Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh

PGS, TS Đặng Đình Quý
Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
17:14, ngày 03-01-2026

TCCS - “Bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện bản lĩnh kiên định và tầm nhìn chiến lược của dân tộc Việt Nam trong quan hệ quốc tế. Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên “trên hết, trước hết”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn vận dụng linh hoạt sách lược, biến thách thức thành cơ hội, giữ vững thế chủ động chiến lược trong mọi hoàn cảnh. “Bất biến” là sự khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng.

Ngày 31-5-1946, trước khi lên đường sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam): “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở cụ và anh em giải quyết cho. Mong cụ “dĩ bất biến ứng vạn biến””(1). Là người am hiểu sâu sắc triết học phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm trong lời căn dặn đó một số định hướng mang tầm chiến lược. Đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng - một nhà Nho thâm hiểu kinh điển, lời căn dặn được hiểu là trong hoàn cảnh khó khăn, phải kiên định nguyên tắc căn bản, lấy cái không đổi ứng phó với muôn sự thay đổi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa_Ảnh: Tư liệu

“Dĩ bất biến ứng vạn biến” thường được hiểu là lấy cái không thay đổi để ứng phó với muôn sự biến động. Ở tầm chỉ đạo hành động, phương châm này hàm ý rằng, để ứng xử linh hoạt, trước hết phải xác định rõ đâu là “cái bất biến” và đâu là “cái vạn biến”. Xác định đúng “cái bất biến” giúp chủ động điều chỉnh “cái vạn biến”, mà vẫn giữ vững mục tiêu chiến lược.

Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp giải thích phương châm này, song các nhà nghiên cứu thống nhất rằng “cái bất biến” chính là mục tiêu, nguyên tắc lớn của cách mạng Việt Nam(2). Giữ vững nguyên tắc chính là điều kiện để thực hiện mục tiêu. Trong tư duy của Người, mục tiêu luôn là điểm khởi đầu, đồng thời là thước đo của mọi hành động cách mạng.

Từ thực tiễn lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn 1945 - 1946 và tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “cái bất biến” là mục tiêu tối thượng của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, trong từng thời kỳ cụ thể, “bất biến” luôn được cụ thể hóa thành mục tiêu phù hợp với bối cảnh lịch sử và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đó là biểu hiện sinh động của trí tuệ, bản lĩnh và nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên tắc và linh hoạt - giữa “bất biến” và “vạn biến” - trong tư duy chiến lược và hành động thực tiễn của Người.

“Bất biến” - mục tiêu đặt ra

Quan niệm về mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét nhất trong việc lựa chọn tiêu ngữ quốc hiệu của nước Việt Nam. Tại Sắc lệnh số 50 ngày 9-10-1945, lần đầu tiên cụm từ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” xuất hiện dưới Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(3). Ba thành tố này được đặt ngang hàng, song mang giá trị ý nghĩa ở những cấp độ khác nhau, phản ánh tư tưởng nhất quán của Người về mục tiêu tối thượng: độc lập dân tộc gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân.

Ngày 17-10-1945, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(4). Như vậy, “hạnh phúc, tự do của nhân dân” là mục tiêu cuối cùng, còn “độc lập” là điều kiện trung tâm để đạt được mục tiêu đó. Tư tưởng này tiếp tục được Người khẳng định trong Thư gửi đồng bào tỉnh Lào Cai vào ngày 18-10-1945, khi kêu gọi: “Từ đây đồng bào ta phải đoàn kết chặt chẽ, tranh đấu đến kỳ cùng để mưu tự do, hạnh phúc cho dân tộc” và bày tỏ niềm tin: “Tất cả nhân dân Lào Cai,... cùng nhau hăng hái đứng lên phấn đấu để củng cố nền độc lập của nước nhà và xây dựng nền hạnh phúc tự do cho dân chúng”(5)

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định quan niệm sâu sắc về “tự do” và “hạnh phúc”. Tháng 1-1946, trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(6).

Trong khi khẳng định “hạnh phúc, tự do của nhân dân” là mục tiêu tối thượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời đề cao vai trò quyết định của độc lập dân tộc. Độc lập vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để đạt tới tự do và hạnh phúc của nhân dân. Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, chưa được quốc tế công nhận, nền độc lập còn “ngàn cân treo sợi tóc”, Người xác định rõ độc lập chính là “cái bất biến” cần được giữ vững trước mọi biến động.

Ngày 6-10-1945, khi đề cập đến chính sách ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Với Pháp - rất đơn giản, Chính phủ buộc Pháp phải công nhận nền độc lập của nước ta. Được thế, các vấn đề khác cũng có thể giải quyết dễ dàng”. Ngày 28-11-1945, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Người nhấn mạnh: “Ngoại giao đối với Pháp: a) Nhất quyết đòi độc lập. b) Chỉ có thể nhượng bộ ít nhiều về kinh tế, văn hóa. c) Ngoại giao với Trung Hoa: Cùng một nguyên tắc là không nhượng bộ về vấn đề độc lập của Việt Nam(7). Chủ tịch Hồ Chí Minh coi độc lập là “cái bất biến”, đồng thời xác định rõ “cái vạn biến” có thể linh hoạt điều chỉnh là kinh tế, văn hóa và các lĩnh vực khác. Đó là sự kết hợp biện chứng giữa kiên định mục tiêu và linh hoạt sách lược, thể hiện tầm vóc tư duy chiến lược của Người trong nghệ thuật lãnh đạo và đối ngoại cách mạng.

“Bất biến” - mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn cách mạng

Trong khi kiên định mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ mục tiêu cụ thể (mục tiêu trước mắt), phù hợp với bối cảnh từng giai đoạn cách mạng. Trong những năm 1945 - 1946, mục tiêu trước mắt là giữ vững chính quyền, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài. Tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cụ Huỳnh Thúc Kháng khi đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã gặp Lư Hán (1895 - 1974), tướng lĩnh cao cấp của Quốc dân đảng Trung Quốc, Tư lệnh Tập đoàn quân số 1, kiêm Tổng chỉ huy lực lượng Trung Hoa Quốc dân đảng tại Bắc Đông Dương, được Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch (1887 - 1975) làm Chủ tịch ủy nhiệm sang Việt Nam tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản theo thỏa thuận của Hội nghị Potsdam(8).

Theo quyết định của Hội nghị Postdam, quân đội Trung Hoa Dân Quốc được giao nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật ở khu vực phía Bắc vĩ tuyến 16, còn quân đội Anh phụ trách khu vực phía Nam vĩ tuyến 16. Mặc dù mang danh nghĩa “giải giáp quân đội Nhật”, song lực lượng do tướng Lư Hán chỉ huy - khoảng 20 vạn quân - đã có nhiều hoạt động vượt ra ngoài phạm vi được ủy nhiệm, tác động đáng kể đến tình hình chính trị ở miền Bắc Việt Nam. Trong bối cảnh phức tạp đó, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối diện với không ít sức ép từ bên ngoài, đòi hỏi nghệ thuật xử lý tình huống hết sức linh hoạt và tỉnh táo.

Tại một cuộc tiếp xúc quan trọng, khi phía đối phương đưa ra nhiều yêu cầu gây khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ thái độ bình tĩnh, phân tích rõ tương quan lực lượng và xác định nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là giữ vững chính quyền, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng để chủ động ứng phó với những biến động tiếp theo.

Việc xác định rõ mục tiêu cụ thể và kiên định thực hiện mục tiêu cho thấy trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các yếu tố khác - kể cả mục tiêu lâu dài - có thể được điều chỉnh linh hoạt khi cần thiết để bảo vệ “cái bất biến”. Quyết định ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 với Pháp là minh chứng tiêu biểu cho nghệ thuật đó. Mục tiêu tối thượng của Việt Nam là độc lập dân tộc, song với tương quan lực lượng lúc bấy giờ, chưa thể buộc Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam dù chỉ trên danh nghĩa.

Trước đó, ngày 28-2-1946, Hiệp định Hoa - Pháp được ký kết, theo đó Pháp được quyền thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc tại miền Bắc Đông Dương. Để việc chuyển quân diễn ra thuận lợi, phía Pháp mong muốn đạt được thỏa thuận với Việt Nam nhằm tránh xung đột không cần thiết. Trong bối cảnh tình hình chính trị trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, nguy cơ xung đột đa chiều đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một giải pháp mềm dẻo, vừa giữ vững nguyên tắc, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng tiếp tục phát triển.

Đầu tháng 3-1946 (từ ngày 1 đến 3-3-1946), đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Cộng hòa Pháp tiến hành các cuộc đàm phán bí mật. Phía Việt Nam kiên trì lập trường yêu cầu Pháp công nhận quyền độc lập và thống nhất của Việt Nam, song hai bên còn những bất đồng. Trước đó, ngày 25-2-1946, trong cuộc gặp với Jean Sainteny - đại diện Chính phủ Pháp - Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ quan điểm của Việt Nam là “Độc lập và hợp tác”(9).

Tình hình lúc bấy giờ diễn biến hết sức căng thẳng. Ngày 5-3-1946, hạm đội Pháp xuất hiện tại vịnh Bắc Bộ; phía Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố nếu quân Pháp đổ bộ khi chưa có Hiệp định Việt - Pháp, sẽ nổ súng. Ở trong nước, nhân dân và lực lượng vũ trang sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, trong khi một số tổ chức chính trị tìm cách lợi dụng thời cơ để gây rối tình hình.

Tối ngày 5-3-1946, đại diện quân đội Tưởng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và bày tỏ sẽ ủng hộ nếu Việt Nam đạt được thỏa thuận với Pháp. Ngay sau đó, đại diện Pháp cũng đến gặp, mong muốn tiến hành đàm phán và đi đến thống nhất ngay trong đêm cùng ngày. Cuộc trao đổi giữa hai bên kéo dài đến rạng sáng ngày 6-3-1946. Phía Việt Nam kiên trì đề nghị Pháp công nhận nền độc lập và thừa nhận kết quả trưng cầu ý dân về thống nhất ba kỳ, song phía Pháp vẫn giữ quan điểm khác biệt đối với vấn đề độc lập.

Sáng ngày 6-3-1946, khi tàu chiến Pháp tiến vào Hải Phòng, xung đột vũ trang đã xảy ra giữa quân đội Pháp và một bộ phận quân đội Trung Hoa Dân Quốc. Tại Thủ đô Hà Nội, tình hình trở nên hết sức căng thẳng; phía Trung Hoa Dân Quốc liên tục thúc giục Việt Nam sớm đạt thỏa thuận với Pháp. Nếu không có giải pháp kịp thời, nguy cơ Pháp và Trung Hoa Dân Quốc thỏa hiệp, đẩy Việt Nam vào thế bất lợi, là điều khó tránh khỏi. Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đề xuất sáng kiến ký “Hiệp định Sơ bộ” với điều kiện Pháp phải công nhận Việt Nam là “quốc gia tự do”. Phía Pháp chấp thuận. Chiều ngày 6-3-1946, vào lúc 16 giờ 30 phút, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Jean Sainteny - đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp - ký kết Hiệp định Việt - Pháp. Hiệp định khẳng định “nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình”(10).

Ngày 7-3-1946, tại cuộc mít-tinh lớn của nhân dân thủ đô Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu làm rõ ý nghĩa của Hiệp định Sơ bộ: “Nước Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do; tự do không phải là tự trị, nhiều hơn tự trị nhưng vẫn chưa là độc lập… Sau khi giành được tự do, chúng ta sẽ tiến tới giành độc lập, độc lập hoàn toàn”(11). Lời khẳng định đó phản ánh rõ quan điểm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: trong bối cảnh phức tạp, cần biết tạm thời chấp nhận bước đi thích hợp để giữ vững “cái bất biến” - mục tiêu độc lập dân tộc - đồng thời linh hoạt về sách lược nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh lâu dài.

Việc xác định mục tiêu cụ thể tiếp tục được thể hiện rõ trong quá trình đàm phán tại Hội nghị Paris. Mục tiêu tối thượng của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước vẫn là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 (mở rộng), được thông qua và phổ biến sau đợt họp lần thứ hai vào tháng 7-1959, đã xác định rõ: “Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (12). Trước đó, ngày 1-8-1956, trả lời phỏng vấn Báo Tuần lễ Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi sẽ kiên quyết phấn đấu để củng cố hòa bình, giành thống nhất, độc lập và dân chủ hoàn toàn cho đất nước”(13). Những phát biểu và chủ trương này cho thấy sự nhất quán trong tư duy của Người: kiên định mục tiêu “bất biến” là độc lập, thống nhất Tổ quốc, đồng thời vận dụng linh hoạt sách lược “vạn biến” để đạt được mục tiêu trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể.

Độc lập dân tộc là mục tiêu xuyên suốt, cần được kiên định trong mọi giai đoạn. Trong đàm phán Paris, nguyên tắc này càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi Mỹ không tham gia ký kết Hiệp định Genève năm 1954 và không thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam. Mặc dù gặp thất bại trên chiến trường và rơi vào thế bất lợi trong đàm phán, song phía Mỹ vẫn cố duy trì lập trường này. Thậm chí, đến tháng 11-1972, Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger còn đề xuất không ghi cụm từ “Mỹ công nhận”, mà chỉ “các nước công nhận”, đồng thời tìm cách chuyển nội dung “công nhận các quyền cơ bản của Việt Nam” từ Chương I, Điều 1 xuống Chương IV nhằm làm giảm giá trị pháp lý của điều khoản đó(14).

Thống nhất đất nước là mục tiêu cuối cùng, song để đạt được mục tiêu đó, trong từng giai đoạn cần xác định rõ nhiệm vụ cụ thể. Trong đàm phán Paris, mục tiêu trước mắt được xác định là “quân đội Mỹ rút, quân ta ở lại”. Ngày 20-7-1968, trong Lời kêu gọi nhân kỷ niệm 14 năm ký kết Hiệp định Genève, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Lập trường của ta rất chính đáng, rõ ràng: Ngày nào đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược nước ta, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để dân ta tự do giải quyết công việc nội bộ của mình, thì ngày đó hòa bình sẽ lập lại ngay… Cách duy nhất để lập lại hòa bình là quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hết về nước!”(15). Lập trường đó thể hiện hai nội dung nhất quán: 1- Quân đội Mỹ và các lực lượng đồng minh phải rút hoàn toàn khỏi Việt Nam; 2- Các vấn đề nội bộ của Việt Nam phải do chính người Việt Nam tự quyết định, trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng chính trị - quân sự ở miền Nam. Đây chính là sự vận dụng linh hoạt tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến”: kiên định mục tiêu thống nhất và độc lập, đồng thời xác định bước đi chiến lược phù hợp để hiện thực hóa mục tiêu đó.

Ngày 1-1-1969, trong Thư chúc mừng năm mới gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ: “Năm qua thắng lợi vẻ vang,/Năm nay tiền tuyền chắc càng thắng to./Vì độc lập, vì tự do,/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào./Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,/Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!(16). Bài thơ đã khẳng định rõ mục tiêu cuối cùng là độc lập, tự do và thống nhất đất nước (“Bắc - Nam sum họp”), đồng thời chỉ ra mục tiêu cụ thể, trước mắt là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Đây là sự kết hợp nhất quán giữa cái “bất biến” - mục tiêu chiến lược - với cái “vạn biến” - sách lược hành động phù hợp từng giai đoạn cách mạng.

Đánh giá ý nghĩa của Hiệp định Paris, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Paris không phải ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát… mà mấu chốt là quân Mỹ phải ra, còn quân ta thì ở lại”(17).  Như vậy, tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” tiếp tục được vận dụng sáng tạo, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất Tổ quốc.

Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của Hội nghị Paris (từ tháng 5 đến tháng 10-1968), Việt Nam chưa chấp nhận đàm phán với chính quyền Sài Gòn. Theo hồi ức của ông Nguyễn Đình Phương - phiên dịch tại hội nghị, trong một cuộc gặp bí mật giữa đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Xuân Thủy và phái đoàn Mỹ do Averell Harriman dẫn đầu, phía Mỹ yêu cầu có đại diện của chính quyền Sài Gòn tham dự. Ông Xuân Thủy thẳng thắn khẳng định: “Ngụy quyền Sài Gòn không phải là đại diện cho nhân dân miền Nam Việt Nam, chúng tôi không thừa nhận Thiệu - Kỳ”(18). Đến tháng 10-1968, Mỹ tiếp tục đề nghị Việt Nam chấp thuận sự tham gia của chính quyền Sài Gòn như một điều kiện để chấm dứt ném bom miền Bắc. Việt Nam đồng ý, với điều kiện phía Mỹ phải thừa nhận sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây là một bước đi thể hiện rõ nghệ thuật “dĩ bất biến ứng vạn biến”, vừa kiên định lập trường nguyên tắc, vừa linh hoạt trong sách lược. Cục diện đàm phán bốn bên tại Thủ đô Paris được mở ra, với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng - lực lượng chính trị, quân sự có uy tín và vị thế quốc tế ngày càng cao - tạo thuận lợi mới cho Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao, hướng tới mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư tham quan trưng bày ảnh về công tác đối ngoại nhân dân_Ảnh: TTXVN

Xác định “cái bất biến” trong bối cảnh hiện nay

Cách thức Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định mục tiêu trong từng giai đoạn cách mạng thể hiện giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ nhất, mục tiêu cuối cùng là “kim chỉ nam” cho hành động. Kiên định mục tiêu lâu dài giúp không chệch hướng, không sa vào chủ quan, giáo điều. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu, cần có những điều kiện cụ thể; nếu vận dụng cứng nhắc trong bối cảnh chưa chín muồi, sẽ khó xử lý hiệu quả các vấn đề phức tạp, trước mắt.

Thứ hai, mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn là yếu tố quan trọng dẫn tới mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu này phải phù hợp thực tiễn, khả thi và có tính định hướng, là “nấc thang” tiến dần tới thắng lợi toàn diện. Càng xác định rõ mục tiêu trước mắt, càng tạo được sự linh hoạt trong điều hành chiến lược và trong hành động.

Thứ ba, mục tiêu cuối cùng và mục tiêu cụ thể có vai trò khác nhau nhưng thống nhất trong tổng thể. Mục tiêu cuối cùng giữ vai trò định hướng chiến lược, còn mục tiêu cụ thể là căn cứ xử lý những vấn đề cấp bách, thiết thực.

Thứ tư, để xác định đúng “cái bất biến” trong từng giai đoạn, cần “biết người, biết mình, biết thời thế”. “Biết người” là hiểu rõ đối tác và bối cảnh; “biết mình” là nắm chắc năng lực, mục tiêu, phương cách hành động; “biết thời thế” là nhận diện đúng xu hướng vận động của thế giới và khu vực(19). Khi hội đủ ba yếu tố này, việc xác định “cái bất biến” mới thực sự chính xác và khả thi.

Ngày nay, sau hơn 80 năm giành được độc lập, “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” vẫn là mục tiêu tối thượng của dân tộc Việt Nam. “Cái bất biến” - với nghĩa là mục tiêu chiến lược - không thay đổi; song “cái bất biến” - với nghĩa là mục tiêu cụ thể - cần được xác định phù hợp bối cảnh mới. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) xác định: Đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao(20). Đây là những mục tiêu chiến lược, thể hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mọi chính sách, trong đó có chính sách đối ngoại, đều phải phục vụ hiệu quả cho việc hiện thực hóa những mục tiêu này. Nói cách khác, mục tiêu phát triển quốc gia - “cái bất biến” - chi phối toàn bộ hoạt động đối ngoại, từ lựa chọn đối tác, lĩnh vực ưu tiên đến cách xử lý các vấn đề phát sinh - “cái vạn biến”.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cần tiếp tục xác định rõ nguyên tắc xử lý “cái bất biến” trong các tình huống cụ thể của quan hệ quốc tế. Từ nay đến năm 2030 và năm 2045, các mối quan hệ đa phương, song phương và khu vực đều có thể phát sinh những vấn đề phức tạp; nếu có nguyên tắc chung, sự đồng thuận và ứng phó sẽ chủ động, hiệu quả hơn.

Vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn.

Một là, đánh giá kỹ tác động của từng vụ việc đối với mục tiêu cuối cùng và lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc. Phải tránh hai khuynh hướng: nghiêm trọng hóa dẫn đến cứng nhắc, làm vấn đề thêm phức tạp; hoặc đơn giản hóa, dẫn đến chủ quan, bỏ lỡ thời cơ hoặc gây hệ lụy lâu dài.

Hai là, trên cơ sở đánh giá mức độ tác động, xác định mục tiêu cấp bách, trước mắt theo các tiêu chí phù hợp với mục tiêu cuối cùng, tối ưu và khả thi. Từ đó, xác định các biện pháp xử lý phù hợp, cả về phương thức và mức độ.

Ba là, khi xác định được mục tiêu cụ thể (cái bất biến) và biện pháp xử lý (cái vạn biến), cần kiên định thực hiện, đồng thời chủ động hóa giải các hệ quả có thể phát sinh.

Bài học từ lịch sử còn nguyên giá trị đến hôm nay. Ngày 7-3-1946, một ngày sau khi ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trước đồng bào Thủ đô: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”(21). Lời khẳng định đó thể hiện bản lĩnh kiên định, niềm tin vững chắc và tinh thần bất khuất đối với “cái bất biến” - độc lập, chủ quyền và lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc.

Tóm lại, phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” là một nội dung cốt lõi, thể hiện chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại. Vấn đề then chốt và cũng là khó nhất trong việc vận dụng đúng tinh thần ấy chính là xác định “cái bất biến” trong từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể. Kiên định “cái bất biến” là giữ vững mục tiêu chiến lược; linh hoạt trong “vạn biến” là nghệ thuật ứng xử sáng tạo để đạt tới mục tiêu đó. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hai yếu tố này không đối lập, mà bổ sung cho nhau, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và bản sắc ngoại giao Việt Nam. Trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi nhanh của thế giới hiện nay, tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến” theo tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là cẩm nang quý báu cho Việt Nam trong hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vì lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời, là kim chỉ nam trong xử lý linh hoạt, hiệu quả các vấn đề phức tạp nảy sinh trong quan hệ quốc tế hiện đại./.

----------------------------

(1), (4), (5), (6), (7), (9), (10), (21) Hồ Chí Minh: Biên niên sử (1945 - 1946), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 3, tr. 197, 44, 46, 119, 76, 139, 147, 149
(2) Xem: Nguyễn Văn Nguyên: ““Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị chỉ đạo thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam (giai đoạn 1945 - 1946)”, Tạp chí điện tử Lý luận chính trị, ngày 10-7-2025, https://lyluanchinhtri.vn/phuong-cham-di-bat-bien-ung-van-bien-trong-tu-tuong-ho-chi-minh-va-gia-tri-chi-dao-thuc-tien-doi-voi-cach-mang-viet-nam-giai-doan-1945-1969-6997.html
(3) Xem: Hà Minh Hồng: “Thêm nhận thức về 6 chữ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” trong Quốc hiệu Việt Nam”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 1-9-2020, https://baochinhphu.vn/them-nhan-thuc-ve-6-chu-doc-lap-tu-do-hanh-phuc-trong-quoc-hieu-viet-nam-102278396.htm
(8) Hội nghị diễn ra tại thành phố Potsdam (Đức), từ ngày 17-7 đến 2-8-1945, giữa ba cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh
(11) Bộ Ngoại giao: Bác Hồ và hoạt động ngoại giao: Một vài kỷ niệm về Bác, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 28
(12) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t. 20, tr. 81
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 393
(14) Huỳnh Văn Trình: “Những nội dung cơ bản của Hiệp định Paris về Việt Nam” trong cuốn Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. tr. 176
(15), (16) Hồ Chí Minh: Biên niên sử (1967 - 1969), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 10, tr. 200, 253
(17) Bộ Ngoại giao: Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2007, tr. 18
(18) Nguyễn Đình Phương: “Về cuộc đàm phán bí mật”, Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. tr. 152
(19) Xem: Đặng Đình Quý: “Bàn về phương pháp tư duy Hồ Chí Minh: Vận dụng ngũ tri trong nghiên cứu đối ngoại”, Nghiên cứu quốc tế, số 2(93), tháng 6-2013, tr. 23 - 35
(20) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 36