Thường vụ Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Xuất bản và Luật Luật sư
21:07, ngày 12-04-2012
Sáng 12-4-2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Xuất bản (sửa đổi). Tại Phiên họp, Bộ Thông tin và Truyền thông đã báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội Tờ trình về Dự án Luật Xuất bản, in, phát hành. Chiều cùng ngày, Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư.
Theo đó, Luật Xuất bản năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản năm 2008 đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc, tạo được bước tiến mới trong hoạt động xuất bản, đáp ứng nhu cầu về xuất bản của xã hội. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều quy định trong Luật Xuất bản đã bộc lộ hạn chế, bất cập, chưa theo kịp thực tiễn và thiếu đồng bộ với một số Luật có liên quan như: quy định đối tượng thành lập nhà xuất bản, xuất bản trên mạng Internet, chính sách hỗ trợ cho hoạt động xuất bản…
Tại phiên họp sáng nay, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về một số vấn đề quan trọng liên quan đến Luật Xuất bản (sửa đổi) như: thống nhất tên gọi Luật Xuất bản (sửa đổi), quản lý hoạt động in; liên kết trong hoạt động xuất bản.
Về vấn đề thống nhất tên gọi Luật Xuất bản (sửa đổi), Dự thảo Luật đề nghị đổi tên Luật Xuất bản (sửa đổi) thành Luật Xuất bản, in, phát hành. Tuy nhiên, theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý, Điều 1, Luật Xuất bản hiện hành đã quy định, hoạt động xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm. Khái niệm xuất bản đã bao hàm cả việc tổ chức và biên tập bản thảo lẫn việc in và phát hành xuất bản phẩm. Hoạt động xuất bản phải bao gồm ba khâu cấu thành, có quan hệ mật thiết với nhau là xuất bản, in và phát hành, do vậy, đề nghị giữ nguyên tên gọi là Luật Xuất bản (sửa đổi).
Xung quanh nội dung công tác quản lý hoạt động in, nhiều đại biểu chỉ rõ, hiện nay trong số 1.500 cơ sở in thì mới chỉ có khoảng 400 cơ sở in chịu sự điều chỉnh của Luật Xuất bản. Trên 1.100 cơ sở in còn lại không bị quản lý bằng pháp luật chuyên ngành in, điều này đã tạo kẽ hở dẫn đến việc quản lý 1.100 cơ sở in nói trên gần như bị buông lỏng. Do đó, để khắc phục những hạn chế, bất cập, phát sinh trong thực tiễn, đồng thời tạo điều kiện cho hoạt động in lành mạnh, đa số các đại biểu nhất trí nên sửa đổi các quy định của Luật Xuất bản hiện hành về quản lý cơ sở in.
Tuy nhiên, theo Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội Nguyễn Văn Hiện, chỉ nên điều chỉnh những vấn đề liên quan đến hoạt động xuất bản, bao gồm cả việc quản lý các cơ sở in để giám sát hoạt động in, xuất bản phẩm cũng như phòng chống việc in xuất bản phẩm giả. Do vậy, Luật không nên điều chỉnh toàn diện hoạt động in các sản phẩm không phải xuất bản phẩm.
Vấn đề cấp giấy phép hoạt động in, cũng còn có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến đồng ý với quy định trong Dự thảo Luật theo hướng coi hoạt động in là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và phải được cấp giấy phép hoạt động. Qua thảo luận, đa số các ý kiến tại phiên họp cho rằng, theo tinh thần cải cách thủ tục hành chính và tạo điều kiện phát triển ngành in như một ngành kinh tế-kỹ thuật, cần quy định in là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện, không cần cấp phép hoạt động. Tuy nhiên, theo Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai các cơ sở in sau khi được thành lập cần làm thủ tục đăng ký hoạt động với cơ quan thẩm quyền và tuân thủ các điều kiện do pháp luật quy định trong quá trình hoạt động và được giám sát bằng cơ chế, kiểm tra, xử lý vi phạm.
Nội dung liên kết trong hoạt động xuất bản cũng có nhiều ý kiến còn khác nhau, theo quy định của Luật Xuất bản hiện hành, khâu xuất bản chủ yếu thuộc trách nhiệm của Nhà xuất bản. Nhưng thực tế, đối tác liên kết lại thực hiện hầu như toàn bộ khâu này, từ tổ chức đến biên tập bản thảo, Nhà xuất bản chỉ quyết định xuất bản, do đó thiếu sự thẩm định nghiêm túc. Trong khi đó, Luật quy định trách nhiệm của đối tác liên kết chưa cụ thể và khó phân định khi xử lý vi phạm.
Do vậy, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Phùng Quốc Hiển cho rằng để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân liên kết trong xuất bản, cùng với việc chấn chỉnh và tiếp tục phát triển hình thức liên kết xuất bản như hiện nay cần công nhận và luật hóa một hình thức liên kết xuất bản mới, trong đó đối tác liên kết được thực hiện toàn bộ các công đoạn xuất bản phẩm và chịu trách nhiệm về nội dung cũng như chất lượng xuất bản phẩm. Nhà xuất bản chịu trách nhiệm thẩm định nội dung tư tưởng của xuất bản phẩm và quyết định xuất bản.
Kết luận nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp thu các ý kiến đóng góp tại phiên họp để hoàn chỉnh nội dung, trình Quốc hội.
*** Tiếp tục chương trình phiên họp, chiều 12-4-2012, Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư.
Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư nêu rõ: qua tổng kết thực tiễn 5 năm thi hành, Luật Luật sư đã đi vào cuộc sống và mang lại nhiều kết quả. Về cơ bản, các quy định Luật Luật sư là đúng hướng và đa phần vẫn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, có nhiều quy định tiếp cận với thông lệ hành nghề luật sư quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, tổ chức và hoạt động luật sư ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế.
Chất lượng của đội ngũ luật sư tuy đã được nâng lên một bước, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp; số luật sư có trình độ đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế chỉ chiếm khoảng 1,2%. Công tác quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư ở một số địa phương còn lỏng lẻo, hiệu lực, hiệu quả chưa cao, có sự trùng dẫm nhất định giữa quản lý nhà nước với chế độ tự quản của tổ chức xã hội- nghề nghiệp của luật sư… Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến các hạn chế, bất cập trên là do một số quy định của Luật Luật sư đã không còn phù hợp với thực tiễn.
Dự án Luật dự kiến sửa đổi 28 điều, bổ sung 2 điều và bỏ 3 điều trên tổng số 94 điều của Luật Luật sư hiện hành tập trung vào 4 nhóm quy định. Nhóm 1: Tiêu chuẩn trở thành luật sư, điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư; nghĩa vụ của luật sư, trách nhiệm của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp của luật sư. Nhóm 2: Thủ tục tham gia tố tụng của luật sư; thủ tục hành chính trong việc cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, gia nhập Đoàn luật sư, cấp Thẻ luật sư; quyền của luật sư trong hành nghề; mở rộng đối tượng được hành nghề luật sư. Nhóm 3: Địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư Việt Nam, phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong quản lý luật sư và hành nghề luật sư. Nhóm 4: Điều kiện và phạm vi hành nghề của luật sư nước ngoài, tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam.
Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật của Ủy ban Tư pháp tán thành với Tờ trình của Chính phủ về sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư. Các nội dung được sửa đổi, bổ sung là những vấn đề cấp thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện chế định luật sư theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển cả về số lượng và chất lượng đội ngũ luật sư Việt Nam.
Bàn về quy định cho phép viên chức làm công tác giảng dạy pháp luật được hành nghề luật sư tại điểm a, khoản 4, Điều 17 dự án Luật có những quan điểm khác nhau. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu xem xét lại quy định này vì quy định dự dự thảo sẽ tạo ra ngoại lệ không phù hợp với định hướng xây dựng đội ngũ luật sư chuyên nghiệp. Đa số ý kiến của Thường trực Ủy ban Tư pháp cho rằng số viên chức làm công tác giảng dạy pháp luật là đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn pháp lý cao, nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng của họ là đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống các cơ quan tư pháp và toàn xã hội.
Việc hành nghề luật sư thường gắn liền với hoạt động tố tụng, trong khi đó hoạt động giảng dạy phải tuân thủ quy định chặt chẽ về thời gian. Do đó, việc cho phép nhóm đối tượng này được kiêm nhiệm hoạt động cả hai lĩnh vực sẽ khó bảo đảm chất lượng công việc. Không đồng tình với lập luận này, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính- Ngân sách Phùng Quốc Hiển lý giải lực lượng giảng viên có kết hoạch và thời gian giảng dạy cụ thể, chính vì thế họ có thể sắp xếp được công việc để tham gia hành nghề luật sư. Hơn thế nữa, đại biểu cho rằng giảng viên rất cần thực tiễn và việc tham gia bào chữa cho họ kinh nhiệm để giảng dạy tốt hơn.
Về quy định các trường hợp bị xử lý hình sự không được hành nghề luật sư, Dự thảo Luật sửa đổi theo hướng không cấm người phạm tội nghiêm trọng trong trường hợp đã được xóa án tích được hành nghề luật sư, nhằm tạo cơ hội cho những người này hướng thiện và có cơ hội hành nghề. Thảo luận nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng tán thành với những lập luận của Thường trực Uỷ ban Tư pháp cho rằng, với tính đặc thù của hoạt động luật sư, ngoài những đòi hỏi cao về kiến thức chuyên môn, thì tư cách đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp và uy tín của luật sư trong đời sống xã hội là yếu tố rất quan trọng. Do vậy, việc quy định cấm hành nghề luật sư đối với người đã từng phạm tội trong những trường hợp nhất định là cần thiết, tạo cơ sở để hình thành một đội ngũ luật sư vừa hồng vừa chuyên, góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ công lý.
Đối với thẩm quyền cấp Thẻ luật sư, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng và nhiều ý kiến tán thành với quan điểm giao cho Liên đoàn luật sư Việt Nam cấp Thẻ nhằm bảo đảm thống nhất trong quản lý luật sư và hành nghề luật sư, phù hợp với vai trò tự quản của tổ chức này như quy định hiện hành.
Tại phiên họp, các đại biểu đã cho ý kiến về các nội dung: điều kiện được miễn đào tạo nghề; miễn, giảm tập sự nghề luật sư; quy định cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư; mở rộng diện đối tượng được yêu cầu luật sư bào chữa…/.
Điện cảm ơn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng  (12/04/2012)
Việt Nam – Cuba ra Tuyên bố chung  (12/04/2012)
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Nhà máy thủy điện Sơn La và các điểm tái định cư tại Mường La - Sơn La  (12/04/2012)
Làm sâu sắc hơn nữa tình đoàn kết Việt Nam - Cuba  (12/04/2012)
Triển khai thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc  (12/04/2012)
Quan hệ với Cuba là nguồn động viên cho Việt Nam  (12/04/2012)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm