Luật Thuế bảo vệ môi trường - cơ sở pháp lý quan trọng của phát triển bền vững
TCCSĐT - Tại kỳ họp Quốc hội lần này, việc trình và thảo luận dự án Luật Thuế bảo vệ môi trường đã được nhiều đại biểu Quốc hội hoan nghênh và đặc biệt quan tâm. Mặc dù còn không ít ý kiến khác nhau về một số nội dung của dự án Luật, nhưng hầu hết các đại biểu đều khẳng định sự cần thiết phải ban hành Luật.
Yêu cầu cấp thiết của việc xây dựng và ban hành Luật
Xu hướng phát triển kinh tế bền vững, ít gây ô nhiễm môi trường ngày càng được thế giới quan tâm và trở thành một trong những ưu tiên của nhiều nước.
Ở nước ta trong những năm gần đây, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và phát triển đô thị đã làm gia tăng phát thải nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, số lượng chất thải rắn trong sinh hoạt và trong công nghiệp, phát thải các chất gây ô nhiễm không khí từ cả quá trình sản xuất công nghiệp và sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm. Hiện trạng môi trường xuống cấp là thách thức nghiêm trọng đối với phát triển bền vững của nước ta trong thời gian tới, nếu như không kịp thời có các giải pháp giảm dần lượng phát thải chất độc hại.
Nước ta chưa có một sắc thuế riêng về bảo vệ môi trường để thu vào hàng hoá khi sử dụng gây ô nhiễm môi trường, tuy Chính phủ đã ban hành và thực thi nhiều biện pháp tài chính nhằm khuyến khích nhà đầu tư tham gia trực tiếp các hoạt động xử lý ô nhiễm môi trường, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài nguyên và huy động một phần đóng góp của đối tượng xả thải vào việc khôi phục môi trường. Các biện pháp này được thực hiện thông qua một số loại thuế như Thuế Đất, Thuế Sử dụng đất nông nghiệp, Thuế Tài nguyên, Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Thuế Thu nhập doanh nghiệp và các khoản phí, lệ phí thu đối với các hoạt động liên quan tới môi trường như: phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, khai thác khoáng sản, chất thải rắn.
Tuy nhiên, các chính sách thuế, phí hiện hành cũng có những hạn chế. Chẳng hạn, trong chính sách thuế hiện hành, mục tiêu bảo vệ môi trường không phải là mục tiêu chính, vì vậy chưa tác động trực tiếp đến hành vi tiêu dùng và hoạt động sản xuất các sản phẩm gây tác động xấu đến môi trường. Vì thế, việc nghiên cứu và ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường là rất cần thiết, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội hiện tại của Việt Nam và xu hướng phát triển kinh tế của thế giới.
Trong Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Thuế bảo vệ môi trường, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội nhấn mạnh, việc ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường là cần thiết, nhằm tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định điều chỉnh toàn diện các hành vi tác động tiêu cực đến môi trường; khắc phục hạn chế trong chính sách thu hiện hành; tạo nguồn lực tài chính bù đắp chi phí bảo vệ môi trường; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển bền vững; đồng thời đáp ứng việc thực hiện cam kết quốc tế, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới.
Trong các phiên thảo luận ở tổ ngày 31-5, cũng như tại Hội trường ngày 5-6 vừa qua, hầu hết các đại biểu Quốc hội đều cho rằng, việc xây dựng và ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường là thật sự cần thiết trong tình hình hiện nay,tuy nhiên, cũng có một số ý kiến cho rằng, Luật Thuế bảo vệmôi trường là chính sách tài chính mới ở Việt Nam, mặc dù có ý nghĩa quan trọng, song không tránh khỏi có những tác động nhất định đến sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng thông qua việc tăng giá hàng hóa, nhất là đối với một số hàng hóa thiết yếu như xăng, dầu… Do đó, đề nghị Chính phủ đánh giá đầy đủ hơn tác động của việc ban hành Luật đối với sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng; tập trung đánh giá những phát sinh khi áp dụng Luật, để có giải pháp xử lý hữu hiệu; đồng thời, xác định lộ trình áp dụng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước.
Về nội dung của dự án Luật
Dự án Luật gồm 4 Chương, 14 Điều, cụ thể là: Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 5). Chương này xác định phạm vi điều chỉnh, đối tượng chịu thuế, đối tượng không thuộc diện chịu thuế, người nộp thuế bảo vệ môi trường. Chương II: Căn cứ tính thuế (từ Điều 6 đến Điều 8). Chương này quy định các căn cứ tính thuế, xác định thuế, Biểu khung thuế bảo vệ môi trường. Chương III: Khai, tính thuế, nộp và hoàn thuế (từ Điều 9 đến Điều 11). Chương IV: Điều khoản thi hành (từ Điều 12 đến Điều 14).
Đối tượng chịu thuế được quy định trong Điều 3 dự án Luật là: 1. Xăng dầu: a) Xăng các loại; b) Nhiên liệu bay; c) Dầu diezel; d) Dầu hoả; đ) Dầu mazut; e) Dầu nhờn; g) Mỡ nhờn. 2. Than. 3. Dung dịch HCFC. 4. Túi nhựa xốp. 5. Thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng: a) Thuốc sử dụng trong nông nghiệp; b) Thuốc trừ mối; c) Thuốc bảo quản lâm sản; d) Thuốc khử trùng kho.
Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội cho biết, nhiều ý kiến trong Ủy ban cho rằng, với tính chất là đạo luật về thuế bảo vệ môi trường, về nguyên tắc, quy định về đối tượng chịu thuế của Luật phải bao hàm mọi sản phẩm, hàng hóa gây tác động tiêu cực đến môi trường. Tại thời điểm hiện nay, khi bước đầu áp dụng Luật thì có thể xem xét, áp dụng theo lộ trình thích hợp, lựa chọn những đối tượng phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam, bảo đảm sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước. Tuy nhiên, để bảo đảm tính thuyết phục của dự án Luật, đề nghị Chính phủ lý giải cụ thể về căn cứ quy định đối tượng chịu thuế, đối tượng gây ô nhiễm môi trường nhưng chưa thuộc diện chịu thuế. Mặt khác, trong bối cảnh trượt giá hiện nay, việc áp dụng phương pháp tính thuế tuyệt đối (bằng tiền) của dự án Luật sẽ phát sinh bất hợp lý, dẫn đến thường xuyên phải điều chỉnh biểu khung và mức thuế; trong khi đó, luật là văn bản có giá trị pháp lý cao, cần được áp dụng ổn định. Vì vậy, đề nghị áp dụng phương pháp tính thuế theo tỷ lệ phần trăm (%) như nhiều sắc thuế khác.
Về đối tượng chịu thuế: nhiều ý kiến cho rằng, các nhóm đối tượng nêu trong Dự án Luật chưa bao quát được mọi sản phẩm hàng hóa gây tác động, tiêu cực đến môi trường. Do đó, những sản phẩm gây ô nhiễm môi trường đều phải đưa vào đối tượng chịu thuế, như chất tẩy rửa, thuốc nhuộm, các sản phẩm được sản xuất từ công nghệ cũ nát, lạc hậu hoặc tốn nhiều năng lượng, các sản phẩm gây suy thoái tài nguyên rừng, tài nguyên biển (rong biển, san hô)... Một số đại biểu còn đề nghị đưa vào đối tượng chịu thuế cả thuốc lá, các loại chai nhựa (vì nếu túi nhựa chịu thuế thì các loại chai nhựa cũng phải chịu thuế, bởi chúng đều gây ô nhiễm nặng và khó phân hủy), gỗ làm nguyên liệu giấy, phân bón, hóa chất làm mỹ phẩm, hóa chất nhuộm vải, các cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm lớn (sản xuất xi măng, sắt, thép, phân bón, nhiệt điện….) hay những cơ sở sản xuất ra những sản phẩm sẽ gây ô nhiễm khi sử dụng (như bơm, kim tiêm dùng trong y tế), các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm... Bởi vậy, để bảo đảm tính thuyết phục của dự án Luật, Chính phủ cần làm rõ căn cứ quy định đối tượng chịu thuế, đối tượng gây ô nhiễm môi trường nhưng chưa thuộc diện chịu thuế.
Một số ý kiến cho rằng, cần phân biệt rõ tính chất của một số đối tượng hay nhóm đối tượng để xem có nên đưa vào đối tượng chịu thuế hay không. Chẳng hạn, trong nhóm đối tượng là than, có cả các loại than sạch, than hoạt tính có tác dụng tốt cho môi trường; vậy chúng có bị tính thuế không? Bên cạnh đó, cần thấy rằng, 5 mặt hàng phải chịu thuế của dự án Luật đều là những mặt hàng đều đã chịu thuế qua các điều tiết thuế khác, trong đó, xăng dầu là một điển hình. Vì chưa có mặt hàng thay thế nên ai cũng phải sử dụng xăng, bởi thế, nếu đánh thuế, xăng sẽ tiếp tục tăng giá và người tiêu dùng sẽ phải hứng chịu.
Bàn về những vấn đề liên quan trực tiếp đến nội dung nói trên, một số đại biểu cho rằng, đánh thuế môi trường là đánh vào tiêu thụ chứ không phải vào nhà sản xuất. Do đó, cần tách khâu sản xuất khỏi khâu tiêu thụ để xác định thuế. Phân biệt rõ thuế (tiêu thụ) và phí (sản xuất) cũng như bản chất của hai loại này để hạn chế việc chúng chồng chéo lên nhau. Trước đây, khi chỉ mới thu phí và lệ phí bảo vệ môi trường, việc chồng lấn không gây tác động xấu, nhưng giờ đây nếu đánh thuế thì cần phải làm rõ các mối quan hệ đó. Phí môi trường không thể đánh vào mặt hàng mà phải đánh vào công nghệ, quy trình sản xuất để giảm ô nhiễm môi trường, khuyến khích người sản xuất đầu tư vào công nghệ. Còn thuế môi trường nên đánh vào tiêu thụ để hạn chế tiêu thụ những hàng hóa ảnh hưởng đến môi trường. Chẳng hạn, nếu túi ni-lông bị đánh thuế cao thì người sử dụng sẽ hạn chế sử dụng.
Về biểu khung thuế: Đa số các đại biểu đồng ý với nhiều ý kiến trong Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội cho rằng, việc áp dụng phương pháp tính thuế tuyệt đối (bằng tiền) của dự án Luật sẽ phát sinh bất hợp lý, dẫn đến thường xuyên phải điều chỉnh biểu khung và mức thuế. Trong tình hình biến động giá cả như hiện nay, nên áp dụng phương pháp tính thuế theo tỷ lệ phần trăm (%) như nhiều sắc thuế khác. Mặt khác, tiêu chí xác định mức thuế của dự án Luật cũng chưa thống nhất, do đó cần phải lý giải một cách có căn cứ. Ngoài ra, biên độ tính thuế rất rộng, do vậy cần phải quy định theo nhóm nhóm đối tượng để có căn cứ áp dụng một cách hợp lý.
Một số đại biểu đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu, tính toán kỹ hơn tiêu chí đánh thuế, vì tiêu chí nêu trong dự án Luật là chưa phù hợp, chưabảo đảm sựcông bằng, bình đẳng đối với các loại hàng hoá, sản phẩm cóảnh hưởng xấuđến môi trường vàsức khoẻ con người. Chẳng hạn, đối với xăng là 1.000 - 4.000 đồng/lít, trong khi dầu diezel là 500 - 2.000 đồng/lít là chưa hợp lý, vì khi sử dụng xăng gây ô nhiễm ít hơn dầu diezel; than là sản phẩm gây ô nhiễm nặng khi sử dụng, tuy nhiên mức giá sàn quá thấp (6.000 - 30.000 đồng/tấn)...
Nhiều đại biểu nêu ý kiến, cách tính thuế nên theo tỷ lệ phần trăm là hợp lý hơn cả, bởi vì có những mặt hàng như xăng dầu, giá cả lên xuống thất thường, không cố định, trong khi biên độ tính thuế lại rộng nên rất khó tính thuế. Việc áp dụng thuế suất theo tỷ lệ phần trăm có ưu điểm là số thu tăng, giảm theo giá hàng hoá, linh hoạt trong việc phục vụ cho thực hiện chính sách điều tiết thị trường, điều tiết cung cầu của Nhà nước.
Ngoài ra, một số nội dung khác trong dự án Luật cũng được các đại biểu quan tâm thảo luận. Chẳng hạn, thảo luận về đối tượng không chịu thuế (Điều 4), một số đại biểu nhận xét, trong đó có những khoản, mục quy định chưa hợp lý, vì Luật Thuế bảo vệ môi trường không chỉ cần xác định trách nhiệm bảo vệ môi trường ở Việt Nam mà còn phải xác định cả trách nhiệm bảo vệ môi trường chung trên trái đất, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa. Bởi vậy, đề nghị quy định nghĩa vụ nộp thuế bảo vệ môi trường đối với cả hàng hóa xuất khẩu gây ô nhiễm môi trường.
Đặc biệt, để tránh tình trạng trùng lặp giữa thuế bảo vệ môi trường và phí môi trường, một số đại biểu cho rằng, đối với những mặt hàng đang chịu phí môi trường như xăng, dầu, than, nhựa, hóa chất… khi đưa vào diện chịu thuế bảo vệ môi trường thì không nên tiếp tục chịu phí môi trường. Bàn về mối quan hệ giữa thuế bảo vệ môi trường và phí bảo vệ môi trường, nhiều ýkiến cho rằng, giữa chúng có sự khác nhau về tính chất. Bởi vì, nếu như thuế được thu từ sản phẩm gây tác động xấu đến môi trường khi sử dụng, thì phí được thu từ nguồn gây ô nhiễm (các chất thải ra trong quá trình sản xuất như nước thải, chất thải rắn...). Vì vậy, vẫn phải áp dụng cả phí môi trường và thuế bảo vệ môi trường ở những công đoạn khác nhau.
Liên quan đến vấn đề nêu trên, có ýkiến cho rằng, đối với sản phẩmđã chịu thuếtiêu thụđặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu... thì có thể không áp dụng thuế bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nhiều đại biểu tỏ ra không nhất trí vì mỗi sắc thuế có phạm vi điều chỉnh đối tượng, hành vi khác nhau và do đó, không thể lấy sắc thuế này thay thế sắc thuế khác. Bởi vậy, sẽ có mặt hàng vừa là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu..., lại vừa là đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường.
Bàn về vấn đề phân chia nguồn thu (Điều 12), một số ý kiến cho rằng, nguồn thu của thuế bảo vệ môi trường sẽ được sử dụng để tái đầu tư trong giải quyết các vấn đề môi trường ở các địa phương. Tuy nhiên, đặc thù của thuế bảo vệ môi trường là đánh vào người tiêu thụ sản phẩm, vì thế nguồn thu phải được bổ sung nhiều hơn cho những địa phương tiêu thụ nhiều sản phẩm chịu thuế. Tuy nhiên, làm thế nào để xác định được lượng tiêu thụ sản phẩm này ở mỗi địa phương là một bài toán khó. Có ý kiến đề nghị khi phân chia nguồn thu thuế phải chú trọng tính công bằng, quyền lợi của địa phương, nơi diễn ra hoạt động sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường. Theo đó, nơi nào bị ô nhiễm bởi hoạt động sản xuất, kinh doanh thì phải được phân bổ nguồn thu đáp ứng yêu cầu khắc phục hậu quả môi trường.
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển, dự án Luật chưa quy định cụ thể về vấn đề này, mà mới chỉ đề cập đến nguyên tắc chung là “Nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường được phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương”, cũng như chưa làm rõ tỷ lệ phân chia, thẩm quyền quyết định việc phân chia và mục tiêu sử dụng nguồn thu./.
Việt Nam tham dự Hội nghị Thương mại APEC ở Nhật Bản  (05/06/2010)
Tăng cường các giải pháp bình ổn giá  (05/06/2010)
Việt Nam - điểm lý tưởng để tổ chức WEF Đông Á lần thứ 19  (05/06/2010)
Thông điệp của Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-mun nhân Ngày Môi trường thế giới 5-6-2010  (05/06/2010)
Ngày Môi trường thế giới năm 2010: "Nhiều loài - Một hành tinh - Tương lai chúng ta"  (05/06/2010)
Khai mạc Festival biển và hải đảo Việt Nam năm 2010  (05/06/2010)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm