Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam

Nguyễn Đình Kháng GS, TS, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
00:16, ngày 21-02-2014

TCCS - Chế độ sở hữu đất đai là một trong các trụ cột của chế độ chính trị - kinh tế - xã hội, được hình thành dựa trên những điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa riêng biệt của mỗi nước. Đó cũng chính là cơ sở lý luận và thực tiễn của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam.

Cơ sở lý luận và thực tiễn về chế độ sở hữu đất đai

Cơ sở lý luận của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

Đất đai là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội, vì vậy quan hệ sở hữu về đất đai từ xa xưa đã được các nhà kinh tế học kinh điển đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Lý luận về địa tô của A-đam Xmit, Đa-vít Ri-các-đô... tiếp tục được C. Mác, Ph. Ăng-ghen hoàn thiện, đặt nền tảng lý thuyết cho việc giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế trong nông nghiệp, là cơ sở để hình thành, hoàn thiện luật pháp, chính sách nhằm phát triển kinh tế cũng như ổn định xã hội. Sau khi nghiên cứu lý luận địa tô, các Ông đã rút ra một số kết luận, trong đó có vấn đề:

+ Địa tô trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa hay có thể nói là địa tô trong nền kinh tế thị trường có tính ổn định, không phụ thuộc vào quan hệ sở hữu về đất đai. 

+ Khi đã tách quyền sở hữu và quyền chiếm hữu (trong đó trước hết là quyền sử dụng) đất đai, người chiếm hữu (người sử dụng) nếu đầu tư vào đất sẽ thu được địa tô chênh lệch hai.

Trên cơ sở những nghiên cứu về lý luận địa tô của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin đã đưa ra cơ sở lý luận của việc quốc hữu hóa ruộng đất. Trong tác phẩm “Cương lĩnh ruộng đất của Đảng xã hội dân chủ trong cuộc cách mạng đầu tiên ở Nga năm 1905 - 1907”, V.I. Lê-nin đã làm sáng tỏ bản chất của khái niệm quốc hữu hóa ruộng đất và chỉ rõ mối liên hệ của địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối với hai hình thức độc quyền trong nông nghiệp. Theo Ông, địa tô chênh lệch là kết quả của sự hạn chế về ruộng đất. Trong chế độ tư bản, việc canh tác ruộng đất của các doanh nghiệp tư bản vô luận là chế độ tư hữu ruộng đất có tồn tại hay không và hình thức chiếm hữu ruộng đất như thế nào đều có địa tô chênh lệch. Ông viết: “Địa tô chênh lệch không tránh khỏi hình thành trong chế độ nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, ngay cả khi chế độ tư hữu về ruộng đất bị xóa bỏ hoàn toàn”(1)

Địa tô tuyệt đối diễn ra bắt nguồn từ chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân. Chế độ tư hữu này đã cản trở việc cạnh tranh tự do, cản trở việc san bằng lợi nhuận thành lợi nhuận bình quân giữa các doanh nghiệp nông nghiệp và doanh nghiệp phi nông nghiệp.

Nếu địa tô chênh lệch là vốn có của bất kỳ nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa nào, thì địa tô tuyệt đối không phải với bất kỳ, mà chỉ với điều kiện của chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân.

V.I. Lê-nin viết: “Như vậy là vấn đề quốc hữu hóa ruộng đất trong xã hội tư bản chủ nghĩa chia thành hai phần khác nhau về bản chất: vấn đề địa tô chênh lệch và vấn đề địa tô tuyệt đối. Quốc hữu hóa thay đổi người hưởng địa tô chênh lệch và xóa bỏ ngay cả sự tồn tại của địa tô tuyệt đối. Vậy quốc hữu hóa một mặt là một cải cách bộ phận trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản (thay đổi người làm chủ một bộ phận giá trị thặng dư), và mặt khác, là sự xóa bỏ các độc quyền gây trở ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nói chung”(2). Thiếu sự phân biệt hai mặt này sẽ không thể hiểu được ý nghĩa kinh tế của việc quốc hữu hóa ruộng đất - vấn đề quyết định ý nghĩa của các cơ sở lý luận về ruộng đất.

Việc tập trung ruộng đất ở các nước tư bản thường diễn ra theo con đường sáp nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ cá biệt cho một chủ sở hữu cá biệt khác để tạo ra quy mô lớn hơn thông qua biện pháp tước đoạt hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất.
V.I. Lê-nin chỉ rõ rằng, nhận thức đúng đắn cơ sở lý luận của việc quốc hữu hóa ruộng đất và tiếp đó là vấn đề ruộng đất có ý nghĩa rất to lớn. Những sai lầm trong lý luận dẫn tới những kết luận không đúng đắn và dẫn đến những sai lầm về chính trị. Chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân là sự trở ngại của việc đầu tư tự do tư bản vào ruộng đất. Ông cũng viết: “Do đó, thủ tiêu chế độ tư hữu ruộng đất tức là xóa bỏ đến mức tối đa có thể có được trong xã hội tư sản, tất cả những trở ngại, ngăn cản việc tự do dùng tư bản vào nông nghiệp và tự do chuyển tư bản từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất khác. Sự phát triển tự do, rộng rãi nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản, sự xóa bỏ tất cả những khâu trung gian không cần thiết khiến cho nền nông nghiệp giống như một nền công nghiệp có những “nhịp độ kinh khủng”, - quốc hữu hóa ruộng đất dưới chế độ sản xuất tư bản chủ nghĩa là như thế đấy”(3).

Cơ sở thực tiễn về chế độ sở hữu đất đai

- Về chế độ sở hữu đất đai: Trên thế giới hiện nay, đang song song tồn tại cả chế độ công hữu và chế độ tư hữu về đất đai. Các nước có chế độ tư hữu phần lớn về đất đai, bao gồm tuyệt đại đa số là các nước tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, tại các nước này vẫn còn đang tồn tại cả sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân về đất đai. Ví dụ: ở Mỹ 40% là đất công, 60% là đất tư, ở Ô-xtrây-li-a, về pháp lý toàn bộ đất đai là của Nữ hoàng Anh, sau đó bán dần cho thần dân sử dụng, đến nay 93% lãnh thổ vẫn là đất của nhà nước, nhưng 7% còn lại thuộc sở hữu tư nhân, chủ yếu nằm trong các đô thị, đất tư nhân chiếm đến 90%. Ở Đài Loan, toàn bộ đất nông nghiệp là thuộc tư nhân. Ở Nhật Bản, trong số 25 triệu héc-ta rừng thì của nhà nước là 10 triệu héc-ta.

Nhìn chung, đất đai thuộc sở hữu nhà nước được xem như là nguồn dự trữ để giải quyết các nhu cầu công cộng, điều tiết thị trường, biến đổi dân số. 

Các nước có chế độ sở hữu toàn dân về đất đai bao gồm: Trung Quốc, Cu-ba, Triều Tiên, Lào...

- Về chế độ sử dụng đất đai: Việc mua bán ruộng đất về pháp lý được hiểu là mua bán quyền sử dụng đất giữa các chủ đầu tư và trở thành hoạt động bình thường của thị trường bất động sản, chỉ khác với thị trường khác ở chỗ sau khi đạt được thỏa thuận ký được hợp đồng mua bán thì các bên phải tiến hành đăng ký về biến động của bất động sản với cơ quan có thẩm quyền của nhà nước. Do nhu cầu của phát triển (tách thửa, gộp thửa, đổi chủ...) mà thị trường này ngày càng sôi động, sử dụng nhiều hình thức khác nhau, như đấu thầu, đấu giá... Hình thức cho thuê đất cũng được áp dụng ngày càng phổ biến, nhất là ở các nước châu Á đang trong quá trình công nghiệp hóa, phân công lại lao động xã hội. Vì thế, sở hữu ruộng đất không còn nhiều ý nghĩa trên thực tế. Điều làm mọi người quan tâm hơn là những lợi ích kinh tế thu được khi đầu tư vào đất đai và những quyền phụ thuộc mà người đầu tư có được; về lâu dài đó là lợi nhuận ổn định và khả năng tránh được rủi ro của đồng vốn kinh doanh vào đất đai. 

- Về vấn đề quốc hữu hóa và tập trung đất 

+ Vấn đề quốc hữu hóa

Kết quả của những cuộc cách mạng ở các nước châu Âu và các cuộc cải cách ruộng đất ở các nước châu Á đã hình thành nên một hệ thống về chế độ sở hữu, sử dụng đất đai rất đa dạng hiện nay trên thế giới.

+ Tập trung ruộng đất

Khái niệm về “tích tụ” và “tập trung” được dùng để mô tả sự lớn lên của quy mô tư bản cá biệt. Theo C. Mác, “tích tụ tư bản” là sự tăng lên của tư bản cá biệt bằng cách chuyển một phần giá trị thặng dư thành tư bản làm cho tư bản xã hội cũng tăng lên; còn “tập trung tư bản” chỉ là việc tăng quy mô tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất các tư bản đã có. Áp dụng những khái niệm này vào đất đai, thì trên mặt bằng của toàn bộ một nền kinh tế sẽ không có khái niệm tích tụ ruộng đất mà chỉ có khái niệm tập trung ruộng đất vì suy cho cùng, việc tập trung này không làm cho tổng quỹ đất xã hội tăng lên (vẫn là đất thì chia thành mảnh nhỏ hoặc tập trung lại thành mảnh to).

Như vậy, từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn của chế độ sở hữu đất đai, có thể nói: quyền sở hữu đất đai có tính độc lập tương đối với quyền chiếm hữu (trong đó trước hết là quyền sử dụng) và vì vậy người sử dụng đất đai vẫn thực hiện được lợi ích kinh tế của mình khi đầu tư vào đất đai bất luận là chế độ sở hữu nào; quyền sở hữu tư nhân về đất đai dẫn tới độc quyền kinh doanh và do đó cản trở việc giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, từ đó làm giảm sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế; chế độ sở hữu về đất đai mang tính đa dạng bởi được quyết định trên các cơ sở của những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, lịch sử phù hợp đối với từng quốc gia nhất định.

Khái quát lịch sử chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam và tính tất yếu của sở hữu toàn dân về đất đai

Chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam trong quá trình phát triển lịch sử có những nét đặc thù do bị tác động bởi những điều kiện tự nhiên, tập quán, văn hóa.

- Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến quan hệ ruộng đất ở Việt Nam 

Lịch sử vấn đề quan hệ đất đai ở Việt Nam đều xuất phát từ lĩnh vực nông nghiệp vì Việt Nam có truyền thống là nền nông nghiệp lúa nước chịu sự chi phối rất nhiều của điều kiện tự nhiên. Chính vì lẽ đó, quan hệ đất đai chịu sự tác động mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên và điều này đến nay vẫn còn thể hiện rất rõ nét ở nước ta. 

Việt Nam đứng hàng 58 trên thế giới về diện tích đất tự nhiên, nhưng do dân số đông nên bình quân đất tính trên đầu người rất thấp và ngày càng giảm. Đã thế, gần 3/4 lãnh thổ Việt Nam, tức khoảng 25 triệu héc-ta là đồi núi, trong đó 17 triệu héc-ta có độ dốc từ 25 độ trở lên. Diện tích đồng bằng chỉ chiếm 1/4 lãnh thổ, khoảng 8 triệu héc-ta. Nếu tính cả những dải đất có độ dốc thấp ở vùng núi thì tổng diện tích đất có thể phục vụ cho nông nghiệp là 10 triệu - 11 triệu héc-ta.(4)

Cùng với diện tích đất và lãnh thổ không rộng lắm, thì điều kiện thời tiết và địa hình nhiều khi rất không thuận lợi lại càng tạo thêm khó khăn hơn trong việc sử dụng đất. Việc đắp đê làm thủy lợi phải huy động sức mạnh của cả cộng đồng từ xa xưa đã trở thành truyền thống ở Việt Nam. Nhưng, để chế ngự được thiên nhiên, huy động được sức mạnh của toàn dân, nhà nước của các triều đại lịch sử buộc phải nắm giữ đất đai, hay nói cách khác đất đai phải thuộc về quốc gia công thổ là một hệ quả tất yếu. Ngoài ra, chỉ có tập trung đất đai như vậy thì các chính quyền trong lịch sử Việt Nam mới có thể tạo được sức mạnh kinh tế cho đất nước vì các chủ thể nhỏ trong xã hội như các hộ gia đình với trình độ canh tác lạc hậu, đất đai lại bị địa hình chia cắt manh mún sẽ không thể khai thác đất đai có hiệu quả. Tuy nhiên, trong lịch sử Việt Nam chế hữu sở hữu đất đai vẫn tồn tại cả loại hình sở hữu nhà nước quân chủ tập trung và sở hữu của cộng đồng làng xã, nhưng sở hữu nhà nước vẫn là sở hữu chiếm ưu thế.

- Tập quán văn hóa Việt ảnh hưởng lớn đến chế độ sở hữu ruộng đất

Truyền thống văn hóa của người Việt là lối sống cấu trúc nhà - làng - nước. Trước mọi biến cố của lịch sử, sự cố kết và mối quan hệ này vẫn trường tồn. Sự tác động của mối quan hệ đó đã chi phối rất sâu sắc đến quan hệ ruộng đất từ trong lịch sử. Một mặt, đất đai thuộc về nhà nước tập quyền; mặt khác, một bộ phận ruộng đất được giao cho làng sở hữu và trong mối quan hệ song song đó, sở hữu của nhà nước tập quyền vẫn chiếm ưu thế. Và, mặc dù có sự sở hữu của làng nhưng ruộng đất của làng thường được chia lại cho các thành viên trong làng là các hộ gia đình để cày cấy. Việc chia này không phải là mãi mãi mà mang tính định kỳ sẽ chia lại. Do đó, ở Việt Nam không có cơ sở cho việc tồn tại sở hữu cá thể hộ gia đình về đất đai một cách lâu dài, trên thực tế các hộ gia đình chỉ là những chủ thể được sử dụng đất đai.

Trải qua một thời gian phát triển, khi quy mô của làng vượt quá giới hạn nhất định về số hộ, thì các làng cũ lại được tách ra để thành lập làng mới. Gắn liền với quá trình tách làng cũ và thành lập làng mới là những sự chia tách về ruộng đất.

Quan hệ ruộng đất trong mối liên hệ nhà - làng - nước là một kiểu quan hệ đã chi phối xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Chính kiểu quan hệ ruộng đất này đã tạo ra sự cố kết về văn hóa xã hội, sự tương đồng về tâm lý và đến lượt nó lại làm cho quan hệ tâm lý tập quán văn hóa thêm chặt chẽ.

Truyền thống văn hóa: “An cư mới lạc nghiệp” đã thấm đẫm vào trong tâm thức người Việt. Mỗi một gia đình, những người thuộc thế hệ trước luôn mong muốn và chủ động tạo lập cho con cái họ những diện tích đất nhất định để có thể ổn định cuộc sống. Ruộng đất thì hữu hạn, trong khi đó, dân số luôn gia tăng. Kết quả là, quy mô ruộng đất mà các thành viên trong xã hội theo đó giảm dần. Các thành viên trong xã hội dù muốn có sở hữu đất đai quy mô lớn thông qua con đường tập trung cũng gặp phải những giới hạn của điều kiện tự nhiên và xã hội, đặc biệt là giới hạn của sự phát triển lực lượng sản xuất.

Trong điều kiện đó, với tư cách là người nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất, nhà nước thường quy định cho mọi người dân phải thi hành những nghĩa vụ chủ yếu, như nộp thuế, đi phu, đi lính. 

Thực tế, trong lịch sử có nhiều nhân tố tác động có tính chất tấn công vào ruộng đất công để biến ruộng công thành ruộng tư, làm cho quan hệ đất đai biến đổi. Chẳng hạn nhân danh người nắm quyền sở hữu tối cao, nhà nước quân chủ có thể sử dụng đất công để phong cấp cho các quan lại quý tộc dưới hình thái lộc điền; những hộ gia đình nông dân giàu lên có thể mua lại ruộng đất của người nghèo làm tài sản riêng; bộ máy quản lý làng, xã cũng có thể biến đất công thành đất riêng. Tuy nhiên, sự thừa nhận trên pháp lý về quyền tư hữu đất đai không phổ biến, hơn nữa, điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội của dân tộc Việt Nam đã không thúc đẩy cho sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng tư hữu hóa đất đai. Có nhiều bằng chứng lịch sử cho thấy, mỗi khi ruộng đất bị tập trung quá lớn vào trong tay một bộ phận nhỏ của xã hội, thì lập tức đa số dân chúng còn lại tiến hành đấu tranh để giành lại quyền sử dụng ruộng đất cho mình. Các vương triều phong kiến Việt Nam chỉ hưng thịnh khi nào triều đại đó biết chăm lo đến lợi ích của nông dân, những người cần có ruộng đất để sản xuất. Như vậy, trong lịch sử ở Việt Nam, chế độ sở hữu công cộng của nhà nước đối với đất là đặc điểm nổi bật và luôn có điều kiện khách quan để tồn tại lâu dài. Đến thời kỳ thực dân Pháp xâm lược Việt Nam cho tới trước năm 1945, quan hệ ruộng đất mang đặc trưng của một nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến, phản ánh những lợi ích từ ruộng đất bị tác động bởi kết cấu giai cấp xã hội lúc đó.(5) 

Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam nhìn chung không theo một đường thẳng, mà diễn ra quanh co, thăng trầm khác nhau. Trong nhiều thập niên chiến tranh, ở miền Nam chế độ sở hữu đất đai chịu sự chi phối của chế độ thực dân mới, trong vùng chiến khu giải phóng vừa sản xuất, vừa kháng chiến; ở miền Bắc, giai đoạn 1954 - 1975, lợi ích của các chủ thể về đất đai rất đa dạng, nhưng đồng thuận với nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. 

Trong quá trình đổi mới thông qua những lần sửa đổi, hoàn thiện, Luật Đất đai đã và đang tháo gỡ dần những vướng mắc của chế độ sở hữu đất đai ở nước ta. Song, mâu thuẫn lớn nhất trong xử lý quan hệ sở hữu đất đai hiện nay là hệ thống lợi ích giữa chủ thể đại diện sở hữu toàn dân với các chủ thể chiếm hữu, sử dụng đất đai mà xét cho cùng, cần phải được xử lý một cách cơ bản, có bài bản. Khuynh hướng cho rằng chỉ có tư hữu hóa đất đai mới giải quyết được những bất cập trong quản lý, sử dụng đất đai hiện nay là một sai lầm nghiêm trọng. Vì, những tồn tại trong quan hệ đất đai những năm qua không phải bắt nguồn từ chế độ sở hữu, mà do nhiều nguyên nhân khác, như sự quản lý còn yếu kém của Nhà nước về đất đai, sự lạc hậu của các văn bản luật và dưới luật và đặc biệt là sự thực thi chính sách đất đai của các cấp và các nhà quản lý chưa tốt. Việc thay đổi chế độ sở hữu hiện nay nếu không cân nhắc cẩn thận rất có thể sẽ dẫn tới những hệ quả về kinh tế, chính trị xã hội không lường trước được. Điều chúng ta cần giải quyết là làm thế nào để trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, vẫn thực hiện được quyền chiếm hữu, sử dụng đất cho các chủ thể liên quan có lợi ích một cách hài hòa./.

--------------------------------

(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.16, tr. 346

(2), (3) V.I. Lê-nin: Sđd, t.16, tr. 349, 371

(4) Tham khảo thêm: Vũ Huy Phúc: Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979

(5) Tham khảo thêm: Phạm Xuân Nam: Phát triển nông thôn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997