Nghiên cứu cơ bản và sứ mệnh phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn chất lượng cao
TCCS - Nghiên cứu cơ bản có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển nền tảng tri thức khoa học về con người, xã hội, văn hóa và thể chế. Thông qua nghiên cứu cơ bản, chúng ta làm rõ bản chất các hiện tượng xã hội, xây dựng hệ thống khái niệm, lý thuyết và phương pháp luận - đây chính là nền móng cho toàn bộ hoạt động nghiên cứu ứng dụng, hoạch định chính sách và quản trị phát triển.
Thứ nhất, về vai trò của nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn.
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, nhu cầu về bằng chứng khoa học, phân tích chính sách dựa trên dữ liệu và hiểu biết sâu sắc về xã hội, văn hóa và con người ngày càng trở nên cấp thiết. Nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn chính là cơ sở khoa học quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện xu thế, dự báo rủi ro và đưa ra các quyết sách phù hợp, hiệu quả và bền vững. Trong nhiều trường hợp, kết quả nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm, phân tích định tính, định lượng, giúp thiết kế các chương trình phát triển con người, cải cách thể chế, chuyển đổi số, văn hóa số, góp phần quan trọng để các cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách vừa có cơ sở khoa học, đồng thời bám sát thực tiễn trong quá trình tham mưu, xây dựng chính sách. Thời gian qua, hiệu quả đã được thể hiện khá rõ nét trong lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, an sinh, phát triển bền vững…
Bên cạnh đó, nghiên cứu cơ bản còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực học thuật và phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu. Đây là môi trường đào tạo và rèn luyện thế hệ nhà khoa học mới, giúp hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, các trung tâm nghiên cứu liên ngành, đồng thời nâng cao chuẩn mực học thuật và đạo đức nghiên cứu trong toàn hệ thống khoa học xã hội và nhân văn.
Không chỉ phục vụ phát triển trong nước, nghiên cứu cơ bản còn góp phần đưa tri thức và kinh nghiệm của Việt Nam ra thế giới, thể hiện ở các nghiên cứu về Việt Nam, từ lịch sử, văn hóa, xã hội đến chính sách công,…; từ phản biện và bổ sung lý thuyết quốc tế dưới góc nhìn Việt Nam và châu Á đến trực tiếp và gián tiếp tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, nhất là các vấn đề mang tính thời đại như phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, di cư, bất bình đẳng, biến động xã hội,… Những đóng góp này đã và đang nâng cao vị thế học thuật của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, từng bước khẳng định vai trò, vị thế, năng lực giải quyết các vấn đề toàn cầu của Việt Nam.
Thứ hai, về tài trợ nghiên cứu cơ bản của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia NAFOSTED trong khoa học xã hội và nhân văn.
Trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2025, NAFOSTED đã tài trợ cho 749 đề tài nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, trong đó, tập trung vào khu vực học và quốc tế học, tâm lý, giáo dục, triết học, chính trị học, xã hội học, kinh tế học, sử học, luật học,… Đến nay, 478 đề tài đã nghiệm thu. Thông qua các đề tài này, nhiều kết quả khoa học có giá trị đã được công bố cả trong nước và quốc tế. Trong 15 năm, đã có 441 bài báo quốc tế, hơn 1.500 bài báo quốc gia được công bố. Các đề tài cũng đã đào tạo khoảng 300 tiến sĩ và khoảng 500 thạc sĩ, góp phần hình thành lực lượng nghiên cứu kế cận cho đất nước.
Số lượng đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn được NAFOSTED tài trợ giai đoạn 2011 - 2025

Nguồn: NAFOSTED
Riêng trong giai đoạn 2024 - 2025, Quỹ đã nỗ lực đổi mới phương thức tổ chức tài trợ theo hướng minh bạch, cạnh tranh và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Việc áp dụng hệ thống quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ trực tuyến theo thời gian thực đã giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho các nhà khoa học trong quá trình triển khai đề tài.
Tuy nhiên, thời gian qua, công tác nghiên cứu vẫn còn những thách thức, như sự chưa đồng đều về năng lực nghiên cứu giữa các cơ sở, hạn chế về công bố quốc tế và khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học với thực tiễn hoạch định chính sách... Đây là những vấn đề mà Quỹ xác định cần tiếp tục tập trung giải quyết trong thời gian tới.
Thứ ba, về sứ mệnh và vai trò của NAFOSTED phát triển nguồn lực khoa học và công nghệ.
Với vai trò là quỹ khoa học quốc gia, NAFOSTED không chỉ thực hiện chức năng cấp kinh phí, mà còn là một thiết chế chiến lược của Nhà nước trong việc phát triển nguồn lực khoa học và công nghệ. Quỹ có trách nhiệm tạo dựng môi trường nghiên cứu minh bạch, công bằng và cạnh tranh, bảo đảm thu hút nhân tài trong và ngoài nước. Phát triển đội ngũ nhà khoa học chất lượng cao.
Trong thời gian gần đây, Quỹ đã triển khai nhiều hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả tài trợ. Các đánh giá khoa học dần được chuẩn hóa theo chuẩn mực quốc tế (công bố ISI/Scopus, uy tín học thuật, tính minh bạch), các quyết định tài trợ được dựa trên đánh giá khoa học độc lập và khách quan… Việc xây dựng và ban hành các quy định mới theo tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025; việc phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai các thông tư hướng dẫn về quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ và hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học được triển khai nhanh, hiệu quả.
Thứ tư, về định hướng chính sách tài trợ cho khoa học xã hội và nhân văn và một số hoạt động nổi bật trong thời gian tới.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, NAFOSTED xác định:
Một là, tiếp tục ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu cơ bản chất lượng cao, coi đây là nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh tài trợ nghiên cứu cơ bản chất lượng cao; tăng số lượng và chất lượng đề tài nghiên cứu cơ bản lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Quỹ cũng đặc biệt chú trọng hỗ trợ các nhà khoa học trẻ, các nhóm nghiên cứu mạnh và các hoạt động nâng cao năng lực nghiên cứu, như hỗ trợ nghiên cứu sinh, thực tập nghiên cứu ngắn hạn ở nước ngoài, tổ chức hội thảo khoa học, kết nối mạng lưới nghiên cứu trong và ngoài nước. Đây là những hoạt động rất thiết thực nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.
Thúc đẩy hội nhập quốc tế và hợp tác nghiên cứu được coi trọng với định hướng khuyến khích các hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ của các tổ chức, cá nhân trong nước với nước ngoài thông qua tiếp tục mở rộng các chương trình tài trợ song phương, đa phương, đồng tài trợ đề tài và trao đổi học giả. Đây là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao năng lực hội nhập và vị thế quốc tế của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn được NAFOSTED tài trợ năm 2025

Nguồn: NAFOSTED
Hai là, khuyến khích nghiên cứu liên ngành và đổi mới sáng tạo, gắn khoa học xã hội và nhân văn với các lĩnh vực công nghệ mới, như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số, nhằm mở rộng không gian nghiên cứu và tăng cường giá trị ứng dụng của tri thức khoa học.
Ba là, đáp ứng yêu cầu bối cảnh chuyển đổi số, Quỹ tập trung đẩy mạnh chuyển đổi số, giảm thủ tục hành chính theo hướng lấy nhà khoa học làm trung tâm, lấy kết quả đầu ra làm thước đo. Cụ thể, Quỹ số hóa toàn diện quy trình quản lý nhiệm vụ khoa học, từ tiếp nhận hồ sơ, xét chọn, ký hợp đồng, theo dõi thực hiện đến nghiệm thu và quản lý sản phẩm nghiên cứu, bảo đảm toàn bộ quy trình được thực hiện trực tuyến, liên thông, hạn chế tối đa hồ sơ giấy.
Quỹ đã từng bước xây dựng hệ sinh thái dữ liệu khoa học số về nhiệm vụ và sản phẩm nghiên cứu do Quỹ tài trợ. Công khai các kết quả nghiên cứu và kết nối để chia sẻ tri thức, phục vụ hoạch định chính sách khoa học. Quá trình này được thực hiện bảo đảm an toàn thông tin và quyền sở hữu trí tuệ. Quỹ cũng đã bước đầu xây dựng, chuẩn hóa dữ liệu nhà khoa học và tổ chức chủ trì theo nguyên tắc khai một lần - sử dụng nhiều lần. Đẩy mạnh ứng dụng chữ ký số, hợp đồng điện tử và thanh toán, quyết toán điện tử, kết nối đồng bộ với hệ thống tài chính - kho bạc nhằm rút ngắn thời gian giải ngân, nâng cao tính minh bạch và khả năng, hiệu quả giám sát.
Phương thức đánh giá, xét chọn nhiệm vụ khoa học được đổi mới trên cơ sở ứng dụng nền tảng số. Quá trình phản biện và họp hội đồng được tổ chức trực tuyến, kết hợp với trực tiếp vừa góp phần tuyển chọn được các thành viên hội đồng có chất lượng cao, vừa giảm chi phí và tránh lãng phí thời gian cho cả cơ quan quản lý khoa học và nhà khoa học.
Một trong những kết quả quan trọng thời gian qua là NAFOSTED đã bước đầu chuyển từ quản lý theo thủ tục, quy trình sang quản lý theo kết quả và sản phẩm đầu ra của nhà khoa học. Quyền tự chủ của chủ nhiệm đề tài được phát huy trong tổ chức thực hiện và sử dụng kinh phí.
Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, xác định đầu tư cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn chính là đầu tư cho năng lực tư duy chiến lược, cho sự phát triển con người và cho nền tảng văn hóa - xã hội bền vững của đất nước. Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia NAFOSTED đã và đang đồng hành cùng cộng đồng khoa học, góp phần xây dựng năng lực tự chủ cho nền khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam, đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước, gia tăng vị thế, vai trò đất nước trên trường quốc tế./.
Ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại: Từ kinh nghiệm quốc tế đến định hướng chính sách của Việt Nam  (09/03/2026)
Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam và góc nhìn từ lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người  (04/03/2026)
Phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng  (04/03/2026)
Phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng  (04/03/2026)
- Chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài của Trung Quốc thời kỳ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình
- Nghiên cứu cơ bản và sứ mệnh phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn chất lượng cao
- Ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại: Từ kinh nghiệm quốc tế đến định hướng chính sách của Việt Nam
- Phát huy vai trò của báo chí trong truyền thông về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, góp phần nâng cao tỷ lệ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý
- Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam và góc nhìn từ lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm