giá 80 tỷ NIS (tương ứng 6,1% GDP của năm 2020), trong đó có 11 tỷ NIS được chi cho các vấn đề về y tế và sức khỏe cộng đồng; 20 tỷ chi cho việc duy trì lưới an sinh xã hội, hỗ trợ việc nới lỏng các quy định về trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp cho người lao động tự do. Các giải pháp này được gia hạn và tiếp tục áp dụng cho tới hiện tại.

Đầu năm 2020, Chính phủ Trung Quốc đã triển khai gói cứu trợ 4,9 nghìn tỷ nhân dân tệ (tương đương 4,7% GDP) với các biện pháp tài khóa cụ thể nhằm tăng cường chi tiêu chống dịch và kiểm soát sự lây lan của virus; sản xuất các thiết bị y tế; đẩy nhanh giải ngân bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp mở rộng cho lao động nhập cư; miễn, giảm thuế và nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội; tăng cường chi tiêu công. Chính phủ Nhật Bản đã thông qua các gói kích thích và phục hồi kinh tế để đối phó với các tác động về kinh tế và xã hội của đại dịch.

Ngày 7-4-2020, Chính phủ Nhật Bản phê duyệt gói giải cứu kinh tế khẩn cấp trị giá 117,1 nghìn tỷ yên (tương đương 20,9% GDP năm 2019) bên cạnh gói kích cầu kinh tế (hiệu lực từ tháng 1-2020) và hai gói ứng phó dịch bệnh (công bố vào tháng 2 và tháng 3-2020) đã triển khai trước đó. Các gói kích thích kinh tế khổng lồ này được xây dựng dựa trên 5 mục tiêu, gồm: xây dựng các phương án phòng và kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh, nâng cao khả năng chữa trị bệnh cho hệ thống y tế; bảo đảm việc làm cho người dân và ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; khởi động lại các hoạt động kinh tế sau phong tỏa, giãn cách; xây dựng lại một cấu trúc kinh tế có khả năng chống chịu tốt trước thảm họa; tăng cường khả năng đối phó với các thảm họa trong tương lai. Các giải pháp chủ yếu là trợ cấp tiền mặt cho người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng, miễn, giảm thuế và nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, mở rộng các cơ chế vay vốn ưu đãi từ các tổ chức tài chính công và tư nhân. Sau đó, chính phủ tiếp tục mở rộng các khoản trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ cho vay thông qua các tổ chức tài chính công, trợ cấp các khoản chi phí thuê cơ sở vật chất của doanh nghiệp. Đến tháng 12-2020, Chính phủ Nhật Bản đã thông qua gói cứu trợ kinh tế tổng thể để bảo đảm cuộc sống và sinh kế của người dân trị giá 73,6 nghìn tỷ yên (tương đương 13,1% GDP năm 2019) với những cải tổ về mặt cấu trúc và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sau đại dịch.

Ngay sau khi đại dịch COVID-19 bùng phát, Chính phủ Thái Lan đã thông qua gói cứu trợ kinh tế giai đoạn 1, 2 và 3 quy mô tương đương 9,6% GDP (khoảng 1,5 nghìn tỷ bath). Mục đích chi cho các vấn đề liên quan đến y tế công cộng và sức khỏe người dân; hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19; hỗ trợ các cá nhân và doanh nghiệp thông qua các khoản vay ưu đãi và miễn, giảm thuế; giảm hóa đơn điện nước và phí bảo hiểm xã hội phải đóng; triển khai các biện pháp hỗ trợ du lịch địa phương với 22 tỷ bath trợ cấp cho khách du lịch và 100 tỷ bath trợ cấp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành dưới dạng các khoản vay ưu đãi. Để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong đợt bùng dịch thứ 2 và thứ 3 vừa qua, Thái Lan đã thông qua các gói hỗ trợ bằng tiền mặt (mỗi người được nhận 3.500 bath/tháng trong thời gian 2 tháng với đợt dịch thứ 2 và 3.000 bath/tháng trong thời gian 6 tháng với đợt dịch thứ 3). Thái Lan cũng phê duyệt gói cứu trợ kinh tế trị giá 500 tỷ bath để giảm thiểu các tác động kinh tế - xã hội của đại dịch và gói kích cầu kinh tế mới trị giá 140 tỷ bath với các hình thức trợ cấp tiền mặt, tiêu dùng chung (co-payment) và phiếu ưu đãi (e-voucher). Hộ gia đình có thể tiếp cận các khoản vay tiêu dùng mà không bị đánh giá xấu về tín dụng hoặc bị áp mức lãi suất cao.

Thứ hai, các nhóm chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. 

Chính phủ Israel thông qua gói cứu trợ kinh tế trị giá 80 tỷ NIS (tương ứng 6,1% GDP của năm 2020), trong đó có 41 tỷ NIS chi cho việc hỗ trợ nới lỏng định lượng trong thị trường tài chính; 8 tỷ NIS chi cho các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng. Trung Quốc đã bơm tiền vào hệ thống ngân hàng để gia tăng thanh khoản thông qua cơ chế thị trường mở; mở rộng các cơ chế cho vay lại hoặc tái chiết khấu khoản vay, cắt giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ các doanh nghiệp; ban hành các công cụ mới để hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn, bao gồm cả chương trình lãi suất 0 đồng (chính phủ cấp tiền cho ngân hàng để ngân hàng cho doanh nghiệp vay lại)… Ngoài ra, Trung Quốc còn nới lỏng những quy định về điều kiện tài chính cho vay đối với các doanh nghiệp, hộ gia đình và khu vực bị ảnh hưởng bởi đại dịch và gặp khó khăn trong việc trả nợ; nới lỏng các điều kiện cho vay ràng buộc với hình thức vay trực tuyến và mở rộng hỗ trợ tín dụng cho nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ gia đình đủ điều kiện; tạm hoãn các khoản nợ xấu và cắt giảm các điều kiện quy định nợ xấu; hỗ trợ các tổ chức tài chính phát hành trái phiếu doanh nghiệp để doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận nguồn vốn trong dân thông qua việc nới lỏng các điều kiện bảo đảm đầu tư của bên phát hành.

Nhật Bản đưa ra các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động số hóa và ứng dụng công nghệ xanh, thân thiện với môi trường, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận các gói vay ưu đãi. Về chính sách tiền tệ, Nhật Bản áp dụng các giải pháp nhằm bảo đảm sự vận hành thông suốt của thị trường tài chính và tạo thêm cơ chế khuyến khích để các tổ chức tài chính mở rộng hoạt động cung ứng tín dụng. Các giải pháp chính gồm bơm tiền vào hệ thống tài chính thông qua việc mở rộng quy mô và thời hạn trái phiếu chính phủ, hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tín dụng để tăng cường khả năng cho vay của các tổ chức này. Đồng thời, Chính phủ Nhật Bản cũng trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa với các khoản vay không lãi suất và không cần tài sản bảo đảm, giảm bớt các điều kiện ràng buộc và yêu cầu ngân hàng cho phép doanh nghiệp giãn nợ trong một số trường hợp.

Chính phủ Thái Lan tập trung hỗ trợ cho ngành dịch vụ ăn uống, lưu trú và du lịch khách sạn để duy trì chuỗi cung ứng trong nước - vốn là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nước này. Triển khai hàng loạt biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời các chính sách cũng bám sát các giai đoạn và diễn biến của dịch bệnh trong năm 2020: Các gói kích thích ngắn hạn, bao gồm hỗ trợ tài chính gián tiếp và hỗ trợ trực tiếp; các biện pháp hỗ trợ trung hạn, bao gồm các khoản vay ưu đãi, các khoản khấu trừ thuế, tiền thuê nhà và các khoản thanh toán khác…

Thứ ba, chính sách hỗ trợ ngành dịch vụ du lịch. 

Nhiều quốc gia đã có các chính sách hỗ trợ ngành dịch vụ du lịch. Dịch vụ du lịch là ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất do dịch bệnh COVID-19. Chính phủ Mỹ áp dụng gói hỗ trợ khẩn cấp để phát triển du lịch nội địa, dựa trên thực tế một số bang, như New York, Washington có một lượng du khách “nội địa” hùng hậu. Do tự chủ về nguồn vắc-xin, Mỹ có ưu thế so với các nước khác trong việc hồi phục nền kinh tế nhờ tiêm chủng đại trà. Hộ chiếu vắc-xin hiện vẫn là biện pháp “khả thi” nhất đối với các cơ quan chức năng ở New York khi đón hàng triệu lượt du khách đến từ phía bên kia hai bờ Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Nhờ vào chiến dịch tiêm chủng đại trà, thành phố New York đã nhanh chóng phục hồi được lòng tin của khách du lịch, doanh nhân.

Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp khuyến khích du lịch nội địa, như đặt lịch hẹn, chuyển tải cao điểm, hạn chế luồng đi lại và tổ chức có trật tự hơn, ban hành các hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh và các tiêu chuẩn sức khỏe cộng đồng chi tiết dành cho lĩnh vực du lịch và lữ hành… Chính phủ giảm thuế và hỗ trợ tài chính giúp các doanh nghiệp du lịch, thực hiện ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19 (hoạt động trong các lĩnh vực vận tải, du lịch). Theo đó, những doanh nghiệp này được phép chuyển khoản lỗ thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh trong năm 2020 sang 8 năm tiếp theo, thay vì mức chuẩn trước đó là 5 năm. Còn ở cấp độ vi mô, các giải pháp bao gồm: 1- bảo đảm khoảng cách và tăng cường giữ gìn vệ sinh phòng, chống dịch. Các địa điểm du lịch giảm bớt sự đông đúc bằng cách giới hạn số lượng người vào cửa, ví dụ chỉ bằng 30% đến 50% so với mức trước đó; 2- tích cực khuyến mại về giá vận tải hành khách; 3- sử dụng mạng xã hội và các phương tiện truyền thông hướng vào phân khúc khách hàng trẻ tuổi.

Chính phủ Nhật Bản áp dụng một loạt gói chính sách nhằm bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội nói chung và thúc đẩy du lịch trong nước nói riêng. Để kích thích du lịch trong nước sau khi dỡ bỏ tình trạng khẩn cấp, chính phủ và các địa phương đã thực hiện một số trợ cấp du lịch. Tháng 7-2020, Chính phủ Nhật Bản đã phát động chiến dịch “Go To Travel” với ngân sách lên tới 1,7 nghìn tỷ Yên tức là khoảng 15,5 tỷ USD.

Thái Lan đã phối hợp với các cơ quan có liên quan, như Cục Du lịch Thái Lan trực thuộc Bộ Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế và Bộ Tài chính để đề ra các giải pháp hỗ trợ khẩn cấp cho doanh nghiệp du lịch, lữ hành của Thái Lan như: Một là ban hành chỉ thị y tế, trong đó đặc biệt ưu tiên đến bảo đảm sức khỏe và an toàn của khách du lịch và người dân địa phương. Hai là ưu đãi thuế và thực hiện các chương trình cho vay. Đối với các doanh nghiệp hàng không, Thái Lan áp dụng chính sách giảm thuế tiêu thụ đặc biệt nhiên liệu máy bay. Đối với các doanh nghiệp du lịch và lữ hành, Chính phủ Thái Lan hỗ trợ thông qua ưu đãi thuế và chương trình cho vay trị giá 4,8 tỷ USD. Ngân hàng Thái Lan cũng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ khoản vay trị giá 15,9 tỷ USD, trong đó có 317,5 triệu USD cho các doanh nghiệp liên quan đến du lịch. Chính phủ Thái Lan dành khoảng 12,7 tỷ USD cho các dự án phục hồi kinh tế - xã hội, bao gồm các dự án liên quan đến ngành công nghiệp du lịch, nâng cao chất lượng và phục hồi các điểm đến du lịch, tăng cường an ninh và y tế cho các khách du lịch, dịch vụ công nghệ cao, nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp. Ba là áp dụng các chương trình an sinh xã hội hỗ trợ lao động thất nghiệp, bao gồm lao động trong ngành hàng không, du lịch.

Bài học xây dựng, thực hiện chính sách phục hồi kinh tế cho tỉnh Quảng Ninh

Một là, đẩy mạnh chiến lược tiêm vaccine

Tăng tỷ lệ người dân được tiêm chủng vaccine là điều kiện cần và quan trọng bậc nhất của quá trình phục hồi hoạt động kinh tế. Cần quyết tâm cao hơn nữa trong việc thực hiện các biện pháp nhằm kiểm soát và đẩy lùi đại dịch COVID-19, nhất là tại thành phố, các khu công nghiệp. Sử dụng tổng hợp mọi nguồn lực để sớm có đủ vaccine phòng COVID-19 tiêm miễn phí cho người dân, phấn đấu đạt tỷ lệ tiêm chủng 70% tổng dân số trong thời gian sớm nhất, ban hành danh sách các địa phương, ngành, lĩnh vực được ưu tiên bố trí nguồn vaccine để chính quyền địa phương và doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân chủ động kế hoạch duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ngưỡng 75% đến 85% dân số được tiêm phòng vaccine 2 mũi là điều kiện để kiểm soát dịch bệnh và chủ động chuyển đổi sang giai đoạn phát triển kinh tế trong bối cảnh thích ứng với dịch bệnh, hoàn thành tiêm mũi 3, mũi nhắc lại vắcxin phòng COVID-19 trong thời gian sớm nhất. Thực hiện chuyển từ chiến lược “ZERO COVID” sang thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19.

Hai là, thực hiện kịp thời, đầy đủ các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp và người dân

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhóm dễ tổn thương trước các cú sốc từ bên ngoài, như cú sốc dịch bệnh. Trong khi đó, các doanh nghiệp này lại là nhóm tạo nhiều việc làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu các chính sách hỗ trợ các đối tượng chịu ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch COVID-19 theo hướng làm rõ đối tượng, lĩnh vực phù hợp tình hình thực tiễn và các quan điểm, chiến lược về phòng, chống dịch, mục tiêu phục hồi kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội trong từng giai đoạn. Xác định cụ thể đối tượng thụ hưởng chính sách, là những doanh nghiệp và nhóm người dân bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch, những người lao động thu nhập thấp, nhóm người yếu thế trong xã hội. Thông tin về chính sách cần kịp thời và rõ ràng, minh bạch để doanh nghiệp và người dân sớm tiếp cận được đầy đủ các chính sách. Thúc đẩy sự phổ biến, ứng dụng công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin. Hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động trong quá trình chuyển đổi sang công việc, việc làm mới.

Ba là, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số các hoạt động kinh tế - xã hội

Công nghệ sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sinh kế của người dân cũng như hoạt động kinh doanh nói chung. Thực hiện phát triển kinh tế số thì các giải pháp về thể chế, kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực vẫn là những giải pháp cơ bản nhất. Bên cạnh đó cần phải thay đổi hành vi, thói quen của nền kinh tế truyền thống trong đó có sử dụng tiền mặt; tạo dựng nền tảng vững chắc cho phát triển thương mại điện tử với ba yếu tố có tính chất quyết định là logistic, thanh toán điện tử và an ninh mạng. Cần phải có những giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và người dân tham gia mạnh mẽ vào quá trình chuyển đổi số để nhanh chóng thiết lập được các mục tiêu xây dựng chính phủ điện tử, kinh tế số, xã hội số, cùng với đó, thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh mạng. Chú trọng thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế số, kinh tế xanh, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã tăng tốc độ chuyển đổi số, đổi mới mô hình kinh doanh, đổi mới công nghệ. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực số, nhân lực có kỹ năng, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động./.