Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu

ThS. Đinh Công Hoàng
16:39, ngày 13-04-2012
TCCSĐT - Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu đã và vẫn đang là đề tài nóng, gây nhiều tranh cãi và bất đồng giữa các nhà lãnh đạo, hoạch định chính sách và kinh tế trên thế giới: Đồng Euro, có thực sự đã là sự lựa chọn khôn ngoan cho các nước thành viên EU, và nó có thể tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế tài chính toàn cầu?

1- Những cơ sở nền tảng của đồng Euro

Đồng Euro nổi lên trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế đã trở thành xu thế của thời đại. Trải qua 40 năm hội nhập khu vực, Liên minh châu Âu (EU) đã phát triển từ một khu vực tự do thương mại, liên minh thuế quan chung, thị trường chung, liên minh kinh tế tiền tệ, một đồng tiền chung (Euro) và cuối cùng là một liên minh chính trị cho tất cả các nước thành viên. Liên minh châu Âu thực sự đã đi một chặng đường dài trong việc xây dựng và phát triển để trở thành một liên minh về kinh tế, chính trị như hiện nay.

Lý thuyết Khu vực đồng tiền tối ưu

Đầu tiên, đồng Euro bắt nguồn từ ‎ý tưởng về lý thuyết “Khu vực đồng tiền tối ưu”, được giới thiệu bởi nhà Nobel kinh tế, Robert Mundell vào năm 1961. Lập luận chung cho rằng các cá nhân, tổ chức và nhà nước sẽ nhận được nhiều lợi ích từ việc chia sẻ một đồng tiền chung khi nó được chấp nhận và sử dụng ở mọi nơi mà không cần phải chuyển đổi ngoại tệ khi đi du lịch, cũng như các hoạt động xuất, nhập khẩu. L‎ý thuyết “Khu vực đồng tiền tối ưu” vì thế cố gắng trả lời một câu hỏi hóc búa là: “số lượng đồng tiền tối ưu được sử dụng và lưu thông trong một khu vực là bao nhiêu?”

Từ quan điểm kinh tế học, “Khu vực đồng tiền tối ưu” xảy ra khi chi phí và lợi nhuận chênh lệch gặp nhau, khi một đồng tiền chung được sử dụng bởi các nước thành viên. Nói cách khác, việc nhiều đồng tiền được lưu thông sử dụng trong một khu vực một mặt sẽ mang lại sự đa dạng, nhưng sẽ gây nên hiệu ứng sốc bất cân xứng đối với các nước thành viên tham gia đồng tiền chung. Hiệu ứng sốc nảy sinh là do sự khác biệt về cấu trúc hệ thống và cấu trúc kinh tế - xã hội như hệ thống luật pháp, sự khác nhau về lĩnh vực tài chính, ngân hàng hay công nghiệp, cấu trúc nợ công, đặc điểm quan hệ giữa công đoàn, doanh nghiệp và chính phủ v.v..

Với các ý tưởng đóng góp của nhiều học giả từ thập kỷ 1960 - 1970, nhằm giảm bớt hiệu ứng sốc bất cân xứng giữa các nền kinh tế khi tham gia Khu vực đồng tiền tối ưu, có bảy điều kiện đã được đưa ra cho một khu vực đồng tiền tối ưu. Bốn điều kiện chính về kinh tế bao gồm: yếu tố di chuyển (về vốn và lao động), chu trình kinh doanh, mức độ mở cửa của nền kinh tế và đa dạng hóa sản phẩm hàng hóa. Ba điều kiện về chính trị là: chủ nghĩa liên bang về tiền tệ, hội nhập chính sách và mức độ tương đồng về lạm phát.

Liên minh tiền tệ châu Âu (EMU)

Đồng Euro lần đầu được đưa vào lưu thông như là đồng tiền chung duy nhất cho 11/15 nước thuộc Liên minh châu Âu, vào ngày 1-1-1999. Sự ra đời của nó thực tế bắt nguồn từ Hiệp ước Mastrich vào tháng 11-1993 với sự thành lập của Liên minh tiền tệ châu Âu (EMU). Liên minh tiền tệ châu Âu là giai đoạn cuối cùng của thị trường chung, Liên minh châu Âu dựa vào ba trụ cột chính: đồng Euro (nay là khu vực 17 nước), thị trường chung và hệ thống điều phối chính sách chung.

Năm điều kiện để gia nhập EMU là: đồng tiền của các nước (phải được nằm trong hệ thống cơ chế tỉ giá hối đoái cũ - ERM ít nhất 2 năm), mức lạm phát thấp (không vượt quá 1,5% so với mức trung bình của 3 nền kinh tế có mức lạm phát thấp nhất châu Âu), lãi suất dài hạn (không vượt quá 2% so với mức trung bình của 3 nền kinh tế có mức lãi suất thấp nhất châu Âu), thâm hụt ngân sách thấp (dưới 3% tổng thu nhập quốc dân GDP), và mức nợ công (dưới 60% tổng thu nhập quốc dân GDP).

Khi EMU được thành lập, cùng với các ngân hàng trung ương quốc gia các nước thành viên, một Ngân hàng Trung ương châu Âu mới, gọi tắt là ECB thay mặt các nước thành viên, có nhiệm vụ điều phối các chính sách tiền tệ chung của khu vực. Mục tiêu đầu tiên của ECB là bình ổn giá cả: duy trì mức lạm phát dưới 2% cho cả khu vực kinh tế đồng Euro (điều 15). Một nhiệm vụ quan trọng nữa là bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội và tỉ lệ thất nghiệp ở mức thấp (điều 2) (Baldwin và Wyplosz 2009). Chính sách tài khóa và các chính sách khác vẫn được quản l‎ý bởi các quốc gia thành viên, nhưng phải tuân theo những quy tắc chung của khối.

Mặc dù còn tồn tại những bất lợi ví dụ như quyền tự quyết về chính sách tiền tệ và các chính sách nội bộ khác như các rủi ro về hiệu ứng sốc bất cân xứng, sự thay đổi của các hệ thống tài khóa, hoặc tiếng nói yếu thế của các nền kinh tế qui mô nhỏ hơn. Song, nhìn chung, những lợi ích vẫn là yếu tố thúc đẩy các nước EU sử dụng đồng tiền chung Euro.

Những lợi ích của đồng Euro đã mang lại cho các nước thành viên, đặc biệt trong thương mại quốc tế, là khá đa dạng.

Từ góc độ địa - chính trị

Ở cấp toàn cầu, việc sử dụng đồng tiền chung Euro bởi các nước thành viên Liên minh châu Âu đã giúp nâng cao vị thế tài chính và chính trị của đồng tiền này trong thị trường tài chính quốc tế. Tác giả Mundell (2000) nhận xét rằng, sau khi đồng Euro ra đời, xu thế chủ đạo của nền kinh tế thế giới được định hình bởi ba đồng tiền chính là đồng Đô la (Mỹ), đồng Yên (Nhật) và đồng Euro (Liên minh châu Âu).

Ở cấp khu vực, những điều phối chính sách tiền tệ đã có kết quả tốt hơn cho các nước thành viên. Điều đó có nghĩa là EMU đã đưa ra những chính sách tiền tệ nhằm kết hợp giữa hệ thống tỉ giá hối đoái linh hoạt với tỷ giá hối đoái cố định, đáp ứng nhanh nhạy với những thay đổi của thị trường bên ngoài. Một Ngân hàng Trung ương ECB với nhiều quyền lực sẽ hiệu quả hơn trong việc đạt được mức hội nhập kinh tế cao hơn cho toàn khối, so với hệ thống ERM trước kia.

Ở cấp quốc gia, đồng Euro sẽ giúp thúc đẩy ổn định kinh tế vĩ mô (bởi mức lạm phát thấp) và tăng trưởng kinh tế bền vững, cũng như đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu, tái cấu trúc, giúp các nền kinh tế các quốc gia thành viên hoạt động hiệu quả hơn trong triển vọng dài hạn.

Ở cấp doanh nghiệp, hệ thống lãi suất thấp, có nghĩa là chi phí kinh doanh sẽ thấp hơn, sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thể tìm kiếm nhiều cơ hội phát triển tại các thị trường khác nhau trong Liên minh châu Âu.

Ở cấp độ cá nhân, du lịch cũng như mua sắm tiêu dùng sẽ rẻ hơn và dễ dàng hơn cho các công dân EU. Một nghiên cứu ước tính, chi phí đã giảm 6,25% cho khách du lịch trong khu vực đồng Euro.

Từ góc độ tài chính: có một số lợi ích cơ bản như:

Thứ nhất, đồng Euro đã mang lại sự bình ổn lớn hơn cho hệ thống hối đoái trao đổi ngoại tệ khi đã loại bỏ những rủi ro do sự thay đổi tỉ giá giữa các đồng tiền các quốc gia. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp trong hoạt động ngoại thương trong khu vực đồng Euro.

Thứ hai, đồng Euro loại bỏ nhu cầu chuyển đổi các ngoại tệ giữa các nước thành viên: việc sử dụng một đồng tiền chung Euro đã tiết kiệm 30 tỉ đô la mỗi năm, cho chi phí giao dịch chuyển đổi ngoại tệ khi các ngân hàng quốc tế thường tính mức phí từ 1% đến 2% cho mỗi giao dịch khi chuyển đổi từ một ngoại tệ này sang ngoại tệ khác.

Cuối cùng, đồng Euro mang tới tính minh bạch và tiệm cận về giá cả giữa các nước thành viên Liên minh châu Âu. Khi giá cả sản phẩm và dịch vụ trong khu vực đồng Euro trở nên minh bạch và tiệm cận hơn, chính phủ sẽ ít phải sử dụng những rào cản để hạn chế thương mại. Ngoài ra, nó cũng giúp ngăn chặn các hoạt động mua bán ngoại tệ kiếm lời của giới đầu cơ ngắn hạn. 

Từ góc độ kinh doanh và thương mại quốc tế

Về lý thuyết, rất nhiều nhà làm chính sách và kinh tế học cho rằng, bằng việc sử dụng đồng Euro, một hệ thống tỷ giá hối đoái ổn định sẽ thúc đẩy hội nhập kinh doanh và thương mại quốc tế, giữa các nước thành viên trong khu vực đồng Euro. Điều này chứng minh cho giả thiết của McKinnon rằng các thành viên sẽ “mở hơn” và “giao dịch thương mại nhiều hơn” trong “Khu vực đồng tiền tối ưu”. Lý do đã được đề cập ở trên là: một đồng Euro an toàn hơn không chỉ giảm thiểu chi phí giao dịch, mà còn giúp loại bỏ những rủi ro thay đổi về tỉ giá giữa các đồng tiền.

Theo các kết quả nghiên cứu khác nhau, mức tăng từ 5% tới 20% về thương mại nội khối trong Liên minh châu Âu (so sánh với các nước không phải thành viên) đã được chứng minh bởi nhiều học giả ( Nitsch and Pisu  2008). Nghiên cứu gần đây của nhóm học giả (Badwin, DiNino, Fontagne, De Santis, and Taglioni (2008)) cho Ủy ban châu Âu, lại tập trung giải thích đồng Euro đã giúp tăng trưởng về thương mại. Họ thấy rằng việc tăng trưởng thương mại này chủ yếu là do có ngày càng nhiều hơn số lượng các doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu được trao đổi thương mại giữa các nước thành viên. Do loại bỏ được các chi phí cố định và các chi phí khác nên đồng Euro đã giúp cho “những doanh nghiệp chưa từng xuất khẩu đã bắt đầu tìm kiếm được những cơ hội xuất khẩu” và “những doanh nghiệp đã xuất khẩu bắt đầu mở rộng quy mô cũng như danh mục sản phẩm của mình ra thị trường bên ngoài”.

Một số nghiên cứu khác lại cho rằng, nền kinh tế của các quốc gia khu vực đồng Euro thực sự đã được hội nhập sâu rộng từ trước khi đồng Euro ra đời, vì vậy sẽ có rất ít tác động của đồng tiền này vào các hoạt động thương mại của các nước thành viên ban đầu và mức tăng trưởng thương mại thực chất chỉ là sự tiếp nối xu thế phát triển trong dài hạn, kết quả của một loạt các chính sách hội nhập kinh tế mạnh mẽ của EMU.

Đối với các hình thức FDI (đầu tư trực tiếp) và M&A (liên kết và sát nhập), đồng Euro cũng giúp hấp dẫn đầu tư trực tiếp và mở rộng sản xuất cả trong nội khối cũng như bên ngoài Liên minh châu Âu. Về con số, tác động về FDI bởi đồng Euro không hoàn toàn rõ ràng, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ‎ý nó có tác động tích cực, và ước đoán mức tăng từ 15% tới 200% cho các dòng đầu tư nội khối giữa các nước thành viên, và mức tăng từ 7,5% tới 100% cho các dòng đầu tư từ bên ngoài vào Liên minh châu Âu. Điều đó có nghĩa là đồng Euro “hấp thụ” rất tốt dòng đầu tư từ bên ngoài, tuy nhiên tác động này chỉ bằng một nửa so với các dòng đầu tư trong nội khối giữa các nước thành viên. Ngoài ra, tác động của đồng Euro vào FDI tại lĩnh vực sản xuất lớn hơn rất nhiều so với lĩnh vực dịch vụ, l‎ý do có thể do các rào cản bảo hộ áp đặt cho ngành dịch vụ lớn hơn so với hoạt động sản xuất. Cuối cùng, các tác giả cũng cho rằng đồng Euro đã thúc đẩy các hoạt động M&A (liên kết và sát nhập) bởi cả các doanh nghiệp có quy mô lớn cũng như vừa và nhỏ.

Lợi ích với các nước trên thế giới

Đồng Euro không chỉ mang lại lợi ích cho các nước thành viên EU mà các quốc gia và khu vực khác trên thế giới cũng được hưởng lợi nhiều từ sự ra đời của nó.

Ở mức độ quốc tế, sự ra đời của đồng Euro đã giảm thiểu rủi ro về nguy cơ đô la hóa nền kinh tế toàn cầu, bởi sự phụ thuộc thái quá vào đồng đô la Mỹ và kinh tế Mỹ trong giao dịch thương mại và tài chính (Dinh, 2004). Nó giúp đa dạng hóa và đã trở thành đồng tiền dự trữ quan trọng trong giao dịch thương mại quốc tế của nhiều quốc gia trên thế giới.

Ở mức độ khu vực, nằm ở vị trí địa chính trị quan trọng trên bản đồ thế giới, đồng Euro có tầm ảnh hưởng lớn trong việc thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc tế tại các khu vực như: Trung và Đông Âu (những nước trước kia sử dụng đồng Mark Đức), châu Phi (những nước chịu ảnh hưởng bởi đồng Franc Pháp), khu vực Trung Đông (những nước có vị trí địa l‎ý và quan hệ kinh doanh truyền thống với châu Âu) và châu Á (bởi rất nhiều các hoạt động trao đổi thương mại như Diễn đàn kinh tế Á - Âu ASEM).

Với các nước khác, khu vực đồng Euro, do dân số và thị trường rộng lớn, sử dụng một đồng tiền chung sẽ mang lại những cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp xuất khẩu tìm kiếm cơ hội hợp tác cùng phát triển.

2- Đồng Euro và cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu

Cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra trầm trọng ở châu Âu hiện nay (tại Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ireland và Ý) có rất nhiều nguyên nhân, cả bên trong lẫn bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp. Nhưng phần lớn đều có liên quan đến đồng Euro và những vấn đề của hệ thống tài chính ngân hàng của châu Âu. Đầu tiên, là việc ECB đã đưa ra chính sách lãi suất thấp, điều đó đã khuyến khích các chính phủ và doanh nghiệp vay tiền các ngân hàng một cách dễ dàng để phục vụ cho các hoạt động đầu tư, sản xuất, chi tiêu công. Điều này cuối cùng sẽ dẫn đến việc chi tiêu vượt mức và làm tăng nợ công. Thứ hai, giá trị đồng Euro trở nên đắt lên tương đối so với đồng đô la Mỹ bởi ít nhất có ba l‎ý do: một là chiến lược đồng đô la yếu của Mỹ, hai là chính sách tiền tệ không linh hoạt của ECB (để đạt mục tiêu lạm phát thấp). Thứ ba, là hoạt động làm méo mó thị trường của giới đầu cơ ngoại tệ. Thủ tướng Hy Lạp, Tây Ban Nha và đặc biệt là bà A. Markel, Thủ tướng Đức cho rằng, chính các quỹ và giới đầu cơ đã lợi dụng tình hình và làm xấu hơn cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp và các quốc gia khác khi bán khống đồng Euro để kiếm lời (BusinessWeek, 2011). Việc đồng Euro “đắt lên” như vậy đã làm cho sản phẩm xuất khẩu khó cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cũng như thúc đẩy nhập khẩu hàng hóa vào nội địa đã làm tăng chi tiêu công. Mặt khác, do các nước quản lý kinh tế yếu kém, chi nhiều hơn thu, thiếu minh bạch, làm ít hưởng nhiều “vung tay quá trán”, tô hồng thổi phồng các báo cáo, biến nợ xấu của tư nhân thành nợ xấu của nhà nước…

Cuộc khủng hoảng 2008 bắt nguồn từ khu vực tư nhân, đầu tiên là các doanh nghiệp không tạo ra doanh thu và thanh toán được các khoản nợ đến hạn. Doanh nghiệp bắt đầu cầu cứu chính phủ, giãn nợ, đảo nợ hay mua lại nợ tư nhân, khiến nợ tư nhân chuyển thành nợ công, cuối cùng dẫn đến tình trạng nợ công ngày càng cao.

Một nguyên nhân xa hơn nữa của các khoản nợ là bong bóng tài chính được bắt đầu thổi lên từ giai đoạn 2000-2007, thời kì nền kinh tế toàn cầu khởi sắc đã tạo ra một nguồn thặng dư tài chính khổng lồ (36.000 tỉ đô la năm 2000 tới 70.000 tỉ đô la năm 2007). Các nhà đầu tư và tổ chức bắt đầu tìm kiếm những thị trường mang lại lợi nhuận cao hơn và tạo ra những bong bóng ở phạm vi toàn cầu. Khi những bong bóng này bắt đầu nổ, giá trị tài sản giảm và gánh nặng nợ nần được đặt lên vai doanh nghiệp và chính phủ cùng với hệ thống tài chính ngân hàng (với Ireland là bóng bóng thị trường bất động sản, Hy Lạp là trái phiếu chính phủ, Iceland là sự phát triển quá nóng của hệ thông ngân hàng…).

Ngoài ra, các nguyên nhân khác có thể kể đến là: toàn cầu hóa tài chính ngày càng sâu rộng và tính lan tỏa nhanh, những điều kiện cho vay tín dụng dễ dàng trong giai đoạn 2002-2008 của các nước Eurozone, sự mất cân bằng về thương mại quốc tế, bong bóng bất động sản bị thổi phồng, tăng trưởng chậm của nền kinh tế toàn cầu, những quyết định chính sách tài khóa không hợp l‎ý trong thu, chi của các quốc gia v.v..

Ngày 9-12-2011, Liên minh châu Âu đạt được sự đồng thuận (trừ Anh quốc) về thỏa thuận “tăng cường kỷ luật ngân sách”, trong đó, nhấn đến 2 biện pháp là thành lập “cơ chế ổn định châu Âu (ESM)” tiến hành sớm hơn một năm, kể từ tháng 7-2012. Thứ hai là “Quỹ bình ổn tài chính châu Âu (EFSF)” được gia hạn đến giữa năm 2013.

Trước đó Liên minh châu Âu đã đưa ra các giải pháp cả ngắn hạn và dài hạn như sau:

Về ngắn hạn:

Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu (EFSF): ngày 9-5-2010, 27 nước châu Âu đã đồng ý thành lập Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu, một công cụ tài chính hợp pháp giúp bảo đảm ổn định tài chính tại châu Âu.

Cơ chế Bình ổn tài chính châu Âu (EFSM): ngày 5-1-2011, Liên minh châu Âu thành lập Cơ chế Bình ổn tài chính châu Âu, đây là một quỹ khẩn cấp lấy vốn từ các thị trường tài chính và ngân sách của Liên minh châu Âu dưới sự bảo đảm bởi Ủy ban châu Âu.

Hiệp ước Brussels: ngày 26-10-2011, lãnh đạo 17 nước đã họp tại Brussel và đồng ý xóa 50% nợ cho Hy Lạp bằng quỹ cứu trợ do Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu thực hiện.

Sự can thiệp của ECB: ECB đã thực hiện một số những biện pháp nhằm hạn chế tính bất ổn và nâng cao tính thanh khoản của thị trường tài chính. Đầu tiên, ECB bắt đầu mua lại các khoản nợ của chính phủ và tư nhân, lên tới 200 tỉ Euro cho đến cuối tháng 10-2011. Tiếp theo, ECB công bố kế hoạch phân phối các hoạt động tái cung cấp vốn dài hạn. Thứ ba, ECB khởi động lại hợp đồng hoán đổi với đồng đô la dưới sự hỗ trợ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.

Sẽ tiến hành cải tổ và tái cơ cấu: đối với hệ thống tài chính ngân hàng, quản lý nhà nước, tái cấu trúc nền kinh tế, khu vực đầu tư công, tăng tính cạnh tranh tại các khu vực kinh tế yếu kém trong một môi trường minh bạch và công bằng hơn…

Về dài hạn:

Liên minh tài khóa châu Âu (European fiscal union): Đức, Pháp và các nước đã tiến thêm một bước nữa trong việc thiết lập một Liên minh tài khóa trong khu vực Eurozone, với những cơ chế kiểm soát tài khóa chặt chẽ và trừng phạt nghiêm với các thành viên trong hiệp ước của Liên minh châu Âu. Anh là nước không đồng ý tham gia Liên minh này.

Trái phiếu châu Âu (Eurobonds): ngày 21-10-2011, Ủy ban châu Âu đề đạt phát hành Trái phiếu châu Âu cho 17 nước khu vực Eurozone, đây là một cách hiệu quả để giải quyết khủng hoảng hiện nay. Tuy nhiên, theo ông Jose Manuel Barroso, kế hoạch này phải kèm theo hệ thống giám sát tài khóa chặt chẽ và điều phối chính sách kinh tế để tránh những hậu quả do các quyết định chính trị gây tổn hại những nước có ít tiếng nói cũng như bảo đảm nguồn tài chính công bền vững.

Cơ chế bình ổn châu Âu (European Stablity Mechanism): là một chương trình quỹ giải cứu dài hạn tiếp theo Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu và Cơ chế bình ổn tài chính châu Âu vào giữa năm 2012.

Quỹ Tiền tệ châu Âu (European monetary fund): ngày 20-10-2011, là một sáng kiến chuyển đổi từ Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu, trong đó có thể cung cấp cho các chính phủ trái phiếu châu Âu có lãi suất cố định ở mức thấp hơn một chút so với mức tăng trưởng kinh tế trong trung hạn (BBC 2011)

3- Kết luận

Đồng Euro đang trải qua thời khắc khó khăn nhất kể từ khi ra đời, trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng nợ công và suy thoái của nền kinh tế toàn cầu đang diễn ra căng thẳng và khó lường như hiện nay. Tuy nhiên, nhìn một cách khác, đây cũng là một cơ hội để thể nghiệm tính ưu việt cũng như quyết tâm chính trị được theo đuổi từ rất lâu của các nhà lãnh đạo châu Âu. Việc cho ra đời Quỹ Bình ổn châu Âu, đề cao vai trò của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), tái cấu trúc các nền kinh tế yếu kém, kiểm soát chặt chẽ hệ thống tài chính ngân hàng và chi tiêu của các nước thành viên, sẽ là những bước đi đầu tiên và cần thiết giúp châu Âu vượt qua khó khăn, vẫn giữ vững vai trò của đồng Euro và Eurozone tiếp tục sẽ là khu vực quan trọng của nền kinh tế châu Âu và thế giới./.