Phát huy giá trị văn hóa các làng nghề thủ công truyền thống trên địa bàn thành phố Hà Nội
TCCS - Các làng nghề thủ công truyền thống có quá trình hình thành, tồn tại và phát triển gắn bó chặt chẽ với mảnh đất và con người Hà Nội trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, tạo dựng được bản sắc với những đặc trưng và giá trị riêng biệt. Thời gian tới, cần đề ra nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả và phát huy giá trị văn hóa các làng nghề thủ công truyền thống trên địa bàn thành phố Hà Nội theo hướng phát triển bền vững.
Hà Nội - mảnh đất “trăm nghề”
Lịch sử Thăng Long - Hà Nội hàng ngàn năm qua in đậm dấu ấn sự xuất hiện và diễn tiến của phường phố thủ công kiêm thương nghiệp ở nội đô cùng với các làng nghề thủ công truyền thống ven đô và ngoại thành. Trong đó, phường phố thường diễn tiến theo quy luật hội tụ và kết tinh tài hoa của tứ xứ, biến Thăng Long - Hà Nội thành nơi hội tụ những người thợ thủ công tài hoa bậc nhất từ muôn nơi đến chốn kinh thành làm ăn, đua tài. Các làng nghề thủ công truyền thống ở ven đô và ngoại thành lại diễn tiến theo quy luật tự sinh và nội sinh. Xung quanh Thăng Long - Đông Kinh - Kẻ Chợ mọc dần lên các làng chuyên doanh đặc sản, tiêu biểu như làng nghề gốm sứ Bát Tràng, làng nghề dát vàng bạc quỳ Kiêu Kỵ, làng nghề giấy vùng Bưởi, làng hoa Ngọc Hà, làng quất Nghi Tàm...
Thành phố Hà Nội hiện có 1.350 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 334 làng nghề, nghề truyền thống và làng nghề truyền thống đã được công nhận danh hiệu, gồm 5 nghề truyền thống, 269 làng nghề và 60 làng nghề truyền thống. Các làng nghề truyền thống của Hà Nội thuộc 6 nhóm là: (1) Làng nghề chế biến, bảo quản nông sản, lâm sản, thủy sản; (2) Làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; (3) Làng nghề sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ; (4) Làng nghề sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh; (5) Làng nghề xử lý chế biến, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; (6) Làng nghề dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn(1).
Tính đến năm 2024, các làng nghề Hà Nội đóng góp 745/2.711 sản phẩm OCOP của thành phố Hà Nội, chiếm 27,48% tổng sản phẩm OCOP toàn thành phố Hà Nội. Đến hết năm 2023, doanh thu của các làng nghề Hà Nội được công nhận ước đạt trên 24.000 tỷ đồng. Trong đó, làng nghề giầy da thôn Giẽ Thượng và thôn Giẽ Hạ (xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên) đạt doanh thu 500 - 700 tỷ đồng. Làng nghề đồ mộc - may thôn Hữu Bằng (xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất) đạt doanh thu gần 1 nghìn tỷ đồng. Làng nghề điêu khắc mỹ nghệ Sơn Đồng (xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức) đạt doanh thu trên 1.000 tỷ đồng. Làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Minh Khai (xã Minh Khai, huyện Hoài Đức cũ) đạt doanh thu trên 1.000 tỷ đồng. Làng nghề truyền thống mỹ nghệ Thiết Úng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh cũ) đạt doanh thu 1.100 tỷ đồng. Làng nghề cơ khí nông cụ Phùng Xá (xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất cũ) đạt doanh thu 1.200 tỷ đồng. Làng nghề bánh kẹo dệt kim La Phù (xã La Phù, huyện Hoài Đức) đạt doanh thu trên 1.300 tỷ đồng...(2). Các làng nghề thủ công truyền thống đã góp phần thay đổi đời sống kinh tế - xã hội và diện mạo nông thôn thành phố Hà Nội.
Bản sắc làng nghề thủ công truyền thống Hà Nội
Làng nghề thủ công được xem là “một quần thể kinh tế, xã hội và văn hóa có trong một làng; hình thành, tồn tại và phát triển tương đối ổn định. Ở đó, có toàn bộ hay phần lớn lao động trong làng làm một hoặc nhiều nghề; sản xuất, chế tác sản phẩm bằng phương pháp thủ công là chính”(3). Còn làng nghề thủ công truyền thống là “một mô hình vừa mang tính đặc trưng kinh tế vừa mang tính di sản văn hóa - xã hội; hình thành, tồn tại và phát triển tương đối bền vững, lâu đời, được bảo tồn và truyền lại qua nhiều thế hệ về một hay nhiều nghề mang tính bí quyết, gia truyền và được sáng tạo không ngừng qua các đời hậu duệ”(4). Các làng nghề thủ công truyền thống của Thăng Long - Hà Nội trải qua một quá trình hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài, xuyên suốt qua nhiều thời kỳ lịch sử.
Các làng nghề thủ công truyền thống của Thăng Long - Hà Nội phát tích từ 3 nguồn chủ yếu, gồm:
Một là, nhóm các làng hình thành và phát triển tại chỗ, ngay trong các thôn làng cổ truyền của vùng đất Thăng Long - Hà Nội, có từ trước khi vua Lý Thái Tổ định đô Thăng Long vào năm Canh Tuất (năm 1010), tiêu biểu như làng dệt lĩnh ở Trích Sài, làng làm giấy dó ở Yên Thái thuộc quận Tây Hồ (cũ), làng nghề kim hoàn Định Công thuộc quận Hoàng Mai (cũ)...
Hai là, nhóm các làng nghề do thợ thủ công ở những nơi khác trong nước kéo về kinh thành làm ăn, đem theo lực lượng thợ thủ công và kỹ thuật sản xuất lập làng mới, tiêu biểu như làng nghề đúc đồng Ngũ Xã thuộc quận Ba Đình có nguồn gốc từ Thuận Thành (Bắc Ninh) và Văn Lâm (Hưng Yên), làng nghề gốm sứ Bát Tràng thuộc Gia Lâm có nguồn gốc từ làng Bồ Bát (Ninh Bình) và làng Ninh Trường (Thanh Hóa)...
Ba là, nhóm các làng nghề thành lập vào các thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX với những nghề du nhập từ nước ngoài, như làng nghề dệt thảm len và đăng ten ở La Phù thuộc quận Hà Đông (cũ) vốn được du nhập từ Pháp, làng dệt La Khê có tổ sư nghề dệt từ phương Bắc sang truyền dạy cho dân làng...(5).
Quá trình hình thành và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống trên địa bàn thành phố Hà Nội trải qua ba giai đoạn chủ yếu:
Giai đoạn thứ nhất diễn ra trong thời kỳ quân chủ, từ trước thế kỷ X đến năm 1888. Trong giai đoạn này, từ một số làng thủ công hình thành xung quanh thành Đại La (Hà Nội) từ thời Bắc thuộc và buổi đầu độc lập tự chủ trong thế kỷ X, sự kiện định đô Thăng Long năm Canh Tuất (năm 1010) đánh dấu bước chuyển biến quan trọng của sự phát triển làng nghề thủ công trong lịch sử Hà Nội. Những người thợ thủ công từ các làng nghề trên khắp cả nước dần dần tụ hội về kinh thành Thăng Long lập làng lập nghiệp. Trong đó, làng dệt Nghi Tàm (Tây Hồ), làng dệt Thụy Chương (Tây Hồ), làng trồng dâu nuôi tằm dệt vải Cổ Đô (Ba Vì) trên 600 năm tuổi; làng đúc đồng Ngũ Xã (Ba Đình) có trên 500 năm tuổi; làng làm nghề giấy dó Yên Thái (Tây Hồ) và làng dát vàng, dát bạc quỳ Kiêu Kỵ (Gia Lâm) đều có trên 400 năm tuổi...
Giai đoạn thứ hai diễn ra vào thời kỳ Pháp thuộc, từ năm 1888 đến năm 1945. Trong giai đoạn này, với sự du nhập của kỹ thuật và hàng hóa nước ngoài, các làng nghề thủ công truyền thống của Hà Nội bị cạnh tranh khốc liệt. Bên cạnh đó, chính quyền thực dân Pháp áp dụng chính sách thuế hà khắc và chính sách chèn ép về ngoại thương đối với thủ công nghiệp bản địa. Hàng loạt làng nghề thủ công truyền thống của Hà Nội bị mai một hoặc suy giảm. Các hoạt động thủ công nghiệp thu hẹp về phạm vi các nghề nghiệp thủ công cổ truyền độc đáo.
Giai đoạn thứ ba diễn ra vào thời kỳ từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay. Trong giai đoạn này, làng nghề thủ công truyền thống Hà Nội từng bước được khôi phục và phát triển. Vào thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1975), các làng nghề thủ công truyền thống còn tiếp diễn suy thoái, hoạt động sản xuất bị đình đốn do chiến tranh và thiếu nguyên liệu. Một số làng nghề thủ công truyền thống sản xuất các mặt hàng thiết yếu mới có thể tiếp tục duy trì hoạt động. Sau Ngày giải phóng Thủ đô (10-10-1954), hoạt động sản xuất từng bước được phục hồi nhưng sản xuất vẫn cầm chừng, chủ yếu duy trì sản xuất các mặt hàng thiết yếu. Những năm 1957-1964, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp được thành lập ồ ạt ở Hà Nội và Hà Tây đã nhanh chóng phá vỡ những mối quan hệ truyền thống của các làng nghề thủ công lâu đời. Tiếp đó, sự khủng hoảng kinh tế chung của cả nước khiến cho hầu hết các làng nghề thủ công truyền thống của Hà Nội lâm vào tình trạng gần như bị tê liệt, không còn đủ sức duy trì hoạt động. Phải đến đầu những năm 1990, sự phát triển kinh tế thị trường, đời sống nâng cao và khả năng xuất khẩu cởi mở đã tạo cơ hội cho nhiều làng nghề thủ công truyền thống phục hồi và phát triển. Đặc biệt, việc áp dụng các loại máy móc và những quy trình công nghệ hiện đại khiến cho năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và giá trị các mặt hàng thủ công truyền thống tăng cao, mở ra thời kỳ phát triển mới của các làng nghề thủ công truyền thống Hà Nội(6).
Làng nghề thủ công truyền thống của Hà Nội có những đặc trưng chủ yếu: Có sự ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với nông nghiệp và nông thôn; có thể tất cả làng chuyên làm nghề thủ công hoặc một bộ phận lớn cư dân trong làng sản xuất và kinh doanh các sản phẩm thủ công truyền thống; những mặt hàng có từ lâu đời, có những nét đặc thù riêng cho làng và con người nơi đó, bộ phận còn lại kết hợp giữa làm ruộng và làm nghề. Lịch sử phát triển các làng nghề truyền thống của Hà Nội cho thấy sự độc quyền, giữ bí mật, bí quyết nghề nghiệp đã tạo nét đặc sắc, riêng biệt từng sản phẩm của từng nghệ nhân ngay cả trong cùng hộ nghề; sự đa dạng, sinh động và phong phú về các loại hình sản phẩm trong làng nghề truyền thống. Một số loại sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống mang tính nghệ thuật - thẩm mỹ cao, được coi là sự kết tinh của đời sống văn hóa lâu đời của ông cha ta(7).
Giữ gìn truyền thống, đổi mới sáng tạo, phát huy giá trị làng nghề Hà Nội
Cùng với sự phát triển của văn hóa dân tộc, các làng nghề thủ công truyền thống là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú, đồng thời cũng là sự biểu hiện tập trung của bản sắc văn hóa. Sản phẩm thủ công truyền thống là kết tinh của lao động vật chất và lao động tinh thần, được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công. Nhiều sản phẩm thủ công truyền thống có tính nghệ thuật cao. Các sản phẩm thủ công truyền thống này là những tác phẩm nghệ thuật, trong đó chứa đựng những nét đặc sắc văn hóa riêng, đồng thời thể hiện những nét độc đáo, sắc thái riêng của từng làng nghề thủ công truyền thống của Hà Nội. Ngoài yếu tố và giá trị về kinh tế, các sản phẩm của làng nghề thủ công truyền thống của Hà Nội còn mang trong mình yếu tố và giá trị về văn hóa truyền thống được tích lũy qua hàng trăm, hàng nghìn năm lịch sử.
Trong Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể công bố năm 2003, UNESCO nêu rõ “nghề thủ công truyền thống” là một trong các hình thức của “di sản văn hóa phi vật thể” (Điều 2)(8). Trong lịch sử Việt Nam, những công trình kiến trúc, điêu khắc cũng như hầu hết các sản phẩm phục vụ đời sống cung đình và dân sinh xưa kia đều là sản phẩm thủ công truyền thống. Khi khai quật di chỉ khảo cổ học Hoàng Thành Thăng Long, hàng chục ngàn cổ vật là sản phẩm thủ công truyền thống quý giá đã được phát hiện, trong đó có những cổ vật đạt tới tuyệt đỉnh kỹ thuật và mỹ thuật(9). Với những giá trị văn hóa có trong từng sản phẩm, bên cạnh yếu tố thương mại, các mặt hàng thủ công truyền thống không chỉ là những hàng hóa đơn thuần mà đã trở thành tác phẩm văn hóa với tính nghệ thuật cao. Một số loại sản phẩm được coi là tiêu biểu đại diện của truyền thống văn hóa vùng miền, như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, nón Chuông... Để tiếp tục kế thừa và phát triển, các làng nghề thủ công truyền thống trên địa bàn thành phố Hà Nội cần coi các yếu tố văn hóa truyền thống là cơ bản, trụ cột và cốt lõi của làng nghề, tăng cường hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng trên từng sản phẩm.
Hiện nay, nhiều làng nghề thủ công truyền thống của thành phố Hà Nội đẩy mạnh sản xuất - kinh doanh kết hợp du lịch, qua đó không chỉ giúp phát triển kinh tế địa phương, mà còn góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa từng địa phương, vùng miền. Thông qua nhiều hoạt động truyền thông, quảng bá và giới thiệu sản phẩm, các sản phẩm làng nghề thủ công truyền thống của Hà Nội được nhiều người tiêu dùng trên biết đến, nhờ đó gia tăng giá trị sản phẩm và nâng tầm thương hiệu sản phẩm thủ công truyền thống.
Song song đó, Hà Nội còn đặt trọng tâm vào đầu tư tôn tạo, trùng tu các công trình văn hóa, di tích lịch sử, đồng thời khuyến khích sự tham gia tích cực của cộng đồng cư dân trong và ngoài làng nghề, đóng góp vào sự phát triển của địa phương. Bên cạnh đó, Hà Nội cũng cần ban hành các chính sách trọng dụng, tôn vinh, khen thưởng xứng đáng đối với các nghệ nhân lành nghề, tạo điều kiện để họ tiếp tục cống hiến, đóng góp trao truyền nghề truyền thống.
Việc phát huy giá trị văn hóa các làng nghề thủ công truyền thống trên địa bàn thành phố Hà Nội cần coi các yếu tố văn hóa truyền thống là cơ bản, trụ cột và cốt lõi của làng nghề; trọng dụng và tôn vinh các nghệ nhân làng nghề; bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể của làng nghề; đẩy mạnh sản xuất kinh doanh kết hợp du lịch./.
-------------------------
(1) Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội: “Về thành tựu trong công cuộc xây dựng nông thôn mới và phát triển làng nghề Thủ đô Hà Nội”, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Tầm nhìn mới, cơ hội mới xây dựng Thủ đô Hà Nội văn hiến - văn minh - hiện đại, thành phố kết nối toàn cầu”, kỷ niệm 70 năm ngày giải phóng Thủ đô (10-10-1954 - 10-10-2024), do Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Thành ủy Hà Nội tổ chức tại Hà Nội ngày 7-10-2024, tr. 223
(2) Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội: “Về thành tựu trong công cuộc xây dựng nông thôn mới và phát triển làng nghề Thủ đô Hà Nội”, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Tầm nhìn mới, cơ hội mới xây dựng Thủ đô Hà Nội văn hiến - văn minh - hiện đại, thành phố kết nối toàn cầu” , kỷ niệm 70 năm ngày giải phóng Thủ đô (10-10-1954 - 10-10-2024), do Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Thành ủy Hà Nội tổ chức tại Hà Nội ngày 7-10-2024, tr. 223
(3), (4), (5), (6), (7) Đinh Hạnh (chủ biên): Những làng nghề thủ công tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2019, tr. 16 - 17, tr. 18, tr. 41 - 42, tr. 35 - 57, tr. 20 - 21
(8) Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Tạp chí Di sản văn hóa, số 6, năm 2004, tr. 99
(9) Vũ Quốc Tuấn: Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr. 10
Nâng cao nhận thức, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển văn hóa trong giai đoạn mới  (22/02/2026)
Sắc lệnh số 65/SL: Thông điệp thời đại từ một văn kiện văn hóa - pháp lý  (22/11/2025)
Sắc lệnh số 65/SL: Thông điệp thời đại từ một văn kiện văn hóa - pháp lý  (22/11/2025)
- Nâng cao tính nhân dân của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn mới
- Nâng cao hiệu quả thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”*
- Sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân - “Điểm tựa” vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- Thanh thiếu niên hai nước tiếp tục viết nên những trang mới của tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc bằng trí tuệ, tinh thần tiên phong sáng tạo, khát vọng cống hiến và trách nhiệm với tương lai đất nước*
- Nâng cao sức hấp dẫn tuyển sinh của các trường đại học ở Hà Nội từ góc độ quản trị trải nghiệm người học
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm