Phát triển ngành công nghiệp vùng Đông Nam Bộ sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh
TCCS - Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấu trúc địa giới vùng Đông Nam Bộ có sự thay đổi về thành phần, phạm vi và động lực phát triển. Là vùng từng tiên phong trong phát triển ngành công nghiệp, bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc định vị lại không gian phát triển ngành là nhiệm vụ cấp thiết để các địa phương khai thác hiệu quả dư địa, nâng cao vị thế và sức ảnh hưởng trên bản đồ công nghiệp quốc gia.
Cơ hội mới để ngành công nghiệp vùng Đông Nam Bộ phát triển
Thực tiễn cho thấy, tổ chức không gian phát triển kinh tế theo vùng là giải pháp then chốt để khai thác tốt lợi thế so sánh giữa các địa phương. Thời gian qua, để phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng trong phát triển kinh tế - xã hội, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề về phát triển vùng(1). Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khai thác tốt hơn và phát huy tốt nhất các lợi thế của mỗi vùng về kết cấu hạ tầng, điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh tế - chính trị, nguồn nhân lực và tăng cường tính liên kết nội vùng và liên vùng để tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu, tạo không gian phát triển mới... Tập trung xây dựng quy hoạch vùng mang tính chất đột phá theo hướng tích hợp, đa ngành, hình thành chuỗi giá trị và triển khai thực hiện hiệu quả, lấy quy hoạch làm cơ sở quản lý phát triển vùng”(2).
Trước yêu cầu về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Hội nghị Trung ương 11 khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 60-NQ/TW, ngày 12-4-2025, tập trung vào việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và đơn vị hành chính các cấp. Nhằm kịp thời điều chỉnh phân vùng và quy hoạch vùng kinh tế - xã hội, ngày 4-6-2025, Đảng ủy Chính phủ đã có Thông báo số 65-TB/ĐU, quyết định lựa chọn phương án 2 nêu tại Báo cáo của Đảng ủy Bộ Tài chính để làm cơ sở báo cáo Bộ Chính trị xem xét quyết định; theo đó, vùng Đông Nam Bộ sẽ gồm Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh(3). Sau sắp xếp, vùng vẫn bảo đảm tính ổn định trong cơ cấu tổng thể quốc gia, tiếp tục là vùng kinh tế dẫn đầu cả nước, với tỷ trọng đóng góp xấp xỉ 60% vào GDP(4).
Việc sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp tỉnh ở vùng Đông Nam Bộ là bước đi cần thiết trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cấu trúc lại không gian phát triển công nghiệp nhằm thích ứng với yêu cầu mới của thời kỳ hội nhập sâu rộng, chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, kinh tế số. Đông Nam Bộ luôn được xem là vùng “đầu tàu” kinh tế của cả nước, với công nghiệp là trụ cột đóng góp lớn nhất vào GDP, giá trị xuất khẩu và thu ngân sách quốc gia. Năm 2024, GRDP vùng đạt 3.774.696 tỷ đồng, đứng đầu các vùng kinh tế của cả nước. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 45 - 46% GRDP, tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm đến 33% GRDP của vùng(5). Đây chính là cơ sở, mở ra cơ hội tăng tốc và bứt phá cho vùng trong kỷ nguyên phát triển mới sau khi sắp xếp lại không gian phát triển công nghiệp.
Nếu trước đây, dựa trên lợi thế so sánh, Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có định hướng phát triển riêng thì sau hợp nhất, cấu trúc hành chính - kinh tế mới ra đời với quy mô diện tích lớn, dân số đông, thị trường lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ mạnh mẽ… sẽ có điều kiện thuận lợi để quy hoạch công nghiệp ở tầm vĩ mô, thông qua việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có tính chất liên kết, không còn hiện tượng manh mún. Những cực tăng trưởng và hành lang công nghiệp sau khi được định vị lại sẽ giúp phân bổ ngành nghề hợp lý hơn, giảm tình trạng trùng lặp, tăng cường tính bổ trợ giữa các địa phương. Cụ thể, ngay tại thời điểm sau hợp nhất:
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 6.773km², dân số 14 triệu người, GRDP ước đạt 2,716 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 113 tỷ USD, chiếm gần 24% GDP cả nước và GRDP bình quân đầu người khoảng 9.600 USD. Thành phố không chỉ giữ vai trò trung tâm tài chính, thương mại mà định hướng trở thành siêu đô thị công nghiệp - dịch vụ, dẫn dắt các ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nghiên cứu và phát triển (R&D); vùng cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu trở thành trung tâm dầu khí, hóa dầu, năng lượng và logistics hàng hải hàng đầu cả nước, có khả năng cạnh tranh với các cảng quốc tế trong khu vực.
Tỉnh Đồng Nai có diện tích hơn 12.700km², dân số khoảng 4,4 triệu người, là trung tâm công nghiệp - logistics chiến lược của vùng với nhiều khu công nghiệp lớn như Nhơn Trạch, Amata, Giang Điền; lợi thế kết nối với Cảng hàng không quốc tế Long Thành, cảng Cái Mép - Thị Vải và hành lang kinh tế xuyên Á qua cửa khẩu Hoa Lư. Năm 2024, GRDP của tỉnh đạt khoảng 680.000 tỷ đồng, giai đoạn 2020 - 2024, tăng trưởng bình quân đạt 7,8%/năm. Tỉnh có tiềm năng trở thành vùng công nghiệp chế biến quy mô lớn, nhất là trong lĩnh vực gỗ, cao su, nông sản, đồng thời phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sinh khối, điện mặt trời.
Tỉnh Tây Ninh có diện tích hơn 8.500km², dân số gần 3,3 triệu người, là cửa ngõ phía Tây của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, dẫn đầu cả nước về xuất khẩu nông sản chế biến, giữ vai trò cửa khẩu thương mại với Campuchia và đang phát triển mạnh năng lượng tái tạo. Năm 2024, GRDP của tỉnh đạt khoảng 350.000 tỷ đồng, tăng trưởng 8,2%/năm(6), đóng vai trò là cửa ngõ công nghiệp biên giới, thuận lợi để phát triển logistics xuyên biên giới, công nghiệp nhẹ, dệt may, da giày…
Sau khi quy hoạch lại tổng thể, các địa phương trong vùng có thể phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển công nghiệp. Trong bối cảnh quỹ đất công nghiệp ở nhiều địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai ngày càng hạn chế, việc sáp nhập với những địa phương có diện tích lớn, còn dư địa như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tỉnh Bình Phước giúp giải quyết bài toán khan hiếm đất cho quy hoạch công nghiệp ở cấp vĩ mô. Đồng thời, các địa phương giàu tài nguyên như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (dầu khí, cảng biển), tỉnh Bình Phước (cao su, gỗ), tỉnh Tây Ninh (năng lượng tái tạo, năng lượng mặt trời) khi kết hợp trong một cấu trúc vùng mới sẽ hình thành mạng lưới tài nguyên - hạ tầng - công nghiệp bổ sung cho nhau, tránh tình trạng quy hoạch manh mún, phân tán. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp liên tỉnh có thể hình thành trên cơ sở phối hợp, giảm thiểu chồng chéo và gia tăng sức hút với các tập đoàn đa quốc gia vốn ưu tiên lựa chọn địa bàn có quy mô lớn, hạ tầng đồng bộ để triển khai dự án.
Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh sẽ góp phần giải quyết điểm nghẽn về liên kết nội vùng và mở ra nhiều cơ hội liên kết liên vùng trong phát triển công nghiệp. Sau hợp nhất, các địa phương sẽ có nhiều điều kiện hợp tác để cùng nhau hình thành hành lang công nghiệp liên vùng, kết nối vùng Đông Nam Bộ với các vùng Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải Nam Trung Bộ. Hệ thống hạ tầng giao thông, bao gồm đường cao tốc, đường sắt, cảng biển, sân bay sẽ được đầu tư và khai thác theo hướng tích hợp, liên thông, không còn bị giới hạn bởi địa giới hành chính. Đơn cử, cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài không chỉ phục vụ nhu cầu đi lại nội vùng mà còn trở thành hành lang công nghiệp - logistics kết nối từ cảng biển Cái Mép - Thị Vải đến cửa khẩu biên giới Tây Ninh. Ngoài ra, đơn vị hành chính lớn hơn đồng nghĩa với tiềm lực kinh tế và ngân sách mạnh hơn, các địa phương sẽ thuận lợi trong đầu tư vào các dự án hạ tầng công nghiệp quy mô lớn, triển khai chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đổi mới công nghệ. Đặc biệt, khi bộ máy hành chính được tinh gọn, giảm bớt đầu mối, việc ra quyết định trong quy hoạch và phát triển công nghiệp sẽ nhanh chóng, hiệu quả hơn. Thực tế, cơ chế điều phối vùng sẽ phát huy hiệu quả cao hơn khi số lượng địa phương giảm, trách lợi ích cục bộ, tạo nền tảng để phân công ngành nghề hợp lý, tránh cạnh tranh “phá giá” trong thu hút FDI…
Những thách thức không thể xem nhẹ
Việc sắp xếp đơn vị hành chính đã tạo được không gian mới cho ngành công nghiệp Đông Nam Bộ phát triển, nâng cao khả năng quản trị, điều hành và hoạch định chính sách nhưng cũng có nhiều thách thức đặt ra. Cụ thể:
Thứ nhất, sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các địa phương sau hợp nhất. Trước đây, vùng Đông Nam Bộ nổi bật với những tỉnh, thành phố có tốc độ công nghiệp hóa nhanh, điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu. Đây là những địa phương có nền tảng công nghiệp khá vững, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ cao, hệ thống hạ tầng phát triển đồng bộ, nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngược lại, một số địa phương như Bình Phước, Long An, Tây Ninh ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, công nghiệp chưa thật sự bứt phá, chất lượng nguồn nhân lực hạn chế. Sau hợp nhất, nếu không có chính sách điều tiết và hỗ trợ phát triển cân bằng, nguy cơ hình thành “vùng lõi - vùng ven” ngay trong cùng một đơn vị hành chính sẽ xuất hiện.
Thứ hai, áp lực hạ tầng, nhất là hạ tầng công nghiệp và môi trường là thách thức gay gắt. Việc mở rộng quy mô công nghiệp trên một không gian hành chính lớn đồng nghĩa với sự gia tăng nhanh chóng các khu công nghiệp, khu chế xuất, cảng biển... kéo theo nhu cầu “khổng lồ” về điện, nước, giao thông, logistics, đồng thời gia tăng lượng chất thải, khí thải công nghiệp. Vùng Đông Nam Bộ vốn đã đối mặt với tình trạng kẹt xe, ô nhiễm không khí, nay càng bị đặt trong áp lực lớn hơn khi công nghiệp mở rộng ra toàn vùng. Sự phát triển công nghiệp nếu không gắn với chiến lược môi trường và hạ tầng bền vững sẽ dẫn đến nguy cơ suy thoái môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người dân.
Thứ ba, sức ép từ việc chuyển đổi mô hình công nghiệp theo hướng xanh, tuần hoàn, công nghệ cao. Vùng Đông Nam Bộ sau khi các tỉnh được hợp nhất không thể tập trung phát triển các ngành công nghiệp thâm dụng lao động, thâm dụng năng lượng, mà phải chuyển nhanh sang các ngành công nghiệp giá trị gia tăng cao, ít phát thải, thân thiện môi trường. Đây là xu thế tất yếu của thời đại, nhưng cũng là thách thức lớn bởi vì các ngành công nghiệp này đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ hiện đại, nhân lực trình độ cao.
Tiếp tục phát huy vai trò “đầu tàu”công nghiệp trong kỷ nguyên phát triển mới
Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, với không gian phát triển rộng hơn, đầy tiềm năng, vùng Đông Nam Bộ cần có chiến lược phát triển vùng thích ứng, thông minh, hiệu quả, gắn kết đồng bộ và bền vững với các nhiệm vụ trọng tâm là: Tiếp tục rà soát, hoàn thiện về thể chế; rà soát, cập nhật các quy hoạch liên quan; tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ sở hạ tầng; xây dựng hệ sinh thái công nghiệp - dịch vụ có giá trị gia tăng cao; mở rộng các hình thức huy động nguồn lực đặc biệt là hợp tác công - tư trong đó nguồn lực nhà nước có vai trò dẫn dắt, đồng thời huy động tối đa nguồn lực xã hội; quản trị thông minh và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực tương xứng với yêu cầu phát triển mới; mở rộng thể chế điều phối, liên kết vùng, cơ chế đặc thù gắn với không gian phát triển mới cho hiệu quả và sát với thực tế để thực sự phát huy vai trò dẫn dắt của vùng đối với cả nước và khu vực(7). Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, để khai thác tối đa tiềm năng, biến thách thức thành động lực phát triển và giữ vững vai trò đầu tàu công nghiệp của cả nước, các địa phương trong vùng nên:
Một là, xây dựng và triển khai một quy hoạch không gian công nghiệp tích hợp, tầm nhìn dài hạn. Quy hoạch này cần được thực hiện theo hướng “một vùng - một bản đồ công nghiệp”, thay vì mỗi tỉnh, thành phố tự làm quy hoạch riêng lẻ như trước đây. Trong đó, xác định rõ các cực tăng trưởng công nghiệp, hành lang kinh tế, cụm ngành ưu tiên, gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp với hạ tầng, đô thị, môi trường và xã hội. Chẳng hạn, Thành phố Hồ Chí Minh có thể ưu tiên tập trung phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, R&D và vùng cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu đóng vai trò đầu tàu dầu khí, hóa dầu và logistics hàng hải; tỉnh Đồng Nai phát triển mạnh công nghiệp chế biến gỗ, nông sản, năng lượng tái tạo; tỉnh Tây Ninh trở thành trung tâm logistics biên giới, công nghiệp nhẹ.
Hai là, đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng giúp liên kết vùng phát triển, nhất là hạ tầng giao thông. Sự thành công của không gian công nghiệp mới phụ thuộc rất lớn vào hệ thống hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và số hóa. Nên ưu tiên đầu tư các tuyến cao tốc liên kết như Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, Thành phố Hồ Chí Minh - Chơn Thành, Biên Hòa - Vũng Tàu, cũng như mạng lưới đường sắt đô thị và đường sắt liên vùng kết nối các trung tâm công nghiệp. Bên cạnh đó, nghiên cứu phát triển cảng biển Cái Mép - Thị Vải thành cảng trung chuyển quốc tế, gắn với hệ thống logistics liên tỉnh. Hạ tầng năng lượng tái tạo cũng cần được đẩy mạnh, đặc biệt là điện mặt trời ở tỉnh Tây Ninh, điện gió ngoài khơi ở Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời, đồng bộ triển khai hạ tầng số, bao gồm mạng 5G, trung tâm dữ liệu, nền tảng quản lý công nghiệp thông minh để tạo nền tảng cho chuyển đổi số trong sản xuất.
Ba là, thúc đẩy chuyển đổi sang công nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và công nghệ cao. Đây là định hướng chiến lược lâu dài, vừa đáp ứng cam kết giảm phát thải của Việt Nam, vừa tăng sức cạnh tranh của vùng Đông Nam Bộ trong chuỗi giá trị toàn cầu. Chính sách ưu tiên nên tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, khuyến khích đầu tư vào năng lượng tái tạo, xây dựng các khu công nghiệp sinh thái, thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất (tái sử dụng, tái chế chất thải công nghiệp). Cần có chính sách tín dụng xanh, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp công nghệ cao, công nghiệp ít phát thải. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tiếp nhận công nghệ hiện đại từ các nước tiên tiến, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu.
Bốn là, tăng cường liên kết vùng với các khu vực lân cận. Bên cạnh việc phát huy tối đa lợi thế nội vùng, Vùng Đông Nam Bộ nên mở rộng liên kết với vùng Tây Nguyên (cung cấp nguyên liệu, năng lượng thủy điện), với đồng bằng sông Cửu Long (nguyên liệu nông sản, nguồn lao động), với Duyên hải Nam Trung Bộ (cảng biển, du lịch). Hình thành các hành lang công nghiệp - logistics liên vùng, như hành lang Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau, hay hành lang Thành phố Hồ Chí Minh - Tây Nguyên. Những hành lang này sẽ giúp mở rộng chuỗi giá trị, đa dạng hóa nguồn cung và gia tăng sức mạnh tổng hợp cho toàn bộ nền kinh tế./.
------------------------
(1) Như: Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 1-7-2004, “Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ”; Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 16-8-2004, “Về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010”; Nghị quyết số 53-NQ/TW, ngày 29-8-2005, “Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 10-2-2022, “Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 2-4-2022, “Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 6-10-2022, “Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 7-10-2022, “Về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam bộ”; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 3-11-2022, “Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 23-12-2022, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”…
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 251
(3) Trần Trọng Hanh: “Nhìn lại công tác phân vùng ở Việt Nam”, Tạp chí điện tử Xây dựng, ngày 10-7-2025, https://tapchixaydung.vn/nhin-lai-cong-tac-phan-vung-o-viet-nam-20201224000031438.html
(4) Trần Quốc Phương: “Vùng kinh tế sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh - Dấu hiệu tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 9-9-2025, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-tieu-diem/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/vung-kinh-te-sau-sap-xep-don-vi-hanh-chinh-cap-tinh-dau-hieu-tich-cuc-cho-phat-trien-kinh-te-xa-hoi
(5) Nguyễn Cao Siêng: “Tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng giao thông để ngành công nghiệp vùng Đông Nam Bộ phát triển”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 23-6-2025, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/chi-tiet-tim-kiem/-/2018/1097602/thao-go-%C4%91iem-nghen-ha-tang-giao-thong-%C4%91e-nganh-cong-nghiep--vung-%C4%91ong-nam-bo-phat-trien.aspx
(6) Gia An: “Kinh tế Đông Nam Bộ sau sáp nhập: Động lực mới cho những vùng đất”, Báo Đấu thầu, ngày 1-9-2025, https://baodauthau.vn/kinh-te-dong-nam-bo-sau-sap-nhap-dong-luc-moi-cho-nhung-vung-dat-post184233.html
(7) Thông báo số 417/TB-VPCP, ngày 12-8-2025, của Văn phòng Chính phủ, “Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Hội nghị lần thứ 6 của Hội đồng điều phối vùng Đông Nam Bộ và Hội nghị lần thứ 4 Ban Chỉ đạo triển khai Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội”
Cán bộ “nằm ườn”!  (04/11/2025)
Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ trương xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện ở Việt Nam  (04/11/2025)
Xã Cổ Lũng, tỉnh Thanh Hóa: Bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, vận hành hiệu quả chính quyền địa phương hai cấp  (03/11/2025)
- Xuất bản số góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên mới
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát ở cấp xã trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh tổng hợp quốc gia - Những hàm ý cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại - Giá trị vận dụng trong thời đại mới
- Xây dựng hệ giá trị gia đình Việt Nam thích ứng với bối cảnh hội nhập quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm