Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ thường xuyên
Chỉnh đốn Đảng hay chỉnh Đảng là công việc thường xuyên trong xây dựng Đảng và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, nhằm tăng cường sức mạnh mọi mặt của Đảng và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, yếu kém, chữa trị những tật bệnh trong Đảng như quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vi phạm đạo đức, chủ nghĩa cá nhân, kiêu ngạo, vô kỷ luật, tham lam, lười biếng,… “Mục đích chỉnh Đảng là nâng cao tư tưởng và trình độ chính trị của đảng viên và cán bộ, làm cho đảng viên và cán bộ theo đúng quan điểm và lập trường vô sản”(2). Chỉnh Đảng là chỉnh đốn và tăng cường đội ngũ của Đảng. “Chỉnh Đảng phải có trọng tâm: chỉnh đốn tư tưởng rồi mới chỉnh đốn tổ chức. Chỉnh huấn cán bộ rồi mới chỉnh huấn toàn thể đảng viên”(3).
Sửa chữa khuyết điểm, ngăn chặn, đẩy lùi “bệnh tật” cũng là để Đảng mạnh lên, nâng cao sức đề kháng, để tự bảo vệ Đảng trước nguy cơ tha hóa và sự tiến công, phá hoại của các thế lực thù địch. Thực tế xây dựng Đảng, thực hiện sự lãnh đạo của Đảng cho thấy nếu không kịp thời sửa chữa khuyết điểm, “chữa trị bệnh tật” thì “Những tật bệnh đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để, Đảng xa rời dân chúng”(4). Các thế lực thù địch lợi dụng điều đó để phá hoại nội bộ Đảng, làm suy yếu và tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Họ ý thức rõ rằng, chỉ có thể đạt được tham vọng đó khi ngày càng làm cho Đảng Cộng sản suy yếu và thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng.
Để làm thất bại ý đồ và tham vọng của các thế lực thù địch, Đảng phải chăm lo xây dựng Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt, làm cho Đảng thật sự mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu như tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Đảng luôn luôn tự nhìn lại để thấy rõ ưu điểm, thành tựu và cả những khuyết điểm, yếu kém. Đó là yêu cầu và cũng là trách nhiệm của một Đảng chân chính cách mạng. Tự nhìn lại, tự đánh giá rất cần sự bình tĩnh, trung thực. Hồ Chí Minh cho rằng, trong Đảng có nhiều người, mỗi người lại có thói quen, tính nết, trình độ, tư tưởng, nhận xét khác nhau. “Có người thì cho rằng: trong Đảng việc gì cũng tốt, không có khuyết điểm gì đáng lo. Có người lại cho rằng: trong Đảng cái gì cũng kém, đầy những khuyết điểm, vì vậy mà họ bi quan, thất vọng. Hai cách nhận xét đó đều không đúng”(5). “Sự thật là: Đảng ta rất tiền tiến, rất vẻ vang. Nhưng nội bộ vẫn còn những sự sai lầm và khuyết điểm. Đồng thời, chúng ta thấy cái nguồn gốc của những sai lầm khuyết điểm đó, và chắc tìm được cách sửa chữa. Chúng ta quyết tâm công tác thêm, để làm cho Đảng tiến bộ thêm mãi”(6).
Thái độ trước sai lầm, khuyết điểm cũng có sự khác nhau. “Bọn phản động thì lợi dụng những khuyết điểm đó và tô vẽ thêm để phá hoại Đảng ta”. “Lợi dụng những sai lầm và khuyết điểm đó, để đạt mục đích tự tư tự lợi của họ. Đó là thái độ của đảng viên và cán bộ đầu cơ”(7). Có người “thì sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi. Không phê bình, không tự phê bình. Đó là thái độ của những đảng viên và cán bộ ươn hèn yếu ớt”. Có người lại có thái độ “đối với những người có khuyết điểm và sai lầm đó, như đối với hổ mang, thuồng luồng. Họ đòi phải đuổi bọn kia ra khỏi Đảng ngay. Nếu Đảng không làm như thế thì họ cho rằng: Thôi, hỏng hết rồi! Do đó, họ đâm ra chán nản, thất vọng. Hoặc họ không làm gì nữa hết. Thậm chí họ bỏ Đảng. Đó là thái độ những người máy móc quá. Đó cũng là bệnh “chủ quan””(8). Theo Hồ Chí Minh, thái độ đúng là phân tích rõ ràng cái gì đúng, cái gì sai, ra sức nâng cao những kiểu mẫu tốt, khéo phê bình và tự phê bình để giúp người khác sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, không để khuyết điểm phát triển thêm, đoàn kết bằng đấu tranh nội bộ và nâng cao kỷ luật, uy tín của Đảng.
Những dấu ấn sâu sắc về xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt đối với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong công cuộc đổi mới có những sự kiện ghi dấu ấn sâu sắc về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng và nói rõ sự thật, chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm về bệnh chủ quan, duy ý chí, nóng vội, chưa nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, lạc hậu về lý luận, chưa nắm bắt đúng thực tiễn đất nước dẫn đến những sai lầm, khuyết điểm trong chủ trương, chính sách, Đảng đã quyết tâm sửa chữa, đổi mới tư duy lý luận, nhận thức đúng đắn những đặc trưng, quy luật của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những đặc điểm riêng của Việt Nam để đi đến quyết định đường lối đổi mới, mở ra thời kỳ phát triển toàn diện của đất nước. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là xuất phát từ đổi mới tư duy lý luận, đổi mới đường lối, chính sách và đổi mới tổ chức, cán bộ, phong cách lãnh đạo.
Sự khủng hoảng và đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, dao động, mất lòng tin vào con đường xã hội chủ nghĩa. Chuyển sang cơ chế thị trường và mở cửa, cùng với mặt tích cực, những tác động tiêu cực cũng tăng lên. Không ít cán bộ, đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân, thực dụng cuốn hút trở nên thoái hóa, hư hỏng. Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3-1989), Đảng đã đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, bảo đảm cho đổi mới đúng định hướng, đặc biệt Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Để vượt qua thách thức và thực hiện Cương lĩnh, cần thiết phải tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (tháng 6-1992) đã ban hành nghị quyết Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, chú trọng những bài học về xây dựng Đảng: “Chống nguy cơ sai lầm về đường lối, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, sai lầm về lựa chọn và bố trí cán bộ, tệ quan liêu xa rời quần chúng”(9).
Thực hiện Cương lĩnh và đường lối đổi mới, đất nước không ngừng phát triển với những thành tựu to lớn, toàn diện, song cũng bộc lộ những thách thức, nguy cơ. Đó là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và những tệ nạn xã hội khác; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Hội nghị Trung ương 6 khóa VIII (lần 2, tháng 2-1999) đã ban hành nghị quyết về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng. Khi đó “trong Đảng đang bộc lộ một số yếu kém: sự suy thoái về tư tưởng chính trị; tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm, bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước chậm được củng cố và đổi mới”(10).
Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VIII (lần 2) đã được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng và đạt được một số kết quả nhất định. Tuy vậy, Đại hội X của Đảng (tháng 4-2006) cho rằng: “Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa tạo được chuyển biến cơ bản, chưa góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu”(11).
Thực tế cho thấy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được thực hiện thường xuyên, kiên trì với sự chỉ đạo chặt chẽ, nghiêm túc mới mang lại hiệu quả thiết thực nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Công cuộc đổi mới phát triển toàn diện, công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng càng đòi hỏi nâng cao vai trò lãnh đạo và trách nhiệm của Đảng cầm quyền.
Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) đã đề ra tám nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng: tăng cường xây dựng Đảng về chính trị; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận; rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân; tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị; kiện toàn tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên; đổi mới công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đó là những nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và phải thực hiện thường xuyên có hiệu quả.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay (tháng 1-2012) đã thẳng thắn nêu rõ: “Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”(12). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI nhấn mạnh 3 vấn đề cấp bách nhằm khắc phục yếu kém, khuyết điểm:
Một là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng.
Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Ba là, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Thực hiện có hiệu quả những vấn đề cấp bách đó sẽ tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam “thật sự là đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh”(13). Một Đảng cách mạng như thế chẳng những vai trò lãnh đạo, cầm quyền được củng cố vững chắc, chất lượng hiệu quả lãnh đạo được nâng cao mà sức chiến đấu, khả năng tự bảo vệ được tăng cường, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, chủ động phòng ngừa những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Trung ương đề ra bốn nhóm giải pháp, trong đó có giải pháp hàng đầu là tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên. Ở mọi thời kỳ cách mạng, tự phê bình và phê bình luôn luôn là quy luật phát triển của Đảng. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”(14).
Đảng Cộng sản lãnh đạo và cầm quyền phải mạnh thật sự, có sức chiến đấu cao. Sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên nền tảng tư tưởng vững chắc là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Dựa trên nền tảng tư tưởng, lý luận đã được khẳng định, Đảng không ngừng tổng kết thực tiễn, tổng kết những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan, giản đơn hoặc coi thường lý luận. Từ thực tiễn đổi mới, Đảng đã tổng kết những vấn đề lý luận làm cho nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn. Những vấn đề lý luận khác được tổng kết làm rõ: lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị; lý luận về văn hóa và con người Việt Nam; lý luận về thời đại và thế giới đương đại; lý luận về quốc phòng, an ninh và chiến lược bảo vệ Tổ quốc.
Sức mạnh của Đảng là ở Cương lĩnh chính trị, đường lối, chính sách đúng đắn với sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đường lối đổi mới đúng đắn là phản ánh yêu cầu phát triển khách quan của đất nước và dân tộc; đáp ứng nguyện vọng, lợi ích của nhân dân. Đảng không ngừng bổ sung, phát triển Cương lĩnh, kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc; luôn luôn nắm vững những nguyên tắc chỉ đạo đổi mới được đề ra từ tháng 3-1989, đồng thời hết sức linh hoạt, sáng tạo; chú trọng phòng và chống nguy cơ sai lầm về đường lối; coi trọng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên; kiên định mục tiêu, con đường đã lựa chọn; chủ động, bình tĩnh vượt qua khó khăn, thách thức; nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, thẳng thắn thừa nhận khuyết điểm, yếu kém để quyết tâm sửa chữa và giữ vững niềm tin vào con đường cách mạng, sự phát triển của đất nước và dân tộc.
Đảng cách mạng có sức mạnh thật sự là ở hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở và tính kỷ luật cao của Đảng. Đảng lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Xa rời nguyên tắc này là làm suy yếu Đảng, biến Đảng thành “câu lạc bộ”. Các thế lực thù địch luôn luôn tìm cách vô hiệu hóa và đòi Đảng từ bỏ nguyên tắc này. Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi gắn liền với tăng cường kỷ luật, bảo đảm sự vững mạnh của Đảng. Tổ chức Đảng mạnh nhờ vào chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về trình độ, năng lực, phẩm chất và đạo đức cách mạng. Do đó, mỗi tổ chức Đảng cần lựa chọn đúng đắn đội ngũ cán bộ và coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
Sự trong sạch của Đảng cần được nhận thức trên tất cả các phương diện chính trị, tư tưởng, tổ chức, đặc biệt là về đạo đức, phẩm chất, phong cách. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(15). Đảng được trang bị hệ tư tưởng, lý luận khoa học và cách mạng; có mục tiêu chính trị đúng đắn, rõ ràng, vì nước, vì dân; có tổ chức vững mạnh và kỷ luật nghiêm minh, có đạo đức cách mạng trong sáng, kiên quyết xử lý bằng kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước đối với những phần tử thoái hóa, biến chất, hư hỏng, làm hại lợi ích của đất nước và nhân dân bởi những hành vi quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có phong cách, phương thức lãnh đạo đúng đắn, gắn bó mật thiết với nhân dân, tất cả điều đó làm cho Đảng thật sự là Đảng cách mạng chân chính, Đảng cách mạng kiểu mới. Làm tốt những điều đó, uy tín của Đảng sẽ mãi mãi trong lòng dân và tấm gương của Đảng, của mỗi đảng viên, cán bộ sẽ trở thành kiểu mẫu.
Cần nhấn mạnh và nhận thức đúng đắn nội dung kiểu mẫu của Đảng, đó là một Đảng ở tầm cao trí tuệ, lý luận và đạo đức, mẫu mực về phẩm chất và bản lĩnh chính trị và thật sự là tấm gương về phong cách, lối sống trước quần chúng nhân dân. Kiểu mẫu ngay trong nội bộ Đảng, cấp trên với cấp dưới, cá nhân với tập thể, giữa đồng chí với nhau, sống trung thực, thẳng thắn, thương yêu đồng chí, có tình, có nghĩa. Kiểu mẫu trước nhân dân, sống trong sạch, khiêm tốn, giản dị, không tham nhũng, lãng phí, quan liêu, không tha hóa về đạo đức, lối sống, gắn bó mật thiết với nhân dân. Làm tốt công tác dân vận theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XI (tháng 5-2013), gần dân, tin dân, hiểu dân, bàn bạc với dân, có khuyết điểm thì nhận lỗi trước dân, vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Kiểu mẫu còn có ý nghĩa sâu xa là “dĩ công vi thượng” như mong muốn của Bác Hồ, nghĩa là đặt việc công, lợi ích chung của cách mạng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, suốt đời phấn đấu vì công việc và lợi ích chung đó, quét sạch chủ nghĩa cá nhân./.
-----------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 6, tr. 480
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 6, tr. 480
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 6, tr. 480
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 5, tr. 258
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 5, tr. 263
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 5, tr. 263
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 5, tr. 264
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 5, tr. 264
(9) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t. 52, tr. 189
(10) Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 24
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 268
(12) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr. 21 - 22
(13) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr. 27
(14) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 5, tr. 239
(15) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 12, tr. 510